Chương 5: Ngọn Lửa Trong Lò Gốm
Huyền Thoại Lục Thập Hoa Giáp
Mục lục
21 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 21/21 chương
Người chạy tin tên Rạ dẫn Thanh men
theo chân thành về phía nam.
Trời mới sáng nhưng con đường đã phủ một lớp tro mỏng. Mỗi
bước chân giẫm xuống đều để lại dấu xám trên đất ướt. Càng gần phường gốm, mùi
bùn sông càng nhường chỗ cho mùi rơm cháy, gỗ tươi và đất nung. Khói không bay
thành cột. Nó bò thấp qua mái nhà, quẩn trong những giàn phơi bát rồi tràn ra
đường như sương bẩn.
Rạ đi như chạy. Thanh cắn răng theo, cái gối đau nhói lên mỗi
lần bước hụt. Nàng chưa chợp mắt từ đêm canh gáo ở bến, và mùi khói làm đầu
nàng váng thêm.
“Lò nứt từ lúc nào?” nàng hỏi, hơi thở đứt quãng.
“Cuối canh đêm.”
“Sao đến giờ mới báo?”
Rạ bước nhanh hơn, không quay lại, như sợ nàng thấy mặt
mình.
“Lúc đầu chỉ nghe một tiếng nhỏ thôi. Thiết Lưu bảo trét lại
được. Đến khi vết nứt ăn qua vai lò, Thiết mới cho người đi gọi thợ đắp. Già Thị
Sên nghe chuyện, biết Công Thị đang ở bến nên giục tôi chạy tìm.”
“Trong lò có gì?”
“Một mẻ chum đựng giống, hai dãy vò của kho muối, với ba phiến
đất thử còn lại.”
“Có người ở trong không?”
Rạ khựng chân một nhịp.
“Không ai ở trong bụng lò.” Cậu nuốt khan. “Nhưng cửa lửa
thì phải có người giữ.”
Câu trả lời không làm Thanh nhẹ đi. Nàng nhìn hai cánh tay Rạ.
Lông trên cánh tay đã sém quăn, mu bàn tay có một vệt phồng mới nổi. Cậu ta đã
đứng ở cửa lửa ấy trước khi chạy đi tìm nàng.
Phường gốm hiện ra sau một hàng cây dầu. Những mái lò lớn
nhô lên khỏi dãy nhà thấp, tròn và sẫm như các gò đất. Lò đang gặp nạn nằm cuối
bãi, nửa chìm trong sườn gò. Quanh nó, hơn ba mươi người chạy qua chạy lại, người
gánh đất nhão, người chuyền củi, người kéo những vò nước từ giếng. Không ai đổ
nước vào lò. Nước chỉ dùng để nhào đất bịt vết nứt.
Sau các mái lò là bãi gỗ. Chạy ngang qua, Thanh vẫn kịp thấy
nó được chia ô như một khu rừng thu nhỏ: thân dầu thẳng để chống vòm, cành nhỏ
khô để đánh lửa, gỗ còn vỏ cho sức nóng bền, rễ cong cháy chậm giữ cho cuối mẻ.
Mỗi bó mang dấu của sườn đồi, người đốn và mùa hong. Có người đã xếp chỗ này rất
kỹ. Vậy mà quanh cái lò đang nứt, người ta đang vơ củi từ mọi ô, không kể bó
nào.
Vết nứt bắt đầu từ gần cửa lửa, chạy xiên lên vai lò rồi mất
hút dưới lớp khói. Đất trét mới trên miệng nứt đã khô trắng, co lại và rơi từng
mảng. Mỗi lần bên trong dội ra một tiếng ù, đường nứt lại nhả một sợi lửa mảnh.
Một người đàn ông mặc áo vải ngắn đã sẫm mồ hôi đứng sát cửa
lò. Tay áo ông được buộc gọn, tóc cháy cụt một bên, vùng da quanh cổ và vai đỏ
rực vì hơi nóng. Ông không nhìn Thanh khi nàng đến.
“Rạ! Thêm củi vào cửa đông, mau!”
Rạ vừa định chạy thì Thanh giữ tay cậu lại. Cậu ngập ngừng,
rồi nói với lên:
“Thiết Lưu, Công Thị từ bến về tới rồi.”
Người đàn ông quay sang. Mắt ông đỏ vì khói, nhưng giọng vẫn
chắc như đá.
“Công Thị đã đến thì xin đứng xem. Còn việc giữ lò, xin để
người trong phường lo.”
“Trưởng lò?”
“Tôi là Lưu.”
“Vết nứt đã qua vai rồi.” Thanh chỉ lên, không tin vào mắt
mình. “Sao còn cho thêm củi?”
Lưu nhìn nàng như nhìn một người vừa hỏi tại sao nước phải
chảy xuống thấp.
“Lửa tụt thì cả mẻ chết.”
“Còn nếu lò sập?”
“Thì chum chết trước.”
Thanh nghe rõ tiếng những người quanh đó im đi. Họ không ngừng
tay, nhưng ai cũng đang đợi xem nàng sẽ dùng địa vị ép trưởng lò hay lùi ra
ngoài. Nàng thấy cơn nóng nảy dâng lên cổ, và ghìm nó xuống. Nàng đã từng vội một
lần, với một bát hạt.
Nàng buông tay Rạ.
“Tôi không biết giữ lò,” nàng nói. “Tôi chỉ cần biết ai đang
nghe được nó.”
Lưu chỉ một bà lão ngồi dưới mái che cách lò hơn mười bước.
Bà có đôi mắt phủ một lớp đục mỏng, trước mặt đặt sáu thanh gỗ dài ngắn khác
nhau. Một đầu mỗi thanh tì xuống đất, đầu kia ghé gần tai bà.
“Già Thị Sên nghe lò,” Lưu nói. “Công Thị muốn hỏi gì thì hỏi
cho nhanh. Đến giữa buổi phải mở cửa thử.”
Thanh đến bên bà lão. Bà Sên không ngẩng đầu.
“Đừng đứng chắn gió.”
Thanh vội bước sang một bên.
“Già Thị đang nghe gì ạ?”
“Nghe một cái lò bị người ta cho ăn quá no.”
Lưu ở phía xa quát: “Cửa đông đang thiếu!”
Bà Sên nhếch miệng, nói đủ to cho ông nghe thấy:
“Miệng thiếu, bụng thừa. Lưu không biết nghe cho hết câu.”
Bà dúi vào tay Thanh thanh gỗ ngắn nhất.
“Đặt xuống đây.”
Thanh tì đầu thanh gỗ vào một phiến đá chôn nửa dưới đất.
Nàng ghé tai vào đầu còn lại. Thoạt đầu chỉ có tiếng người, tiếng gánh đất và
tiếng củi va nhau. Rồi dưới tất cả những âm ấy hiện ra một nhịp trầm, đều như
ai đập tay lên một chiếc chum lớn. Cứ sau bốn nhịp lại có một tiếng rít mảnh
kéo dài. Nàng rùng mình. Cái lò đang thở, và nó thở không đều.
“Tiếng rít là hơi qua vết nứt phải không ạ?”
“Một phần.”
“Còn phần kia?”
“Lửa đang trèo.”
Thanh bỏ thanh gỗ xuống, ngơ ngác.
“Lửa thì chỉ có bốc lên thôi chứ.”
“Một ngọn thì bốc. Nhiều ngọn thì phải giành đường.”
Bà Sên chỉ về phía bãi gỗ, ngón tay khô như rễ.
“Lửa đi theo con đường gỗ mở cho nó. Cành nào cũng muốn bắt
trước, thân nào cũng muốn giữ lâu. Xếp sai một lớp, đám cháy mạnh nhất chiếm hết
đường, như cây lớn xòe tán, ép những cây dưới nó chết tối.”
Bà dùng đầu ngón tay gõ lên mặt đất. Bà nói lò có bảy đường
lửa chạy từ ba cửa thấp, ôm quanh những chồng chum rồi gặp nhau dưới vòm. Nếu củi
được thêm đều, lửa chia nhau len qua các khoảng trống. Nếu một cửa bị thúc quá
mạnh, luồng nóng chiếm đường rộng, dồn các luồng còn lại sang vai lò. Chỗ đang
nứt chính là nơi hai đường lửa ép nhau tìm lối thoát.
“Trưởng lò có biết không ạ?”
“Lưu biết cái cách đã cứu ba mẻ trước.” Bà khịt mũi. “Ba mẻ
trước thì có xếp chum như mẻ này đâu.”
Thanh ghé nhìn qua lỗ xem lửa nhỏ ở thân lò. Bên trong chỉ
là một màu đỏ khiến mắt đau nhói. Nàng không thấy chum nào, càng không thấy được
những đường lửa vô hình bà Sên vừa tả.
“Già Thị biết cách xếp trong ấy ư? Bằng cách nào?”
“Tôi sờ từng đáy chum trước khi người ta bít cửa.”
“Có bản xếp lò không ạ?”
Bà Sên cười khàn.
“Có chứ. Nằm trong chân, trong vai, trong tai với mấy cái sẹo
bỏng của người làm.”
Thanh mở túi thẻ mang theo, rồi dừng lại. Nàng có thể ghi bảy
đường lửa, ba cửa thấp, bốn nhịp một tiếng rít. Nhưng những con số ấy chưa cho
nàng nghe được một cái lò. Nàng đã học điều ấy bằng một chiếc nia gãy.
“Già Thị dạy một người mới bằng cách nào?”
“Cho gánh củi.”
“Sau đó?”
“Cho chẻ củi.”
“Rồi ạ?”
“Cho đứng ngoài một mẻ, ngồi cạnh một mẻ, cháy lông mày ở mẻ
thứ ba.” Bà quay đôi mắt đục về phía nàng. “Sau ba mẻ mà vẫn chỉ biết hỏi ‘rồi
sao’ thì tôi đuổi.”
Thanh đỏ mặt, lặng lẽ cất thẻ đi.
Bà Sên nghe tiếng túi thẻ khép lại, và nét mặt bà dịu đi một
chút.
“Muốn biết lửa thì đừng ngồi đây mà hỏi.” Bà hất cằm về phía
các cửa lò. “Ra kia, tìm Dọi. Mậu ấy vụng miệng, nhưng tay thì biết.”
• • •
Giữa buổi, vết nứt dài thêm một gang tay.
Đất mới trét không còn bám. Lưu cho dựng một giàn chống bằng
những thân cây dầu còn tươi, đầu chèn vào vai lò. Nhựa cây gặp nóng sôi lên, chảy
thành những giọt trong rồi hóa đen. Người phường gốm khiêng thêm các thân khác
đến, chen kín quanh lò như một rừng cây bị đốn mà vẫn cố đứng.
Không thân nào đủ sức giữ vai lò một mình. Cây thẳng nhận lực
từ vòm, cây cong ghìm chân cây thẳng, những nêm gỗ nhỏ lấp khoảng trống và truyền
sức xuống đất. Chặt bỏ một cây tưởng là thừa có thể khiến ba cây còn lại cùng bật
gốc.
Từ lúc rời chỗ bà Sên, Thanh đã theo sát Dọi, một cô thợ trẻ,
gầy, lặng lẽ như cái bóng. Nghe nói bà Sên bảo, cô không hỏi lại nửa lời, chỉ
chùi tay vào áo rồi dẫn nàng đi qua từng cửa lửa. Dọi không biết cắt nghĩa màu
nóng bằng lời. Cô nhặt ba mảnh gốm, đặt cách cửa những khoảng khác nhau rồi hất
cằm bảo Thanh nhìn.
Mảnh gần nhất đỏ lên trước nhưng màu đỏ chạy loang. Mảnh ở
giữa nóng chậm, đều từ cạnh vào tâm. Mảnh xa nhất chỉ sẫm lại ở một đầu.
“Mẻ tốt thì giống mảnh nào?” Thanh hỏi.
Dọi chỉ mảnh ở giữa.
“Vì sao?”
Cô gái nghĩ, lắc đầu, môi mấp máy mà không ra tiếng. Rồi cô
nắm lấy bàn tay Thanh, kéo đến gần cửa lửa. Hơi nóng ép lên lòng bàn tay thành
từng đợt. Dọi đưa tay nàng từ trái sang phải. Ở giữa cửa, sức nóng mạnh nhưng
phẳng. Sát cạnh phải, nó giật từng cơn như hơi thở gấp.
“Chỗ này đang ăn củi,” Dọi nói.
Đó là câu dài nhất cô nói từ lúc Thanh đến.
Thanh nhìn các chồng củi, và nhớ tới những ô gỗ ngay ngắn
ngoài bãi. Ở đây chúng đã bị trộn lẫn. Củi ở cửa phải là những cành nhỏ, khô và
thẳng; củi ở cửa giữa to hơn, còn vỏ; cửa trái dùng gỗ cong lẫn rễ cây. Lưu đã
sai người gom mọi thứ cháy được vì muốn giữ mẻ. Nhưng mỗi thứ cho lửa một nhịp
khác nhau.
“Ai chia củi?”
“Trước đây là Già Thị Sên. Hai mùa nay là Thiết Lưu.”
“Trưởng lò chia sai?”
Dọi lập tức lùi nửa bước, mắt hoảng lên.
“Tôi không nói thế!”
“Nhưng Công Thị biết.”
Cô gái nhìn về phía trưởng lò. Hai bàn tay cô nắm vào nhau,
những bàn tay vừa cho Thanh thấy điều mà miệng cô không dám thốt.
“Biết không có nghĩa là được quyền ngắt tay người giữ lửa.”
Câu ấy Thanh đã nghe ở đâu rồi. Bên một căn lều cạnh lạch, từ
một bà già chống gậy: biết không có nghĩa là được nói.
Nàng nhìn quanh, và lần đầu thấy cái lò theo cách bà Sên
nghe nó. Quanh nó không chỉ có những đường nóng giành nhau. Còn có những tiếng
nói đang cố tìm đường tới người cầm lệnh. Lưu đứng ở cửa chính nên mọi lệnh đều
qua ông. Bà Sên nghe được phần dưới đất nhưng không còn quyền chia củi. Dọi cảm
lửa bằng bàn tay mà chỉ được chuyền đất. Rạ chạy nhanh nhất nên bị sai tới bất
cứ chỗ nào thiếu người, không ở đâu đủ lâu để học trọn một việc. Cái biết nằm rải
ở nhiều bàn tay, còn quyền định đoạt dồn cả vào một người. Lửa đi sai đường thì
nứt lò. Lời đi không tới nơi thì cũng thế.
Một tiếng nổ khô vang lên trong lò.
Mọi người cùng quay lại.
Từ lỗ xem lửa, một vệt sáng trắng lóe lên rồi tắt. Sau đó là
tiếng vật gì đổ liên tiếp, không lớn nhưng kéo dài.
Lưu nhắm mắt một thoáng. Mặt ông xám lại dưới lớp bồ hóng.
“Một chồng vò nghiêng rồi.”
Bà Sên chống tay đứng dậy.
“Không phải vò. Tầng kê phía đông gãy.”
“Già ngồi ngoài thì thấy được cái gì?” Lưu gắt, giọng vỡ ra
vì mệt và sợ.
“Tao nghe vật nhỏ rơi trước, vật lớn chạm sau. Vò mà nghiêng
thì miệng chạm nhau trước.” Bà gõ thanh gỗ xuống đất. “Tao dạy mày điều ấy từ hồi
mày còn chưa mọc râu!”
Lưu không đáp. Ông ghé lỗ nhìn, rồi bảo Rạ chuẩn bị mở cửa
thử.
Bà Sên quát:
“Mở lúc này thì gió lùa thẳng vào chỗ gãy. Lửa nó xuyên lên
vai ngay!”
“Không mở thì làm sao biết vật thử còn nguyên không!”
Thanh chen vào giữa hai người.
“Ba phiến đất thử ấy rốt cuộc là gì, mà trưởng lò liều cả
cái lò vì chúng?”
Lưu nhìn nàng. Lần đầu tiên vẻ cứng rắn trên mặt ông lay động.
“Mười hai phiến đất lấy từ nền một nhà cũ bên bãi nam.” Ông
nói chậm, như kể về người thân. “Nung đúng lửa thì dấu chìm mới hiện. Chín phiến
đã vỡ trong các lần thử trước. Vỡ trong tay tôi cả.” Ông nhìn xuống hai bàn tay
bỏng đỏ của mình. “Mẻ này còn ba.”
Thanh mở lớp vải, đưa mảnh gốm ba màu cho Lưu nhìn, tay hơi
run.
“Dấu giống mảnh ở chân cầu này?”
“Cùng ba lớp màu. Người của nhà giữ giống nói có thể dính tới
thứ Công Thị đang tìm.”
Đó là lý do họ không chịu dừng.
Không chỉ vì chum, vò hay công sức cả phường. Trong bụng lò
đang có ba vật có thể mang đúng thứ dấu mà Thanh đã lần theo từ nhà giữ giống đến
bến cũ. Nếu chúng sống qua mẻ nung, nàng có thể nhìn thấy một cách tạo dấu mà
những người chép thẻ không biết. Nếu tắt lò lúc này, đất đang nung dở sẽ co
không đều; dấu chưa hiện, phiến thử có thể cong hoặc vỡ vụn.
Nàng đến sát lỗ xem lửa. Qua khe hẹp, giữa những thân chum đỏ
rực, nàng thấy trên một bệ thấp có ba vật mỏng dựng nghiêng. Một phiến đã cong.
Hai phiến còn lại tối hơn phần xung quanh, như đang giữ trong mình một màu chưa
chịu lộ. Tim nàng thắt lại. Chúng ở gần đến thế.
Lưu nói, gần như van:
“Chỉ cần giữ thêm đến khi nắng đứng bóng thôi.”
Bà Sên đáp:
“Vai lò không giữ được đến lúc ấy.”
“Hạ lửa thì mọi thứ chết ngay!”
“Giữ lửa thì có người chết cùng.”
Những người đang chuyền đất chậm tay. Không ai bỏ chỗ. Họ đã
làm quanh chiếc lò này từ nhỏ, đã sống nhờ những mẻ nung thành công và trả nợ bằng
những mùa lửa hỏng. Với họ, bỏ một mẻ không đơn giản là để mất đồ. Đó có thể là
kho giống thiếu chum trước mùa mưa, kho muối thiếu vò, cả phường phải gánh phần
đất và củi đã vay.
Thanh hỏi Lưu:
“Nếu giữ thêm, trưởng lò cần ai ở lại?”
“Tôi, Rạ, Dọi và bốn người cửa lửa.”
“Nếu vai lò sập?”
“Chúng tôi chạy.”
Bà Sên nhổ xuống đất.
“Lửa chạy nhanh hơn chân.”
Lưu quay sang Thanh. Ông không còn gắt nữa. Ông nói như người
đặt nốt món cuối cùng mình có lên chiếu.
“Công Thị đến đây tìm cái biết của người xưa. Ba phiến kia
có thể chính là thứ Công Thị cần.” Giọng ông khàn đi. “Xin đừng mượn một vết nứt
mà bắt cả phường tự tay chôn nó.”
Thanh cảm thấy mảnh gốm bọc trong vải đang cấn vào hông. Khi
ở nhà giữ giống, nàng đã trách người lập sổ vì bỏ đi những nút dây. Ở bến cũ,
nàng đã xin giữ lại lời của người canh gáo. Nếu bây giờ ép hạ lửa, chính nàng
có thể là người làm mất một dấu vết không bao giờ tạo lại được.
Nhưng trước mặt nàng là Rạ với cánh tay phồng rộp, Dọi với
đôi bàn tay biết điều miệng không được phép nói, và những người đang chống cả
thân mình vào các cây dầu tươi.
Hơi nóng táp khô môi Thanh, nhưng lòng bàn tay nàng lại lạnh.
Nếu nàng chần chừ, một tiếng sập đủ chôn những người đang nhìn nàng chờ một lời.
Lần đầu tiên từ khi bước vào phường gốm, nàng sợ mình sẽ nói chậm hơn ngọn lửa.
Nàng quay sang bà Sên, giọng gấp:
“Già Thị ơi, có cách nào cứu người mà không phải dập cả lò
không?”
Bà lão nghiêng đầu nghe. Nhịp trầm dưới đất đã nhanh hơn. Tiếng
rít không còn đến sau bốn nhịp; nó chen vào giữa nhịp thứ ba.
“Mở đường cho lửa thoát lên ống sau,” bà nói. “Bỏ cửa đông,
kéo hết người khỏi vai lò. Lửa sẽ yếu ở chỗ đặt vật thử. Có thể mất chúng.” Bà
ngừng một nhịp. “Nhưng lò chưa chắc sập. Chum tầng dưới may ra còn giữ được.”
Lưu lắc đầu quầy quậy.
“Ống sau bị bịt từ ba mùa trước rồi. Muốn mở phải phá lớp
vòm phụ!”
“Thì phá.”
“Mẻ này sẽ không đủ lửa!”
Thanh nhìn thẳng vào Lưu.
“Trưởng lò vừa nói hạ lửa thì mọi thứ chết. Già Thị Sên lại
nói mở ống sau có thể giữ được lò và cứu phần chum ở dưới.” Nàng nói chậm, rõ từng
tiếng. “Hai điều ấy không giống nhau.”
Lưu siết hàm.
“Công Thị muốn tôi tự tay bỏ ba phiến?”
“Tôi muốn trưởng lò kéo người ra.”
“Công Thị không có quyền giữ lò!”
“Đúng. Tôi không có.” Giọng nàng run lên, nhưng nàng không
lùi. “Tôi cũng không có quyền coi mạng người trong phường là cái giá phải trả
cho thứ tôi đang tìm. Ba phiến ấy là tôi cần, không phải họ. Tôi không cần
chúng đến thế.”
Nói ra được câu ấy, nàng mới biết nó thật.
Nàng quay sang Rạ và Dọi.
“Hai người rời cửa lửa đi. Báo mọi người tránh khỏi vai lò.
Có ai biết ống sau nằm chỗ nào không?”
Dọi giơ tay.
Lưu bước lên chặn trước mặt cô.
“Tao chưa cho phép.”
Dọi đứng yên. Khói làm nước mắt chảy trên má cô, nhưng lần
này cô không lùi. Cả đời cô chưa cãi trưởng lò một tiếng.
“Thiết Lưu,” cô nói, và tiếng cô bật ra to hơn chính cô tưởng,
“từ lúc tiếng rít đổi nhịp, cửa đông không còn ăn củi nữa. Nó đang phun ngược.
Thiết đứng ở cửa chính nên không thấy!”
Rạ nói tiếp ngay, như sợ để lỡ thì không dám nói nữa:
“Lúc Ấu chui xuống lấy tro, đất dưới ống sau còn nóng lắm.
Chưa bịt chết hẳn đâu, Thiết ạ.”
Một người thợ lớn tuổi ở hàng chuyền đất lên tiếng: “Tôi có
búa đá.”
Rồi một người khác bảo biết lớp vòm phụ mỏng ở đâu.
Những lời bị nén từ đầu mẻ giờ bật ra từ nhiều phía. Lưu
nhìn quanh. Dọi biết luồng lửa, Rạ biết khe tro, một người có búa, một người biết
vòm phụ. Lệnh không còn chỉ đi từ miệng ông xuống những bàn tay khác.
Ông quay mặt về lò, nghe một tiếng rạn dài chạy qua vòm. Vai
ông sụp xuống.
“Kéo người,” ông nói.
• • •
Bà Sên chỉ hướng luồng lửa sẽ phụt. Mọi người dọn sạch khoảng
đất sau ống; người cầm búa đứng nép sang mép vòm rồi mới nện. Họ mở ống sau bằng
sáu nhát.
Nhát thứ nhất làm đất tróc. Nhát thứ hai lộ lớp gạch cũ.
Nhát thứ ba khiến lò rung, tất cả cùng lùi. Thanh nghe tiếng tim mình còn to
hơn tiếng búa. Đến nhát thứ sáu, một luồng lửa phụt khỏi lỗ vừa phá, dài quá đầu
người. Nó cuốn tro, mảnh đất và lá khô lên trời. Mấy cây dầu gần đó cháy xém một
phía, chim trong tán đồng loạt bay khỏi bãi.
Sức ép trong vai lò nhẹ đi gần như ngay lập tức. Tiếng rít tắt,
nhưng những thanh chống vẫn kêu cót két. Lưu ra hiệu đóng cửa đông. Bà Sên đợi
luồng lửa sau ống ngắn xuống, rồi mới phất tay cho Dọi và Rạ áp vào từ phía khuất
gió. Hai người dùng đất ướt lấp khe, lập tức lùi khỏi vùng nóng.
Một đoạn vai lò sụp xuống sau họ.
Đất nung vỡ tung, lộ một khoang đỏ quạch. Hai cây chống gãy,
đầu cháy sáng như đuốc. Không ai đứng dưới đó.
Thanh nhìn chỗ đất vừa sập. Chỉ mấy hơi thở trước, Rạ còn đứng
đúng ở đấy. Chân nàng mềm ra, phải vịn vào cột mái che.
Lửa thoát qua ống sau suốt một lúc rồi ngắn dần. Mẻ nung
không tắt hẳn, nhưng sức nóng đã rời khỏi tầng đặt vật thử. Qua lỗ xem lửa,
Thanh thấy bệ thấp nghiêng xuống. Một phiến đất rơi vào than. Hai phiến còn lại
bị mảnh vòm phủ kín.
Nàng nhắm mắt lại. Nàng đã tự tay chọn điều này, và nó vẫn
đau.
Lưu ngồi phệt xuống đất.
Không ai nói với ông rằng lựa chọn vừa rồi là đúng. Những
chum ở tầng dưới có thể còn dùng được, nhưng mẻ vò kho muối đã hỏng quá nửa. Ba
phiến thử gần như mất chắc. Cái giá hiện ra trước mắt, còn những mạng người được
giữ lại vẫn đang đứng đó nên dễ bị coi như chưa từng gặp nguy.
Thanh đến bên ông.
“Tôi sẽ ghi rõ chính tôi đã thúc mở ống sau.”
Lưu cười mệt, không ngẩng lên.
“Ghi thế thì kho có trả lại củi cho chúng tôi không?”
“Không.”
“Có xóa được nợ chum không?”
“...Không.”
“Vậy thì đừng lấy một hàng chữ mà nhận hết phần của những
người đã đập vòm.”
Thanh im lặng. Nàng tưởng nhận lỗi về mình là việc tử tế nhất
có thể làm. Ông vừa cho nàng thấy đó cũng là một cách lấy đi.
Lưu chống hai tay lên gối.
“Công Thị chọn cứu người. Tôi không trách.” Ông nhìn ra những
người thợ đang ngồi thở quanh lò. “Nhưng người sống rồi thì vẫn phải ăn, phải
trả đất, trả củi. Nếu muốn ghi, xin ghi cả điều ấy.”
“Tôi sẽ ghi. Đủ cả.”
“Và ghi rằng tôi đã nghe Già Thị Sên nói mà không chịu tin.”
Bà Sên đứng sau lưng họ từ lúc nào.
“Chưa cần ghi. Mẻ sau mày nghe là được.”
Lưu quay lại. Bà lão chìa cho ông thanh gỗ ngắn nhất.
Ông nhìn nó một lúc lâu, rồi đưa cả hai tay ra nhận.
• • •
Đến chiều, thân lò đủ nguội để người ta lại gần nhưng chưa
thể mở.
Phường gốm không giải tán. Họ dựng mái che mới, phân người
canh lửa tàn và đếm số chum có thể cứu. Dọi dùng than vạch cách xếp mẻ lên một
tấm ván. Rạ mang củi từ các ô ngoài bãi vào, đặt cạnh mỗi cửa một bó mẫu: cành
nhỏ, thân vừa, rễ cong, gỗ còn vỏ. Bà Sên không cho họ ghi “củi” chung một tên.
Thanh ngồi giữa họ, lần này mới mở túi thẻ.
Nàng không bắt đầu bằng ba phiến đất vẫn chưa thể lấy ra khỏi
lò. Nàng ghi tên từng người đã nghe thấy một phần của cái lò.
Bà Sên nghe nhịp dưới nền.
Dọi cảm luồng nóng ở mép cửa.
Rạ biết các khe tro và đường ống thấp.
Người chẻ củi biết loại nào cháy bùng, loại nào giữ than.
Người xếp chum biết khoảng trống nào phải để lại cho lửa đi.
Lưu biết lúc nào cả phường có thể chịu mất một mẻ và lúc nào
không.
Không ai trong số họ biết trọn chiếc lò. Điều giữ được lò
không nằm trong một người, càng không nằm trong một hàng chữ. Nó nằm trong việc
những phần hiểu biết rời nhau có thể truyền tới đúng người trước khi tai họa vượt
khỏi tầm cứu chữa.
Thanh không ghi điều ấy thành lời. Nàng chỉ vẽ các đường nối
giữa từng việc, rồi hỏi mọi người xem chỗ nào còn thiếu.
Lưu nhìn bản vẽ rất lâu.
“Trước đây, tên trưởng lò đặt ở chỗ mọi đường cùng dồn tới,”
ông nói.
“Nếu mọi đường cùng dồn tới chỗ trưởng lò thì lời nào cũng
phải qua trưởng lò.”
“Chứ không phải thế sao?”
Ông hỏi thật, không phải cãi. Dọi nhìn ông, rồi rụt rè lấy một
mẩu than, vẽ thêm đường từ cửa đông đến chỗ bà Sên ngồi.
“Tiếng ở đây đến tai Già Thị trước khi Thiết nghe.”
Rạ vẽ đường từ khe tro sang người chẻ củi. Người biết vòm phụ
vẽ thêm chỗ lớp vòm mỏng. Những đường than dần không còn dồn cả vào chỗ trưởng
lò. Chúng tỏa sang những người nghe lò, giữ cửa, chẻ củi và xếp chum; mỗi người
nhận một đường rồi nối sang người khác.
Khi Hùng đến, nắng đã lệch khỏi bãi. Chàng đi thẳng từ bến
cũ sang, chưa kịp ghé bờ bắc. Chàng dừng trước phần vai lò sập, nhìn các thân
cây chống cháy dở, và mặt chàng biến sắc. Chàng quay phắt đi tìm, rồi thấy
Thanh. Tro bám từ tóc xuống tận gấu áo nàng.
“Bậu!” Chàng bước vội tới. “Bậu có sao không? Có bị thương ở
đâu không?”
“Không. Qua không sao.”
Vai Hùng hạ xuống rất khẽ. Chàng nhìn vệt tro trên tóc và gấu
áo nàng thêm một lần nữa, như chỉ đến lúc ấy mới dám tin câu trả lời.
Thanh kể vắn tắt: ba phiến đất thử trong bụng lò, và cái ống
sau nàng đã thúc người ta mở.
Một lúc sau chàng mới hỏi:
“Còn vật thử?”
“Có lẽ mất rồi.”
Nàng nói đều đều, nhưng không nhìn chàng. Hùng không hỏi tại
sao nàng không cứu nó. Chàng đã nhìn thấy đoạn vai lò sập. Chàng ngồi xuống cạnh
nàng, bên tấm ván đầy nét than. Chàng mở miệng định nói một điều gì, nhìn những
người đang cúi quanh tấm ván, rồi thôi.
“Đây là đường lửa?”
“Một phần. Còn là đường mà một lời báo nguy phải đi qua trước
khi có người chịu nghe.”
Hùng nhìn Lưu đang ghé tai vào thanh gỗ của bà Sên.
“Bậu tìm được cách đọc dấu lửa chưa?”
“Chưa đọc được dấu trên phiến đất.” Thanh chỉ những người
quanh lò. “Nhưng qua đã biết vì sao không thể cứ mang một mảnh nung về rồi ngồi
đoán. Dấu lửa không do lửa một mình tạo ra. Nó do cách xếp, loại củi, đường
gió, và những bàn tay biết lúc nào phải ngừng.”
Nàng mở lớp vải, đưa mảnh gốm lấy từ chân cầu cho Dọi. Dọi
gõ vào hai đầu, rồi chuyển cho bà Sên. Bà lão áp nó lên mặt ván, gõ lại ba lần.
“Mặt đỏ gặp lửa thẳng,” bà nói. “Lớp đen bị ngạt giữa chừng.
Mặt xám nằm sau một vật khác.”
Thanh ngồi thẳng dậy.
“Có làm lại được không, Già Thị?”
“Thử thì được. Không chắc giống.”
“Có cần ba phiến cũ không ạ?”
“Có thì tốt. Không có thì đất vẫn còn, người vẫn còn, lò vẫn
còn một nửa.”
Lưu nghe vậy, khép mắt.
Lần đầu từ lúc vai lò sập, ông thở ra mà không giống người vừa
mất tất cả.
Đêm xuống, lửa trong lò chỉ còn ánh đỏ âm ỉ. Ba phiến đất
chưa được lấy ra. Không ai biết chúng còn nguyên hay đã vỡ. Thanh để khoảng trống
ấy trên thẻ, không viết “mất”, cũng không viết “còn”.
Trước khi rời phường gốm, nàng nghe Dọi dạy Rạ phân biệt hai
nhịp nóng bằng cách đưa bàn tay qua mép cửa đã nguội. Cô gái gần như không biết
nói ấy giờ đang nói, từng câu ngắn, vụng về mà chắc. Lưu ngồi bên bà Sên, thanh
gỗ áp vào tai. Những người khác tiếp tục thêm nét lên tấm ván, không ai xóa phần
của ai.
Phía sau họ, lò nứt thỉnh thoảng phát ra một tiếng co nhỏ.
Dưới mái che mới dựng, giàn chống vẫn ôm lấy phần vai lò còn nguyên.
Trên đường về, Hùng hỏi:
“Nếu ba phiến còn nguyên, bậu sẽ mang chúng đi chứ?”
“Không.”
“Vì sao?”
“Qua sẽ để chúng được mở ngay tại lò, trước mặt những người
biết chúng đã đi qua thứ lửa nào.” Nàng im một lúc. “Sáng nay qua suýt nữa thì
quên mất điều ấy, bậu ạ. Qua đã nhìn ba phiến đất qua cái lỗ kia và muốn chúng
đến mức sợ chính mình.”
Hùng không nói gì. Chàng chỉ đi chậm lại cho vừa bước chân
khập khiễng của nàng. Hai người đi một quãng trong im lặng.
Đi gần hết con đường, Hùng mới nói ra điều chàng đã giữ từ
lúc đến bãi gốm. Giọng chàng khàn vì mệt, áo còn vương mùi khói.
“Sáng mai chúng ta phải vào đình Kinh. Kinh đã cho gọi, sau
khi nhận tin về đường nước dưới kho.”
Thanh nhìn lại vệt khói còn nằm trên bãi gốm. Hai cánh tay
nàng nặng như vẫn còn giữ sức nóng của chiếc lò.
“Bậu sẽ đem điều gì vào chầu?”
“Những điều đã thấy. Cả những chỗ vẫn chưa biết.” Hùng khép
tay quanh cuộn vải vẽ ba dấu trong áo. “Nếu ở đó người ta chỉ hỏi một lời đáp,
thì qua cũng chưa có để dâng.”
“Vậy càng phải nói cho rõ vì sao chưa có.”
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.