Huyền Thoại Lục Thập Hoa Giáp

Chương 14: Cái Bẫy Trên Sườn Đá

Đăng: 29/10/2026 14:07 6,659 từ 1 lượt đọc

Tánh thức trước tiếng gà bờ Tây Lau.

Nó bật dậy khỏi tấm chiếu trải dưới mái kho, quờ tìm vòng dây ông Còng cho mượn rồi mới nhớ mình vẫn đeo nó trên cổ tay. Cái thẻ trắng lạnh sương. Ngoài bến, lửa thứ hai đã tàn gần hết. Một người Đông Đá đang cúi che than bằng tro để giữ tới tối. Người ấy làm rất chậm, như thể chỉ cần mạnh tay hơn một chút, hơi nóng cuối cùng sẽ bị dập mất.

Tánh nhìn một lát. Nó nhặt một cục than còn đỏ lõi lăn ra ngoài mép tro, bọc vào hai lớp lá, nhét túi áo. Tối nay nướng cá. Rồi nó chạy đi tìm đường.

Khi Hùng tỉnh dậy, nó đã trở về với tóc đầy lá khô và một vệt bùn kéo từ đầu gối xuống mắt cá, trùm lên cả lớp lá Bách buộc ở ống chân.

“Địa xem rồi,” nó nói ngay. “Đi được.”

Vịnh đang chia sáu túi gạo thành những bọc nhỏ, không hề ngẩng đầu.

“Mày xem tới đâu?”

“Tới cửa dốc.”

“Cửa dốc chưa phải sườn.”

“Nhìn từ đó thấy hết.”

“Mày có mắt chim à?”

Tánh ngồi xuống trước mặt Vịnh. “Đường khô. Đá không trôi. Dấu thú cũ hết rồi.”

“Còn bẫy?”

Nó chạm ngón tay vào cái thẻ trắng. “Tôi biết nhìn.”

Vịnh buộc nút cuối cùng, giật thử hai lần. “Ta hỏi mày có thấy bẫy không.”

“Không thấy.”

“Không thấy vì không có, hay vì chưa đi tới?”

Tánh mím môi.

Thanh đang giúp Bách thay nước lá cho người lính sốt, nghe tới đó liền ngẩng lên. Người lính ấy tên Du. Sau một đêm, cơn sốt chưa lui; anh ta ngồi tựa cột kho, tự thắt lấy dây lưng, thắt hỏng hai lần mà không cho ai làm hộ. Người lính còn lại, Hựu, đang mài dao vào đá bến, thỉnh thoảng liếc sang bạn.

Hùng bước ra khỏi mái kho, nhìn lớp mây thấp mắc trên sườn núi.

“Cư Vịnh đi xem cửa đường,” chàng nói. “Tôi đi cùng.”

Tánh đứng phắt dậy. “Địa dẫn.”

“Mày chỉ chỗ. Cư Vịnh xem.”

“Địa vừa xem rồi.”

“Vậy đi lần nữa không mất gì.”

Nó muốn nói mất mặt, nhưng biết nói ra sẽ càng mất mặt hơn. Nó đá một viên sỏi xuống bến rồi đi trước.

• • •

Đường tới sườn Đá Mèo bắt đầu từ một bãi lau mọc cao quá đầu người. Sương sớm đọng trên lá quất vào vai áo lạnh buốt. Tánh lách qua một chỗ gần như không có lối. Hùng phải nghiêng người mới tránh được các ngọn lau cứa vào mặt. Vịnh không nhìn theo lưng Tánh mà chỉ nhìn đất.

Qua bãi lau là một khe đất đỏ. Hai bên vách có rễ cây lộ ra như những ngón tay bấu vào đá. Tánh bước nhanh, thỉnh thoảng quay lại giục bằng ánh mắt. Vịnh cứ đi được mười bước lại dừng, dùng đầu sào gạt lá mục.

“Nếu đi kiểu này,” Tánh càu nhàu, “đến tối vẫn chưa qua.”

“Còn đi kiểu mày, có khi trước trưa đã xuống chân núi bằng đầu.”

Hùng giấu một nụ cười. Tánh thấy được, càng đi nhanh hơn.

Tới cửa dốc, Vịnh giữ vai nó lại.

Trước mặt họ, sườn núi nghiêng về phía vực cạn. Con đường chỉ là một dải đất lẫn đá chạy dưới vách, nhiều chỗ vừa đủ đặt ngang một bàn chân. Phía dưới không sâu đến mức nhìn không thấy đáy, nhưng đủ để làm gãy cổ bất kỳ ai ngã xuống. Cây thấp mọc chằng chịt, cành cong vì gió.

Vịnh quỳ xuống cạnh một hòn đá có rêu bị xước.

“Dấu mới.”

Tánh cúi nhìn. “Dê rừng.”

“Dê không dùng dao cắt dây leo.”

Vịnh kéo từ bụi cỏ ra một đoạn dây mây đã bị chặt, đầu cắt còn sáng. Gần đó có vết chân người, mũi bàn chân xoay ngang để bám dốc.

Hùng hỏi: “Thợ săn?”

“Có thể.” Vịnh nhìn Tánh. “Mày nói dấu cũ hết rồi.”

“Tôi không thấy cái này.”

“Vì mày chưa tới đây.”

Nó im.

Vịnh đi thêm một quãng ngắn rồi tìm thấy hai cọc gỗ nhỏ đã nhổ khỏi đất, lá khô được kéo phủ lên một hố cũ. Bẫy không còn sập được nữa, nhưng người đặt bẫy mới rời chưa lâu.

“Đường đi được,” Vịnh nói, “nếu đi hàng một, người sốt có dây giữ, và người biết bẫy đi trước. Nhưng trời phải không mưa. Đoàn phải qua khỏi đoạn vách trước giữa trưa.”

Hùng nhìn mây. “Có kịp không?”

“Nếu lên đường ngay.”

Tánh ngẩng phắt đầu, vẻ đắc thắng vừa ló ra.

Vịnh nói tiếp: “Mày đi giữa. Không đi đầu.”

Vẻ đắc thắng tắt ngay.

“Đường của tôi.”

“Vì là đường của mày nên mày đã giấu điều chưa biết.”

“Tôi chỉ...”

“Mày chỉ muốn người ta phải dùng đường của mày.”

Tánh đỏ mặt. Nó quay đi, nhưng Hùng gọi lại.

“Nếu còn điều gì chưa nói, nói bây giờ.”

“Không còn.”

“Nghĩ kỹ.”

“Không còn.”

Hùng nhìn nó thêm một nhịp. Chàng thấy cái gáy cứng lại của đứa trẻ, thấy cả bàn chân nó di di trên đất như hôm qua xóa nét vẽ. Chàng biết có điều gì đó chưa được nói. Nhưng sau lưng chàng là một người sốt và sáu túi gạo, trước mặt là một con đường ngắn hơn hai ngày. Chàng không ép thêm.

Chàng để Vịnh quyết đoàn sẽ đi, rồi cùng họ trở lại bến.

Không ai thấy Tánh ngoái nhìn một nhánh đường nhỏ rẽ lên cao, nơi cỏ bị ép xuống thành một vệt mảnh. Nó biết vệt ấy. Mùa khô năm trước, nó từng dùng lối đó để vòng qua đoạn vách. Nó cũng biết trên ấy có bẫy lợn rừng.

Nhưng bẫy năm trước hẳn đã mục.

Hẳn thế.

• • •

Đoàn rời bến khi hơi sương còn chưa tan khỏi mặt nước.

Họ chỉ có bảy người và những gì mang được trên lưng: mấy bọc gạo nhỏ, vò muối, túi thuốc của Bách, ống thẻ của Thanh, dây, dao, cá khô và củ nước. Du nhất định tự đi. Bách không cãi, chỉ buộc một vòng dây quanh ngực anh ta, đầu dây quấn vào cổ tay mình.

“Tôi đâu phải trâu,” Du nói, giọng rè.

“Trâu thì ta đã cho đi trước,” Bách đáp.

Bà Linh chèo thuyền tới tận cửa lạch. Bà đưa Thanh một gói cá khô nhỏ.

“Không nhiều.”

“Hôm qua Cư đã cho rồi.”

“Hôm qua là phần cảm ơn vì nghe. Hôm nay là phần cho người sốt.”

Thanh nhận. “Tôi sẽ ghi...”

Bà Linh cau mặt. “Cái gì cũng ghi à?”

Thanh khựng lại, rồi bật cười. “Không. Tôi sẽ nhớ.”

“Vậy được.”

Ông Còng ngồi sau mui, không nhìn Tánh. Chỉ khi thuyền quay đầu, ông mới giơ bàn tay lên. Tánh giơ cổ tay có vòng dây đáp lại, giơ cao hơn cần thiết.

Lên khỏi bãi lau, Vịnh xếp đoàn thành một hàng rồi đi đầu cùng Hựu, người từng theo thợ săn mấy mùa trước khi vào lính. Hùng đi sau hai người. Tánh bị đặt giữa hàng. Sau nó là Du với sợi dây ngực trong tay Bách. Thanh khóa đuôi, chống một cành cây làm gậy cho cái gối.

Tánh chịu được chỗ ấy chưa đầy một khắc.

“Từ đây lên có một hòn đá giống đầu trâu,” nó nói với Du. “Qua đó phải đi sát vách.”

Du gật.

“Rồi có cây bị sét đánh. Đừng bước bên rễ trái.”

“Ừ.”

“Có một chỗ nhìn xuống thấy cả hai bờ.”

“Ừ.”

Tánh quay lại. “Can Du chỉ biết nói ừ à?”

“Ta đang sốt. Ừ là hết sức của ta rồi.” Du thở một hơi. “Mà Cư Vịnh bảo mày đi giữa, không bảo ta cãi với mày.”

Bách bật cười sau lưng. Tánh quay phắt lên, giả vờ không nghe.

Đường dốc dần. Tiếng bến sông mất sau lưng, thay bằng tiếng sỏi trượt dưới chân và tiếng thở nặng của Du. Mây không dày thêm, nhưng nắng cũng không xuyên xuống được. Không khí dưới vách lạnh. Chỉ những chỗ người đứng sát nhau mới có chút hơi ấm.

Vịnh dừng ở mỗi dấu lạ. Có khi chỉ là một cành cây gãy do thú đi qua. Có khi Hựu chỉ cho Vịnh một nút dây mây bị bỏ dưới lá. Tánh nhìn từ phía sau, lần nào cũng nhận ra chậm hơn hai người một nhịp. Mỗi lần như vậy, vai nó lại căng lên.

Tới hòn đá đầu trâu, đoàn phải dừng.

Mặt đá trơn nghiêng ra phía vực. Du đặt một chân lên rồi đứng sững. Cơn sốt làm mắt anh ta hoa đi; cái vực bên dưới cứ dâng lên rồi lùi xuống. Bách ghì dây, bảo bước. Du không bước được. Mồ hôi lạnh túa ra trên trán người lính từng lội giữa dòng xiết mà đóng cọc.

“Tôi không... thấy chân mình,” anh ta nói, và nỗi xấu hổ trong giọng còn nặng hơn cơn sốt.

Tánh len xuống.

“Đừng nhìn. Nhắm mắt lại.”

Bách nhìn Vịnh. Vịnh gật.

Tánh cởi dải vải quấn đầu, buộc ngang mắt Du, rồi đặt hai bàn tay người lính lên vai mình. Nó không nói gì thêm, chỉ đứng yên cho tới khi nhịp thở trên đầu nó chậm lại.

“Bước đi,” nó nói nhỏ. “Đá không ăn Can đâu. Chân Địa ở đâu, chân Can ở đó.”

Du nhấc chân.

Tánh đi lùi trước mặt anh ta, từng bước ngắn, gót dò đá trước khi đặt xuống. Qua khỏi phiến đá, cả đoàn cùng thở ra. Nó tháo dải vải, vênh mặt nhìn Vịnh.

Vịnh nói: “Làm được.”

Chỉ hai chữ ấy khiến nó cười suốt một quãng.

Thanh nhìn nụ cười ấy từ cuối hàng. Nàng đã xin cho nó đi tới sông, và sáng nay nàng mừng vì đã xin. Về sau nàng sẽ nhớ mãi rằng mình đã mừng đúng vào lúc ấy.

• • •

Qua giữa buổi, họ tới đoạn cây sét đánh. Một nửa thân cây đen sì, nửa còn lại mọc những chồi nhỏ màu đỏ. Vịnh dừng đoàn nghỉ uống nước. Bách sờ trán Du, nói phải tới chỗ kín gió trước khi trời tối.

Hùng hỏi: “Còn bao xa?”

Vịnh nhìn Tánh.

“Đi đường dưới, hơn nửa ngày,” nó đáp. “Nhưng có lối vòng phía trên, qua khỏi vách nhanh hơn.”

Vịnh lập tức hỏi: “Lối mày chưa nói?”

Tánh chống chế: “Vì sáng nay chưa cần.”

“Sáng nay Công Tự Hùng hỏi còn gì chưa nói.”

“Tôi nhớ sau.”

Vịnh nhìn thẳng vào mắt nó. Nó chịu được hai nhịp rồi quay đi.

“Lối trên có gì?”

“Bẫy cũ.”

“Bao nhiêu?”

“Hai. Có khi ba.”

“Loại gì?”

“Một hố, một dây kéo chân. Nhưng từ mùa khô năm trước. Chắc mục hết.”

Hùng bước tới. “Vì sao mày giấu?”

“Địa không giấu.”

“Sáng nay mày nói không còn gì.”

“Vì lối ấy không định đi.”

“Bây giờ lại định?”

Tánh chỉ Du đang ngồi thở dốc. “Đi dưới chậm. Thiết Bách bảo phải tới chỗ kín gió.”

Bách lên tiếng: “Ta bảo cần tới chỗ kín gió, không bảo đổi sang đường chưa ai xem.”

Tánh cứng họng.

Vịnh nói: “Đi đường dưới.”

Không ai phản đối. Đoàn lại lên đường.

Tánh đi giữa hàng, cúi đầu nhìn cái thẻ trắng trên cổ tay. Khi tay mày lớn, ông Còng đã nói. Nó thấy bực cả ông lão không có mặt.

Rồi từ trên vách vang xuống tiếng đá lăn.

Một đàn chim từ bụi thấp bay vọt lên. Đất đá lạo xạo đổ ngang lối, ngay trước mặt Hùng. Vịnh và Hựu ở phía trước dừng phắt, quay lại. Ở phía sau, Du giật mình, bước hụt, khuỵu một gối xuống đúng chỗ đường chỉ vừa một thân người. Sợi dây ngực căng lên trong tay Bách.

Đoàn ùn lại.

Du thở như kéo bễ, không đứng dậy nổi. Bách quát giữ nguyên chỗ. Không ai quay đầu được, cũng không ai vượt được ai. Một cơn gió lạnh thổi dọc vách, mang theo mùi mưa.

Tánh nhìn lên nhánh rẽ phía trên.

Lối tắt ở ngay đó.

Chỉ cần vượt qua bụi sim, đi chừng một trăm bước là xuống lại đường dưới, đúng chỗ có một hõm đá rộng đủ cho Du nằm nghỉ. Nó từng chạy qua không biết bao nhiêu lần. Những chiếc bẫy cũ nằm rải trên lối ấy, nhưng hẳn đã mục.

Nếu nó tìm được chỗ ấy trước, sẽ không ai còn nhớ sáng nay nó đã nói gì.

Nó luồn khỏi hàng.

Du gọi, hụt hơi: “Mày đi đâu?”

“Xem đường cho Cư Vịnh.”

“Đứng lại.”

Tánh đã bám rễ cây trèo lên.

“Tánh!” Thanh gọi từ cuối hàng. Nàng dấn lên hai bước, cái gối khuỵu xuống trên đá nghiêng. Giữa nàng và nó là Bách đang ghì dây và Du đang quỳ sát mép vực. Nàng không qua được. “Tánh, xuống ngay!”

Trong chốc lát, nó biến sau bụi sim.

• • •

Lối trên hẹp hơn Tánh nhớ.

Cỏ mọc tới đầu gối, che gần hết mặt đất. Nó dùng cành cây quét phía trước, tìm hố cũ. Cái hố đầu tiên vẫn còn nhưng đã sập một nửa. Cọc nhọn dưới đáy mục đen, có cây nấm nhỏ mọc trên đầu. Tánh cười. Nó đã đúng.

Cái bẫy thứ hai chỉ còn một vòng dây mây rữa, vừa chạm đã đứt. Nó càng chắc rằng cả lối không còn gì.

Phía dưới, tiếng người gọi nhau vọng qua vách. Du vẫn chưa đứng dậy được. Nếu Tánh tìm ra đầu xuống, Vịnh sẽ phải nhận rằng nó đã gỡ cả đoàn khỏi chỗ kẹt.

Nó chạy nhanh hơn.

Một cành cây non quất vào mặt. Tánh cúi tránh, không thấy dưới lớp cỏ có một sợi dây mới, mảnh và được nhuộm cùng màu đất.

Ống chân nó kéo căng sợi dây.

Tiếng “phựt” bật lên rất nhỏ.

Tánh chỉ kịp thấy một thân gỗ từ bên sườn lao tới.

Nó nhảy ngược. Khúc gỗ lướt qua bụng, quật trúng hông làm nó lăn xuống dốc. Hai tay nó bấu được một bụi cây. Đất đỏ vỡ dưới chân, đổ lả tả xuống đường dưới.

“Tánh!”

Tiếng Vịnh ở ngay phía dưới.

Nó chưa kịp đáp thì một tiếng hét khác vang lên.

Khúc gỗ sau khi sượt qua Tánh tiếp tục quét xuống. Đầu dây buộc nó mắc vào một thân cây thấp rồi bật đổi hướng, đập trúng Hựu, người vừa quay lại định đỡ bạn. Hựu bị hất vào vách, ngã gập xuống.

Cùng lúc ấy, đất đỏ từ chỗ Tánh lăn đổ ập xuống mép đường. Chỗ Du đang quỳ sụt đi một mảng. Người lính sốt trượt khỏi mép.

Sợi dây ngực giật phăng Bách sấp xuống. Ông trượt theo, hai khuỷu tay cày trên sỏi. Thanh lao tới ôm lấy chân ông, cái gối đau đập thẳng xuống đá; nàng nghe tiếng mình kêu mà không biết đã kêu. Hùng nhảy qua đống đất, chụp lấy sợi dây ở quãng giữa. Dây gai chạy rát qua lòng bàn tay chàng rồi dừng.

Một khoảnh khắc kéo dài đến nghẹt thở.

Dưới mép vực, Du treo trên vòng dây, hai chân quờ tìm đá.

“Kéo đều,” Vịnh nói, đã ở bên cạnh Hùng, giọng thấp và rắn. “Không giật.”

Họ kéo. Du lên được tới ngực, tới bụng, rồi lăn vào sát vách, ho rũ rượi. Bách nằm phủ lên anh ta như sợ núi còn muốn lấy lại.

Hùng vẫn nắm sợi dây. Máu rỏ từ bàn tay chàng xuống đất đỏ.

Người lính dưới chân vách không cử động.

Tánh tụt từ sườn xuống. Mặt nó trắng bệch.

“Tôi không biết có bẫy mới.”

Vịnh quỳ bên người bị thương. “Tránh ra.”

“Tôi...”

“Tránh ra!”

Tánh lùi đụng vào vách.

Bách bò tới. Hựu còn thở, nhưng hơi thở ngắn và có tiếng khò khè. Một mảnh gỗ nhọn đã xuyên qua áo ở cạnh sườn, máu thấm thành vệt sẫm.

“Không rút,” Bách nói. “Ai rút, người ấy giết Hựu.”

Hùng buông sợi dây, bước tới. Chàng nhìn Hựu, nhìn Du còn run bên vách, nhìn sợi dây bẫy còn rung trên cao, cuối cùng nhìn Tánh.

“Mày đã được bảo đi giữa.”

Tánh cúi đầu. “Địa muốn xem đường.”

“Mày muốn khoe rằng đường của mày nhanh.”

“Địa không định...”

“Không ai định làm người khác chảy máu!” Tiếng Hùng dội vào vách đá. “Nhưng mày đã giấu bẫy, tự ý rời hàng, rồi chạy lên một lối chưa ai xem. Mày tưởng chỉ cần khỏe, nhanh và biết vài hòn đá là đủ giữ mạng người sao?”

Tánh chưa từng thấy chàng giận như vậy. Nó ép lưng vào vách, hai bàn tay nắm chặt đến mức lớp vải quấn rịn đỏ.

Hùng không giận một mình nó. Chàng giận cả cái nhịp sáng nay mình đã nhìn thấy gáy nó cứng lại mà không hỏi tới cùng. Nhưng cơn giận cần một chỗ để rơi xuống, và đứa trẻ đang đứng ngay đó.

Chàng nói từng tiếng:

“Xuống khỏi núi, mày trở về Đá Rền. Không đi theo đoàn nữa.”

Tánh ngẩng phắt lên. “Can...”

“Đủ rồi.”

Nó quay sang Thanh. Nàng đang ngồi bệt trên đá, một tay ôm gối, một tay giữ tấm vải cho Bách, mặt tái đi vì nhìn vết thương. Tánh chờ nàng nói giúp. Hôm kia, chính nàng đã bảo “cho Tánh đi tới sông”.

Thanh mở miệng. Rồi nàng nhìn mảnh gỗ nhô ra dưới sườn Hựu, và không tìm được chữ nào dám đặt cạnh nó.

Nàng không nói.

Trong mắt Tánh, vẻ sợ hãi đổi thành tức tối.

“Các người dùng đường tôi rồi đuổi tôi.”

Hùng bước tới một bước. “Mày còn nghĩ chuyện này là thắng thua?”

“Ai bảo Can ấy đứng dưới bẫy!”

Hựu rên lên.

Câu vừa bật khỏi miệng khiến chính Tánh chết lặng. Vịnh quay lại nhìn nó. Không giận, không mắng. Chính vẻ mặt ấy làm nó không chịu nổi.

Nó xoay người định chạy.

“Đứng lại,” Thanh nói.

Tánh không nghe.

Nàng gọi lớn hơn: “Tánh!”

Nó dừng, nhưng không quay lại.

“Mày gây ra việc này. Mày không được chạy khỏi nó.”

“Công Tự đã đuổi tôi.”

“Xuống núi rồi mới tính chuyện đi hay ở. Bây giờ quay lại cứu Can Hựu.”

“Tôi có biết chữa đâu.”

“Vậy làm điều mày biết.”

Tánh quay lại, mắt đỏ hoe. “Tôi biết gì?”

Thanh chỉ khúc gỗ bẫy vẫn treo trên sườn, rồi chỉ con đường bị thân cây và dây mây chắn ngang.

“Mày biết bẫy. Biết sức của mày. Biết lối này. Dùng chúng cho đúng.”

• • •

Bách cần đưa Hựu khỏi đoạn vách trước khi trời mưa.

Không thể cõng: chỉ cần gập người, mảnh gỗ ở sườn sẽ xé sâu hơn. Phải buộc một khung cứng quanh thân, đặt lên cáng, rồi hạ từng đoạn ngắn xuống chỗ rộng phía dưới. Đoàn có dây, nhưng thiếu hai thanh gỗ đủ thẳng. Cây quanh đó mọc cong theo gió.

Tánh nhìn lên khúc gỗ bẫy.

“Dùng nó.”

Vịnh nói: “Nó đang căng dây. Cắt sai là quật thêm lần nữa.”

“Tôi biết nút giữ.”

“Biết thật, hay lại đoán?”

Tánh nuốt khan. “Biết nút. Không biết người đặt có giấu dây phụ không.”

Đó là lần đầu từ khi gặp nó, Vịnh nghe Tánh nói rõ phần mình không biết.

Vịnh cầm sào. “Vậy tìm dây phụ trước.”

Tánh không chạy lên ngay. Nó nhặt cành dài, gạt từng bụi cỏ. Mỗi lần muốn bước, nó lại dừng thử đất. Hùng đứng dưới giữ sợi dây quấn quanh bụng nó, bàn tay rách bọc tạm bằng một nắm lá. Chàng không nói một lời.

Khúc gỗ bẫy được buộc bằng ba điểm. Một dây chính kéo từ chốt dưới cỏ. Một dây giữ vòng qua thân cây. Dây cuối cùng mảnh hơn, nối với một bó cọc tre giấu phía sau. Nếu chỉ cắt dây chính, bó cọc sẽ đổ xuống đúng nơi người tháo bẫy đứng.

Tánh tìm thấy nó khi đầu cành khẽ chạm vào một chiếc lá khô bị xâu thủng.

“Có dây phụ,” nó gọi xuống. Giọng khàn hẳn.

Vịnh trèo lên cạnh nó, xem kỹ rồi gật. “Mày giữ thân gỗ nổi không?”

“Giữ được.”

“Không nhấc. Chỉ giữ.”

Tánh quấn dây quanh vai, chống hai chân vào đá. “Tôi biết.”

“Nhắc lại.”

Nó nhắm mắt một thoáng. “Không nhấc. Không giật. Cư Vịnh cắt tới đâu, tôi giữ tới đó.”

Vịnh chặt dây phụ trước, rồi nới dần nút giữ. Sức nặng của thân gỗ dồn lên vai Tánh. Nó nghiến răng. Bắp tay nổi lên, nhưng lần này nó không cố thắng sức nặng. Nó để dây trượt từng chút qua hai lòng bàn tay quấn vải, giữ đều theo tiếng đếm của Vịnh. Lớp vải nóng lên, rồi rách. Nó không kêu.

“Một.”

Nó thả nửa gang.

“Dừng.”

Nó dừng.

“Hai.”

Thêm nửa gang.

Khúc gỗ xuống tới mặt đường mà không va vào ai.

Hùng và Vịnh chặt nó thành hai thanh. Bách dùng áo ngoài, dây lưng và nẹp tre buộc thành một khung ôm quanh Hựu. Mảnh gỗ nhỏ vẫn nằm nguyên ở sườn. Mỗi lần Hựu thở, máu lại rịn ra.

Mây đã tụ kín trên đầu.

Giọt mưa đầu tiên rơi lên mu bàn tay Thanh.

Bách nói: “Phải giữ Hựu ấm. Mất máu gặp lạnh là nguy.”

Bảy người, một cáng, một người sốt. Không còn vai nào thừa để mang gùi. Vịnh dồn gạo và muối vào hai bọc buộc quanh bụng mình, giấu mấy chiếc gùi vào một hốc cây kín gió, phủ lá rồi khắc dấu lên thân cây để quay lại. Thanh ôm ống thẻ vào ngực. Du, mặt còn xám, tự đứng dậy vịn vách.

Tánh cúi xuống đầu cáng.

“Tôi khiêng.”

Hùng nói: “Ta với Cư Vịnh khiêng.”

“Cư Vịnh phải đi trước dò bẫy.”

“Còn Thiết Bách.”

“Thiết Bách phải giữ vết thương. Kỷ Thanh đau gối. Can Du còn sốt.” Nó đếm hết từng người, và giọng nó vỡ ra ở cái tên cuối. Không còn ai khác.

Hùng không nhìn nó. “Mày mệt sẽ buông.”

“Tôi không buông.”

“Mày đã nói nhiều điều chắc như vậy.”

Tánh tái mặt. Nó không cãi nữa, chỉ đứng cạnh cáng.

Thanh hỏi Bách: “Thằng Tánh khiêng được không, Thiết?”

“Sức thì được. Nhưng phải giữ đều. Chỉ cần xóc một lần...”

“Tôi giữ đều,” Tánh nói.

Bách nhìn thẳng vào nó. “Đây không phải cột nhà. Mỏi cũng không được đổi vai nếu chưa báo. Trượt cũng không được giật cáng lên. Hựu kêu, mày vẫn phải nghe ta, không tự đặt xuống. Hiểu chưa?”

“Hiểu.”

“Nói lại.”

Tánh nhắc từng điều. Không sót một chữ.

Hùng cuối cùng tránh sang bên. Chàng đi về đầu sau của cáng, ghé bên vai lành xuống đòn.

Tánh cúi vai dưới đòn trước.

Mưa rơi dày hơn.

• • •

Đường xuống dài hơn mọi lời Tánh từng khoe.

Nước mưa phủ lên đá một lớp trơn mỏng. Vịnh đi trước một mình, dò từng bụi cỏ. Những người còn lại bước đúng vào dấu chân Vịnh. Thanh dìu Du, hay Du dìu Thanh, không ai phân được nữa. Bách đi sát cáng, một tay đặt trên ngực Hựu. Đầu trước do Tánh gánh. Đầu sau là Hùng.

Ngay mười bước đầu, Tánh đã hiểu sức khỏe không phải phần khó nhất.

Phần khó là giữ cho vai không nhấp nhô theo từng hòn đá. Là chờ người phía sau đặt chân xong mới bước. Là nghe Bách nói “chậm” dù phía sau đá đang lăn. Là không được quay đầu mỗi khi Hựu rên.

Và người phía sau là người vừa đuổi nó.

Mưa lạnh thấm qua tóc, qua áo, xuống tận da. Nhưng dưới đòn cáng, vai Tánh nóng rát. Hơi nóng ấy không bùng lên như lúc nó nhấc cột nhà. Nó bị ghìm ở một chỗ, âm ỉ, mỗi bước lại sâu thêm.

“Đổi vai không?” Hùng hỏi.

“Chưa.”

“Mày run rồi.”

“Tôi chưa buông.”

“Ta không hỏi mày có buông không. Ta hỏi có đổi vai không.”

Tánh định nói không cần. Nó nhớ lời Bách: mỏi phải báo.

“Qua tảng đá trước mặt thì đổi.”

Hai người báo Bách, dừng đúng chỗ rộng, đỡ cáng bằng đầu gối; Tánh đổi vai mà không làm Hựu nghiêng. Lúc ấy nó mới thấy Hùng không đổi. Chàng chỉ có một bên vai để dùng, và đã dùng nó suốt từ đầu dốc.

Nó không nói gì. Nhưng từ đó, mỗi bậc đá cao, nó tự hạ vai mình thấp thêm một chút để đòn cáng khỏi dồn về sau.

Đến một khe nước nhỏ, đường bị xói mất một đoạn. Chỉ còn rễ cây bắc ngang trên hốc đất sâu. Vịnh cho từng người vượt. Du bò qua trên rễ, sợi dây ngực trong tay Bách. Với Hựu, không thể nghiêng cáng đủ để luồn sát vách.

Tánh nhìn sườn trên. “Có thể đào bậc bên này.”

Vịnh xem đất. “Đất mềm, đào sẽ sụp.”

“Đóng cọc giữ.”

“Cọc nào?”

Tánh tháo vòng dây thẻ trắng khỏi cổ tay. Nó chỉ vào những thanh tre nhỏ Bách mang làm nẹp, rồi chỉ ba hốc đá.

“Đóng tre vào đây, buộc dây kéo thành một tay vịn. Tôi xuống dưới đỡ đá. Mọi người chuyển cáng ngang.”

Vịnh không bác ngay mà thử từng hốc, hỏi Bách còn mấy thanh nẹp, rồi sửa cách buộc của Tánh. Họ đóng ba cọc. Vòng dây thẻ trắng quá ngắn, chỉ dùng để nối nút đầu tiên. Dây lớn được buộc tiếp vào đó.

Tánh tụt xuống hốc đất, hai chân chống vào vách, lưng đỡ một tảng đá lung lay. Hùng buộc dây quanh ngực nó, trao đầu dây cho Thanh và Du đã ngồi ghì sau một gốc cây.

“Nếu đá chạy, buông nó,” chàng nói.

“Cáng sẽ nghiêng.”

“Cư Vịnh và ta giữ cáng. Mày không được lấy lưng chặn đá.”

Tánh ngẩng lên. “Nhưng...”

“Cáng là phần của ta với Cư Vịnh. Phần của mày là buông cho đúng lúc.”

Nó nhìn tảng đá, rồi nhìn Hựu đang thở yếu trên cáng. Cổ họng nó động một cái.

“Đá chạy thì tôi buông.”

“Nhắc lại.”

“Đá chạy... thì tôi buông.” Lần này giọng nó nhỏ hơn, mà chắc hơn.

Cáng được chuyển qua. Tảng đá trượt khi chân sau của Hùng vừa rời mép. Tánh theo thói quen định ghì vai vào. Tiếng Hùng quát “buông” vang xuống. Nó buông. Tảng đá rơi qua khe, đập ầm phía dưới. Sợi dây kéo Tánh ép vào vách, nhưng nó không rơi.

Phía trên, Thanh và Du cùng ngả người ra sau mà ghì, một người đau gối, một người đang sốt, không ai chịu là kẻ buông trước.

Khi được kéo lên, Tánh nằm ngửa giữa đường, thở như vừa chạy hết một ngày. Hùng cúi tháo dây quanh ngực nó. Hai người nhìn nhau.

Tánh chờ một lời khen.

Hùng chỉ nói: “Mày đã nghe.”

Không hiểu sao câu ấy khiến ngực nó nóng hơn cả lời khen.

Trước khi đi tiếp, nó gỡ vòng dây thẻ trắng khỏi cọc đầu, đeo lại vào cổ tay, không kịp chùi lớp đất đỏ.

• • •

Chiều xuống rất nhanh dưới mưa.

Họ chưa tới trạm đá. Vịnh tìm được một hõm núi có mái đá nhô ra, vừa đủ cho cả đoàn tránh gió. Mặt đất ẩm nhưng không đọng nước. Vịnh phát cỏ, soát bẫy quanh đó. Không có dấu người mới.

Bách đặt cáng vào sâu nhất, cho Du nằm cạnh. Ông cần cầm máu cho Hựu trước khi trời tối hẳn.

“Lửa,” ông nói. “Nhỏ thôi, nhưng phải đều.”

Củi ngoài rừng đã ướt. Mớ cành khô mang theo chỉ đủ nhóm một lần. Vịnh dùng dao cạo phần vỏ ẩm, lấy lõi nhỏ bên trong. Thanh che gió bằng tấm áo ngoài. Hùng đánh đá lửa bằng bàn tay còn lành. Tia lửa lóe lên rồi tắt. Lần thứ hai, bùi nhùi bốc khói nhưng không cháy.

Tánh ngồi ôm đầu gối cạnh Hựu. Nó nhìn khuôn mặt người lính, thấy môi Hựu tím dần.

“Ở bến họ vùi than trong tro,” nó nói.

Vịnh không ngẩng lên. “Ở đây không có than.”

Tánh sờ túi áo. Cục than nhặt ở bến sáng nay vẫn còn đó, bọc trong hai lớp lá, bên ngoài đã nguội. Nó mở ra. Giữa lớp tro xám còn một chấm đỏ rất nhỏ.

“Có.”

Vịnh nhìn nó, rồi nhìn cục than.

“Mày mang từ bến?”

“Tôi định nướng cá.”

“Lần đầu cái tham ăn của mày cứu được người.”

Tánh không cười. Nó đặt cục than vào giữa bùi nhùi. Vịnh phủ những sợi gỗ mỏng lên trên, khum hai bàn tay. Tánh cúi thổi. Nó thổi mạnh quá, tro bay vào mặt.

“Nhẹ,” Vịnh nói. “Giữ hơi đều.”

Tánh lau mắt, thổi lại.

Chấm đỏ lan dần. Một ngọn lửa nhỏ nhú lên, run rẩy sau vách đá. Không ai reo. Mọi người chỉ lặng lẽ chuyền từng cành gỗ đã cạo khô vào, giữ cho ngọn lửa không tắt mà cũng không bùng quá lớn.

Bách hơ dao, rửa tay bằng nước đun trong ống tre rồi cắt áo quanh vết thương. Mảnh gỗ không đâm sâu vào bụng như ông sợ; nó mắc giữa xương sườn, nhưng đầu gãy làm thịt rách nhiều. Hựu tỉnh lại khi Bách rút mảnh gỗ, gào một tiếng rồi co quắp cả người.

Tánh chụp vai Hựu theo thói quen.

“Giữ chân, không đè ngực!” Bách quát.

Tánh chuyển tay ngay. Hùng giữ vai trái. Vịnh giữ chân còn lại. Thanh nhét cuộn vải cho Hựu cắn. Du, quấn trong tấm áo của Hùng, bò ra tiếp củi, mắt không rời mấy ống tre nước kê bên lửa.

Khi mảnh gỗ được lấy ra, Bách ép thuốc và vải vào vết thương. Máu thấm đỏ lớp đầu, rồi chậm lại ở lớp thứ hai.

“Còn sống,” ông nói. “Đêm nay giữ được ấm thì còn cơ.”

Xong việc với Hựu, Bách kéo hai bàn tay Tánh lại gần lửa, gỡ lớp vải rách dính máu. Lần này ông không mắng. Ông rắc thuốc, quấn vải mới, và chỉ nói: “Hôm nay tay mày làm đúng việc.”

Tánh ngồi lùi khỏi cáng. Nó nhìn lớp vải mới trên tay mình. Dưới móng tay nó vẫn còn máu Hựu; nó chùi lên đất, nhưng màu đỏ chỉ loang rộng hơn.

Hựu hé mắt. Giọng anh ta mỏng đến mức phải cúi sát mới nghe.

“Cá... dữ không?”

Tánh ngơ ngác.

Du cười khẽ từ trong tấm áo. “Hôm qua mày bảo cá sông này dữ lắm.”

Hựu nhăn mặt vì đau, vẫn cố nói: “May... không gặp cá.”

Tánh cúi đầu. Một tiếng vừa giống cười vừa giống nấc bật khỏi cổ nó.

“Can Hựu đừng nói nữa.”

“Mày... cũng biết sợ à?”

“Im đi.”

Hựu nhắm mắt. Khóe miệng người lính còn giữ một nét cong rất nhỏ.

Ngoài mái đá, mưa trút xuống thành màn. Trong hõm núi, mọi người ngồi sát quanh ngọn lửa. Không ai được ngủ lâu. Cứ một lúc, Bách lại xem hơi thở của Hựu, rồi sờ trán Du. Vịnh thay củi. Thanh đun nước. Hùng chia cá khô và củ nước thành từng phần nhỏ, phần của Tánh cũng bằng phần mọi người.

Tánh không rời chỗ.

Mỗi khi ngọn lửa thấp xuống, nó lại thêm một thanh lõi khô. Có lần nó bỏ vào hai thanh cùng lúc, lửa bùng cao. Vịnh gạt bớt ra.

“Không cần lớn,” Vịnh nói. “Cần qua được đêm.”

Tánh gật.

• • •

Thanh ngồi ở mép hõm đá, duỗi cái chân đã sưng, rút sợi dây của Mộc ra. Nút thứ năm. Ngón tay nàng còn dính máu khô, buộc mãi mới thành.

Hùng mang phần cá của nàng tới, ngồi xuống bên cạnh. Bàn tay rách của chàng đã được Bách quấn lá.

“Bậu không nói đỡ cho thằng Tánh,” chàng nói, không phải trách.

“Qua xin cho thằng ấy đi tới sông.” Thanh nhìn cái nút trên dây. “Hôm nay Can Hựu nằm kia. Qua lấy gì mà nói đỡ.”

“Vậy sao còn gọi lại?”

“Vì đuổi một đứa đang chạy thì dễ.” Giọng nàng khàn đi. “Bắt thằng ấy đứng lại nhìn việc mình làm mới khó. Khó cho thằng ấy, và cho cả mình.”

Hùng im một lúc. Mưa gõ trên mái đá.

“Qua đuổi thằng Tánh lúc tay còn rát vì sợi dây của Can Du,” chàng nói. “Qua không biết lời ấy là lệnh hay là giận.”

“Vậy đừng quyết khi chưa biết.”

“Qua đã nói ra rồi.”

“Nói ra rồi vẫn còn đường tới chân núi để nghĩ.” Thanh đặt tay lên túi áo, nơi viên đá tròn vẫn nằm. “Qua cũng chưa trả đá cho thằng ấy.”

Hùng nhìn bàn tay ấy, rồi đứng dậy.

Nửa đêm, chàng ra ngồi cạnh Tánh.

Một lúc lâu, cả hai chỉ nghe mưa.

Tánh lên tiếng trước. “Công Tự sẽ đuổi tôi thật à?”

Hùng nghe rõ hai tiếng ấy. Sáng nay nó còn gọi chàng là Can.

“Ta đã nói.”

“Tôi cứu được Can Hựu rồi.”

“Mày đang giúp cứu. Chưa ai biết Can Hựu có qua được không.”

Tánh nhìn ngọn lửa. “Nếu Can Hựu sống thì việc tôi làm hết sai à?”

“Không.”

“Nếu Can Hựu chết?”

Hùng không đáp ngay. “Việc sai cũng không lớn thêm chỉ vì cái kết xấu. Nó đã sai từ lúc mày giấu điều mình chưa biết và tự ý bỏ hàng.”

“Vậy cứu cũng chẳng thay được gì.”

“Không thay chuyện đã xảy ra. Nhưng thay được người mày sẽ thành.”

Tánh dùng que gẩy một cục than. “Nghe giống lời Già Tự Còng.”

“Già Tự nói gì?”

“Tay lớn là tay biết lúc nào phải dừng.”

“Già Tự nói đúng.”

Tánh bực bội quăng que xuống. “Ai cũng đúng.”

Hùng nhìn nó. “Nếu ta luôn đúng, hôm nay đã không đi đường này.”

Tánh ngẩng lên.

“Ta biết mày chưa đi hết lối mà vẫn cho đoàn vào,” Hùng nói. “Sáng nay ta thấy mày còn giấu một điều, và ta đã không hỏi tới cùng. Ta nghĩ có Cư Vịnh dò trước là đủ. Ta cũng muốn đưa người sốt tới trạm sớm. Đi đường này là ta quyết.”

“Nhưng tôi làm bẫy chạy.”

“Phải. Phần của mày, mày chịu. Phần của ta, ta chịu.”

“Công Tự chịu thế nào?”

“Nếu Can Hựu không qua được, ta phải đến nói với Cơ của Can ấy và các ấu của Can ấy rằng ta đã chọn con đường này.”

Tánh hình dung một đứa nhỏ đứng chờ cha ở cửa nhà. Nó rụt hai bàn tay vào lòng.

“Tôi không muốn về Đá Rền.”

“Ta biết.”

“Tôi làm được việc. Khiêng đồ, tìm bẫy, nhóm lửa. Tôi sẽ nghe Cư Vịnh.”

“Đêm nay giữ lửa trước đã.”

“Rồi sáng mai?”

“Sáng mai Can Hựu tỉnh, chính mày nói với Can Hựu.”

“Nói gì?”

“Lời mày đang tránh.”

Tánh cúi mặt.

Hùng đứng dậy, đặt một thanh củi bên cạnh nó. “Đừng để lửa tắt.”

• • •

Gần sáng, mưa nhẹ dần.

Ngọn lửa chỉ còn một lòng than đỏ nằm dưới tro. Tánh đã ngồi suốt đêm, mắt cay xè, đầu gật xuống mấy lần rồi tự giật mình tỉnh lại. Nó không để than tắt.

Hựu mở mắt khi trời ngoài hõm đá chuyển sang màu xám.

Bách cho anh ta uống từng ngụm nước. Hơi thở vẫn đau nhưng đã sâu hơn. Cơn lạnh lui khỏi môi. Bên cạnh, Du đã hạ sốt, ngủ mê mệt lần đầu sau hai đêm.

Tánh quỳ cạnh cáng.

“Can Hựu.”

Người lính hé mắt nhìn nó.

Tánh nuốt khan. “Cái bẫy chạy vì Địa. Địa giấu chuyện lối trên có bẫy cũ. Địa bỏ hàng để đi trước. Địa muốn mọi người thấy đường của Địa nhanh.”

Hựu im lặng.

Tánh càng khó nói hơn. “Nếu Can không sống...”

“Ta đang sống.”

“Địa biết. Nhưng nếu...”

“Đừng giết ta lần nữa bằng miệng mày.”

Vịnh quay mặt đi giấu nụ cười. Bách cau mày, nhưng khóe mắt cũng dịu đi.

Tánh cúi thấp hơn, trán gần chạm đòn cáng. “Địa xin lỗi.”

Hựu nhìn nó hồi lâu. “Ta chưa tha.”

Mặt Tánh cứng lại, nhưng nó gật. “Dạ.”

“Nhưng lúc xuống dốc... mày không làm xóc cáng.”

Tánh ngẩng lên.

“Cứ như thế.” Hựu nhắm mắt. “Đừng bắt ta phải nằm cáng lần nữa để dạy mày.”

Tánh vừa cười vừa quệt mũi. “Can nằm cũng nặng lắm.”

“Mày muốn ta trả thêm một cú à?”

“Can đứng được rồi hãy tính.”

Tiếng cười nhỏ lan quanh hõm đá, không lớn nhưng làm hơi lạnh buổi sớm bớt đi.

• • •

Khi đoàn sửa soạn đi tiếp, Hùng gọi Tánh ra ngoài.

Mây đã vỡ thành từng mảng. Dưới chân núi, hơi nước bốc khỏi rừng như khói mỏng. Con đường tới trạm đá còn một quãng dài.

“Ta chưa đổi lời đã nói,” Hùng bảo. “Mày đã gây nguy cho cả đoàn.”

Tánh nhìn xuống. Móng chân nó cào một đường trong đất, xóa đi rồi lại cào đúng chỗ ấy.

“Nhưng ta cũng sẽ không quyết việc ấy khi chưa ra khỏi núi. Từ đây tới trạm, mày khiêng đầu cáng Can Hựu. Cư Vịnh bảo gì làm nấy. Không tự rời hàng.”

“Rồi tới trạm?”

“Ta sẽ nghe Cư Vịnh, Thiết Bách và Can Hựu.”

“Còn Kỷ Thanh?”

Hùng thoáng khựng lại. “Cả Thanh.”

“Còn tôi?”

Lần này Hùng im lâu hơn. Tánh ngẩng lên, vẻ ngang ngạnh đã biến mất, chỉ còn nỗi sợ bị bỏ lại mà nó cố nuốt xuống.

“Cả mày,” chàng nói. “Nhưng mày phải nói thật, kể cả phần khiến mày xấu hổ.”

Tánh quệt mũi bằng cổ tay. “Phần ấy nhiều lắm.”

“Ta biết.”

Nó phì cười dù mắt còn đỏ.

Tánh nắm cái thẻ trắng. Nút dây đã sẫm màu bùn nhưng chưa đứt.

“Nếu mọi người vẫn bảo về, Địa sẽ về.” Nó hít một hơi. “Nhưng cho Địa xin đi tiếp. Địa không xin vì biết đường. Địa xin để học cách không làm hại người khác bằng sức của mình.”

Hùng nhìn nó rất lâu. Nó đã thôi gọi chàng là Công Tự.

“Giữ được câu ấy qua nhiều ngày rồi hãy nói lại.”

“Địa sẽ giữ.”

“Can nghe rồi.” Chàng hất đầu về phía hõm đá. “Đi khiêng cáng.”

Tánh chạy được hai bước thì tự chậm lại. Ngang qua Thanh, nó liếc túi áo nàng. Nàng vỗ nhẹ lên đó, không lấy viên đá ra. Nó thở hắt một hơi, quay về phía Vịnh, chờ Vịnh chỉ chỗ đặt vai rồi mới cúi xuống.

Đoàn rời hõm đá khi than trong bếp vẫn còn đỏ dưới tro. Không bùng cao, không soi xa, nó chỉ giữ đủ hơi nóng để đưa một người qua khỏi đêm lạnh.

Gần trưa, họ nhìn thấy trạm đá.

Trước cổng trạm có một người đàn ông áo xám đứng chờ. Bên cổ ông là một vết sẹo kéo dài xuống tận xương quai xanh. Khi Vịnh hỏi có chỗ cho người bị thương không, ông không đáp bằng lời. Ông gõ cán trượng xuống đất ba nhịp, chỉ người ra mở cổng, rồi dùng hai bàn tay làm một chuỗi động tác mà không ai trong đoàn hiểu trọn.

Tánh nhìn theo, quên cả mỏi.

Người đàn ông không nói được.

Nhưng những người trong trạm đều chờ ông phân xử.

0
Ủng hộ tác giả Arawn Nguyễn Gửi một lời động viên nhỏ để tác giả có thêm cảm hứng ra chương mới.