Huyền Thoại Lục Thập Hoa Giáp

Chương 20: Mảnh Nhớ Không Khớp

Đăng: 29/10/2026 14:07 3,658 từ 2 lượt đọc

Trưa hôm ấy, Thanh đặt ba chiếc chiếu ở ba gian nhà khác nhau.

Bà Cói đan phên ngồi ở gian phía đông. Ông Chão chèo bè được mời sang kho cũ. Người đào giếng tên Gàu ở lại dưới mái bếp. Không ai nhìn thấy phiến đá. Không ai nghe lời người còn lại.

Ngoài hiên, người coi lương ngồi giữa một đống tre tươi dân chợ vừa chặt, chẻ từng thanh thành thẻ. Ông ta chẻ rất đều, không nói với ai, như người đang trả một món nợ cho những bó thẻ đã theo nước.

Tánh ngồi ngoài sân, ôm đầu gối nhìn Thanh đi qua đi lại. Cái gối của nàng đã được Bách bó chặt, mỗi bước vẫn lệch một nhịp.

“Hỏi chung nhanh hơn.”

“Nhanh hơn để ba người sửa trí nhớ theo nhau.”

“Họ có nói dối đâu.”

“Không cần nói dối. Chỉ cần nghe một câu đủ nhiều lần, đến lúc nhớ lại, người ta có thể tưởng câu ấy vốn nằm trong đầu mình.”

Tánh ngẫm nghĩ rồi chỉ vào gian phía đông. “Già Thị Cói nói trước, vậy lời Già Thị ấy thật nhất à?”

“Không. Chỉ là lời được nói trước.”

Hùng đứng bên phiến đá, dùng vải thấm từng giọt nước còn đọng trong nét khắc. Chàng không dự buổi hỏi. Thanh đã đòi như vậy sau lần hai người cãi nhau lúc trời vừa sáng.

“Bậu muốn nghe cả ba cùng lúc,” nàng đã nói. “Nhưng lúc ấy người có tiếng mạnh nhất sẽ kéo trí nhớ của hai người kia đi theo.”

“Nếu họ nhớ cùng một nơi thì sao?”

“Qua sẽ biết sau khi nghe riêng.”

Hùng không thích phải chờ. Nhưng chàng đã thuận. Hôm qua ở sân cân, chàng không chờ.

Người đầu tiên là bà Cói. Bà kể hai vòng tròn trên đá giống hai bến nước của một làng từng nằm thấp hơn khu chợ. Khi bà còn nhỏ, Cơ thường dẫn xuống nhặt củi ở đó. Một trận lũ đã vùi cả hai bến.

Thanh hỏi: “Già Thị từng thấy bến hay nghe Cơ kể?”

Bà Cói đáp ngay: “Tận mắt thấy.”

“Bến ở hướng nào?”

Bà chỉ về phía thượng nguồn.

“Có bao nhiêu bậc xuống nước?”

“Bảy.”

“Bậc làm bằng gì?”

“Đá xanh.”

Thanh hỏi lại từ đầu theo thứ tự khác. Lần thứ hai, bà nói bến ở hạ nguồn, có chín bậc gỗ. Đến khi nhận ra lời mình đổi, bà nổi giận, hai bàn tay quen đan phên vặn vào nhau.

“Ta già chứ không mù! Ta đã xuống đó. Ta còn nhớ nước lạnh tới đâu trên chân Cơ ta!”

“Ấu tin Già Thị nhớ một nơi,” Thanh nói, và nàng nói thật lòng. “Ấu chỉ chưa biết nơi ấy có phải nơi trên phiến đá không.”

Bà Cói nhìn nàng một lúc lâu. Cơn giận lắng xuống thành một thứ buồn hơn. “Vậy ghi là ta nhớ nước lạnh. Cái ấy thì ta chắc.”

Thanh ghi đúng như thế.

Ông Chão kể hai vòng tròn là hai kho lương. Quân ông từng chở gạo tới một kho mùa nước nổi. Những đường nối trên đá là lối kéo bè bằng dây.

“Thiết đã vào kho?”

“Chưa. Ta đứng ngoài thuyền.”

“Thiết nhìn thấy hai kho?”

“Chỉ một. Quân bảo còn kho kia sau doi đất.”

“Quân của Thiết nhìn thấy cả hai?”

Ông Chão im hồi lâu. “Có thể Quân cũng nghe người khác kể.” Ông gãi cằm, cười gượng. “Cả đời ta kể chuyện hai kho. Giờ mới hay mình chỉ thấy có một.”

Người cuối cùng là Gàu. Ông không nhớ bến hay kho. Ông nhớ khi đào giếng phía bắc chợ từng gặp hai ống gỗ mục nằm song song dưới đất. Nước từ ống nhỏ thấm sang một hố tròn lót sỏi.

Hùng đã sang đứng ở cửa bếp từ lúc nào. Chàng buột hỏi:

“Thiết nghĩ hai vòng là giếng?”

Thanh nhìn chàng. Hùng biết mình vừa đặt sẵn câu trả lời vào miệng người ta, liền sửa:

“Thiết gọi thứ mình thấy là gì?”

“Hố lắng. Nước qua sỏi mới trong.”

“Hai hố?”

“Ta chỉ đào gặp một.”

“Vì sao sáng nay Thiết nói có hai?”

Gàu gãi đầu. “Vì trên đá có hai vòng.”

Ba lời kể không khớp. Nhưng mỗi lời đều có một phần không thể gạt bỏ: một bến đã mất, một chuyến gạo mùa lũ, một đường ống gỗ dưới đất. Chúng có thể cùng thuộc một nơi. Cũng có thể thuộc ba nơi khác nhau, bị hình khắc kéo lại gần nhau chỉ sau một buổi sáng.

Một người đàn ông xưng là Khuyết đã chờ ở gian nhà cuối dãy từ sớm. Ông gầy, tóc cắt ngắn không đều, một bên vai thấp hơn bên kia như từng gãy mà liền lệch. Người chợ bảo ông trôi tới đây từ một mùa nước nào đó, làm thuê cho ai gọi, và hay đứng rất lâu trước những thứ người khác đi qua không nhìn. Ông bảo mình ngủ nhờ ở kho cao từ đêm lũ, sáng nay không xuống vòng người quanh phiến đá, chưa nghe ai bàn hai vòng tròn là bến, kho hay hố lắng. Không ai làm chứng cho lời ấy, và Thanh ghi nó đúng là lời ông tự nói. Đến khi mọi người đã kể xong, ông mới xin được nhìn phiến đá.

Thanh đưa ông tới trước mặt khắc, chỉ mở lớp vải bọc mà không nói gì về các hình. Khuyết nhìn một đoạn đường gãy. Bàn tay đang đặt bên mép vải bỗng run lên.

“Một lối gỗ ướt,” ông nói rất khẽ. “Có người mang thứ gì đó đi qua. Nước dưới chân họ bỗng đổi chiều.”

Hùng bước lại gần. “Lối ấy ở đâu?”

Khuyết nhắm mắt. Mí mắt ông giật như người đang cố giữ một con cá trơn. Hồi lâu, ông lắc đầu. “Ta không thấy rõ mặt họ. Cũng không biết cảnh ấy là chuyện ta từng thấy hay một giấc mơ.” Ông mở mắt, và trong đó có một nỗi xấu hổ đã cũ. “Đầu ta chỉ còn giữ được từng mảnh. Mảnh nào cũng cứa tay, mà không mảnh nào chịu nằm cạnh mảnh nào.”

Hùng nhìn đường khắc gãy trên đá. Nó có thể là lối ông vừa kể, cũng có thể chỉ khiến ông tưởng mình nhớ ra một lối. Chàng muốn hỏi thêm, rất muốn. Nhưng Thanh đã đặt một thẻ tre riêng trước mặt Khuyết.

“Tôi sẽ ghi đúng những gì Thiết nhớ, cả điều Thiết không chắc,” nàng nói. “Bọn tôi chưa gọi đó là lời giải của phiến đá.”

“Cũng đừng gọi là lời của kẻ điên,” Khuyết nói.

“Không. Chỉ ghi: một người nhớ, và không chắc.”

Ông gật, như lâu lắm mới có người chịu ghi mình đúng cỡ. Rồi ông ra hiên, đứng dưới mái nhìn nước chảy mà không tìm thêm được hình ảnh nào.

Tánh chống cằm.

“Hỏi xong lại biết ít hơn.”

“Không,” Thanh đáp. “Giờ thì biết chỗ nào chưa được phép nối.”

• • •

Hùng trải bản chép sau lưng trống cạnh bản chép phiến đá.

Dấu nhọn trên trống từng quay về đông nam. Dấu gần giống nó trên cột chợ lại quay ngược. Trên phiến đá mới cứu, một nét gãy cũng có đầu nhọn, nhưng bị mất gần nửa.

“Ba dấu cùng một gốc,” Hùng nói. “Nếu dấu là hướng, chúng có thể chỉ ba nhánh đường tỏa ra từ một chỗ.”

Thanh đặt hai bản chép xoay ngược nhau. Khi đổi chiều, ba dấu trông gần như trùng khít.

“Hoặc người khắc đứng ở ba phía khác nhau.”

“Dấu trên trống được thêm sau chuỗi Người, Luật, Nhớ, như một lời chỉ đường.”

“Có thể.”

“Dấu ngoài chợ đứng trên cột chỉ lối.”

“Cũng có thể chỉ lối đi trong phiên, không chỉ một vùng đất.”

Hùng nén một hơi. “Nếu cả ba dấu và cảnh Thiết Khuyết nhớ đều bị đặt vào chỗ chưa biết, chúng ta sẽ không bao giờ có đường.”

“Nếu chọn nghĩa thuận nhất với điều mình mong, chúng ta có thể có một con đường rất đẹp và sai từ đầu tới cuối.”

“Qua không muốn một con đường đẹp.”

“Bậu muốn chuyến đi này có một điều mang về.”

Câu ấy khiến Hùng im bặt.

Chiếc bè hàng đã mất. Hựu còn nằm với mảng sườn bó chặt. Đoàn thiếu gạo, thuốc và đồ dùng. Bản thẻ của Thức ghi chàng làm chậm công vụ. Nếu phiến đá chỉ cho một nơi rõ ràng, mọi cái giá dường như còn cân được. Nếu nó chỉ thêm câu hỏi, chàng phải nhận rằng mình đã đưa người vào hang, suýt chôn cả bốn, để cứu một vật chưa biết nói gì.

Thanh ngồi xuống đối diện, chậm, vì cái gối.

“Qua cũng muốn tin,” nàng nói nhỏ. “Trong hang, lúc cả mặt đá đổ úp xuống, qua đã muốn quay lại. Vì vậy qua mới không dám tin nhanh.”

Hùng nhìn đôi tay nàng. Những vết xước từ cửa hang vẫn đỏ quanh đốt ngón.

“Bậu cho rằng nên ghi thế nào?”

Thanh lấy ba bó thẻ mới chẻ, còn thơm mùi tre.

“Bó dây đen: điều tận mắt thấy. Bộ gỗ và vòng đồng phát ba tiếng khi nước dâng. Phiến đá có đường uốn, hai vòng tròn và bảy dấu Khoa Đẩu rời.”

Nàng đặt bó thứ hai xuống.

“Bó dây vàng: lời người khác kể, ghi riêng từng người, chỗ lời thay đổi, và cảnh Thiết Khuyết không chắc mình từng thấy hay nằm mơ; cả việc Thiết ấy đã nghe lời ba người kia hay chưa, cũng mới chỉ có lời Thiết ấy.”

Bó cuối không buộc dây.

“Câu hỏi và điều đoán. Có thể đây là bản ghi một mối bến, kho hoặc dẫn nước. Có thể các dấu nhọn là hướng, cũng có thể không. Cảnh Thiết Khuyết kể có thể dính tới phiến đá, cũng có thể chỉ do hình khắc gợi ra.”

Hùng cầm một sợi dây, tự buộc bó cuối lại bằng nút lỏng.

“Buộc thế này. Đủ để không rơi, nhưng tháo được khi có chứng mới.”

Thanh nhìn nút dây rồi mỉm cười. “Được.”

Đó là lần đầu từ sân cân, hai người cùng buộc một thứ mà không ai phải rút lời.

• • •

Xế trưa, nước rút khỏi chân chợ để lộ một đoạn bờ bị khoét sâu.

Dân chợ chặt những cành thân mềm, cắm xiên thành hai hàng rồi đan cỏ vào giữa. Tánh nhảy xuống phụ. Nó đóng cây đầu tiên thẳng đứng và nện sâu đến mức bùn bắn lên mặt bà Cói.

Bà quệt bùn, quát:

“Mày định giữ bờ hay dựng cột tế trời?”

Tánh khựng lại.

“Cắm thẳng mới chắc.”

“Nước thúc ngang, cọc thẳng bật cả gốc. Đặt nghiêng theo dòng.”

Bà kéo cây thứ hai cúi xuống, đan nó với cây đầu. Không ai bẻ gãy được cành ấy, nhưng nó vẫn chịu uốn theo tay.

“Mềm quá,” Tánh nói.

“Mềm mới sống. Cắm xuống bùn, nó ra rễ. Rễ ôm đất, mùa sau bờ tự chắc.”

Tánh làm lại. Lần này nó không dồn hết sức. Nó giữ cành theo góc bà chỉ, nện từng nhát vừa đủ. Cây lún xuống mà vỏ không dập. Léc bán gia súc đang đóng cọc ở đầu kia, nhìn sang, rồi lẳng lặng chuyển cho nó một bó cành. Không ai nói chữ “quái” nào.

Vịnh gọi Hùng và Thanh tới một hố nước cạnh đó. Dưới lớp đất lở có hàng cọc cũ đã hóa đen, cũng đan xiên như hàng cọc mới. Rễ chết ôm quanh đất thành một tấm lưới. Một đầu cọc còn vòng đồng xanh giống vòng trên bộ gỗ trong hang.

Hùng cúi sát.

“Cùng người làm?”

“Chưa chắc,” Vịnh đáp. “Vòng đồng giống nhau, cách buộc cũng gần. Nhưng một vật có thể được người đời sau bắt chước.”

Thanh ghi riêng chỗ nằm, độ sâu và cách đan. Nàng không đặt hàng cọc vào chuyện bến, kho hay hố lắng.

Tánh nhìn những rễ đen.

“Người làm bờ này mất rồi mà bờ vẫn còn.”

“Không còn nguyên,” Vịnh nói. “Nhưng phần rễ đã giữ đủ đất để người sau cắm hàng mới.”

Hùng nhìn những cành non cúi theo dòng nước, rễ chúng rồi sẽ vướng vào hàng cọc cũ. Chàng không nói thêm về ba lời kể. Thanh cũng không ghép chúng lại.

Chàng nhìn Thanh.

“Ghi hàng cọc vào bó điều đã thấy. Mối nối với hang để ở bó điều đoán.”

“Qua đang làm vậy.”

“Còn dấu nhọn chỉ sang Châu bên?”

“Chưa gọi nó là dấu chỉ nữa. Chỉ ghi ba hình gần giống nhau quay khác hướng.”

Hùng gật đầu. “Vậy chúng ta sang Khởi Châu vì đường đã định, không phải vì một mũi nhọn chưa hiểu.”

• • •

Họ ở lại thêm hai ngày.

Không có lời giải nào hiện ra.

Cửa hang bị vùi dưới sườn đất mới. Phiến đá rời được bọc vải và đặt trong hòm gỗ do dân chợ đóng. Thanh sao lại các nét khắc thành ba bộ: một bộ đoàn mang theo, một bộ giao Hựu giữ tại Châu này, bộ cuối cất ở kho cao phòng khi một nơi gặp nạn.

Tánh mang cuộn dây miết sáp lên vườn nhựa trả. Chủ vườn nhìn những chỗ sáp đã mòn vì đá, nghe nó kể sợi dây đã kéo những gì, rồi cắt cho nó một mẩu dài bằng gang tay.

“Giữ lấy. Dây đã kéo người thì không nên nằm cả cuộn một chỗ.”

Thức đọc bản ghi của Thanh rất lâu.

“Công Thị không chọn lời nào đúng.”

“Vì chưa có lời nào đứng được một mình.”

“Vậy bản khắc có ích gì?”

“Nó cho biết phải tìm gì để soát: dấu dẫn nước, nơi tụ người, cách báo lũ và những dấu chữ cùng kiểu.”

Hùng nói thêm:

“Nó cũng dạy bọn ta không được lấy đầu mối của Châu này ép Châu sau nhận là đúng.”

Thức đóng ấn đất nung vào cuối bản.

“Bề tôi làm chứng cho vật được tìm thấy ở đây. Không làm chứng cho điều chưa ai biết.”

Ông ta rút từ ngực áo bản thẻ đã đóng dấu đêm mưa, đặt cạnh bản mới.

“Bản này bề tôi vẫn gửi tới người giữ ranh. Chậm là chậm, thêm người là thêm người; bề tôi không xóa.” Ông ta nhìn Hùng. “Nhưng gửi kèm một dòng do chính bề tôi viết: cai đường đã cắt bè của đoàn để nối dây, và đã thấy vì sao họ quay lại. Người giữ ranh đọc cả hai rồi tự xét.”

“Tôi không xin hơn thế,” Hùng đáp.

Đó là lần đầu chàng xưng “tôi” với ông ta. Thức nghe ra, và cúi đầu, rất nhẹ.

• • •

Sáng hôm sau, đoàn sửa soạn lên đường.

Hựu phải ở lại. Đêm lũ bị khiêng chạy trên phên, chỗ sườn đang liền lại động; thuốc dự trữ thì đã theo bè. Khi nghe Bách nói cần ít nhất một tháng nằm yên, người lính giận đến mức đòi tự bước qua sân. Bách ấn một ngón tay đúng chỗ sườn đang liền. Hựu tái mặt, nằm im.

“Đi được thì đừng rên,” Bách nói.

“Thiết chơi ác.”

“Ta chữa người cứng đầu bằng cách nhanh nhất.”

Hùng giao Hựu giữ bộ bản chép ở Châu này.

Hựu nhìn bó thẻ sao, mặt sa sầm. “Công Tự tưởng đưa việc cho là tôi quên mọi người bỏ tôi lại à?”

“Không.”

“Vậy còn đưa?”

“Vì ta cần người đủ cứng đầu để không cho ai sửa chúng.”

Hựu định gắt, nhưng câu chửi mắc lại ở cổ. Hựu vuốt mép bó thẻ, nói nhỏ hơn: “Nếu các người về muộn, tôi mang thẻ đi tìm.”

Bách đang quấn lại băng cho Hựu, siết mạnh nút dây.

“Mày bước nổi ra khỏi sân trước đã.”

Hựu đau đến méo mặt. “Thiết không thể nhẹ tay một lần sao?”

“Có. Với người biết nằm yên.” Bách thắt xong nút, bàn tay để yên trên vai người lính lâu hơn cần. Ông đã để lại một túi lá thuốc và dặn bà Rơm ba lần cách sắc.

Việc ấy không làm Hựu vui hẳn, nhưng đủ để người lính thôi coi mình là kẻ bị bỏ lại.

Tánh đứng ở cửa, không dám vào. Hựu thấy.

“Lại đây.”

Nó lại gần, hai tay giấu sau lưng.

“Ta chưa tha chuyện cái bẫy,” Hựu nói. “Mày về đây thì ta tính.”

“Dạ.”

“Nên mày phải về.”

Tánh ngẩng lên. Hựu đã quay mặt vào vách, như người đang rất bận ngủ.

Dân chợ góp từng thứ nhỏ: gạo rang, dây, hai tấm áo dầu đã vá, một nồi đất và ít lá thuốc. Mẩy đong gạo, đong đầy rồi còn vun thêm. Cự đặt xuống một xâu cá khô, không nói là cho ai. Bà Cói đưa Tánh bó cành non đã róc lá.

“Mang làm gì?” nó hỏi.

“Đan giỏ, làm nẹp, buộc mái. Tới nơi đất lở thì cắm xuống. Sống được, nó giữ đất cho người sau.”

Khuyết đứng ở mép sân với một cái bọc nhỏ trên vai. Ông không xin. Ông chỉ nhìn cái hòm gỗ đựng phiến đá như nhìn một người quen sắp đi xa.

Hùng hỏi: “Thiết muốn đi đâu?”

“Chỗ nào cái hòm ấy đi.” Khuyết nhìn xuống đôi tay mình. “Ta gánh được, chẻ tre được. Ta không hứa nhớ thêm điều gì.”

Hùng nhìn Thanh. Thanh nhìn Vịnh.

“Thêm một miệng ăn,” Vịnh nói. “Lần này ghi tên trước khi đi, đừng để cai đường nào đọc thiếu.”

Thanh rút bản nhận người. “Bọn tôi không nhận Thiết để chờ Thiết nhớ. Hòm đá cần hai vai, Can Du không khiêng suốt được; đoàn thiếu một người đổi đòn.”

Nàng ghi tên Khuyết ngay dưới tên Tánh.

Sậy chạy tới sau cùng, đưa Tánh một túi hạt giống đã hong khô.

“Không phải để ăn,” nó nói. “Để gieo. Can đi nhiều nơi thì thử xem nó mọc ở đâu.”

Tánh nhận túi hạt rồi tháo mẩu dây nhỏ buộc ở cổ tay, cạnh cái thẻ trắng, đưa lại. Đó là mẩu chủ vườn đã cắt cho nó.

“Dây này từng kéo người khỏi nước.”

Sậy nhìn đoạn dây ngắn. “Ngắn thế thì kéo được ai?”

“Buộc thêm dây khác.”

Con bé nắm mẩu dây trong lòng bàn tay. Nó vẫn sợ nước đêm. Nhưng giờ nó có một thứ từng thắng nước.

Hai đứa huých vai nhau thay lời từ biệt.

Đoàn rời chợ khi nắng chiếu xuống con đường còn sũng nước.

Hùng đi đầu cùng Vịnh. Tánh và Du khiêng hòm đá trên một cây đòn; Tánh giữ đầu đòn trước, ngay sau lưng Vịnh như đã hứa, bó cành mềm ngang lưng, túi hạt của Sậy buộc trước ngực. Bách mang số thuốc ít ỏi. Thanh đi giữa, ba bó thẻ đặt trong túi kín. Người coi lương và hai người gánh đi cuối, gánh nhẹ hơn hẳn lúc tới. Khuyết đi sau cùng, gánh phần gạo rang dân chợ góp, cách mọi người vài bước, như chưa tin mình được đi chung.

Đến ngã rẽ, Hùng ngoái lại. Hai hàng cành mới đang cúi theo dòng nước dưới chân chợ. Chúng chưa đủ rễ để giữ cả bờ, nhưng đã giữ được những nắm đất đầu tiên.

• • •

Xế chiều, họ tới cọc ranh phía đông của Cương Châu.

Người giữ ranh đọc bản thẻ của Thức, đọc dòng viết kèm, rồi đọc bản nhận người. Ông ta nhìn Tánh, nhìn Khuyết, nhìn cái hòm đá, và nhấc cây chắn đường mà không hỏi câu nào.

Vịnh dừng lại ngay dưới cọc ranh.

“Hết Cương Châu rồi.”

Tánh đặt đầu đòn xuống. Mặt nó tái đi. Nó đã chờ câu này từ đêm mưa.

“Ba điều,” Vịnh nói. “Không dẫn đường một mình: mày giữ. Biết mà giấu: mày không giấu, cái khe đá là mày nói ra. Không tự rời hàng: mày phá.”

“Dạ.”

“Phá rồi mày làm gì?”

Tánh nuốt khan. “Địa... tôi hét lên khi nước về. Rồi tôi xuống. Rồi tôi đi sau lưng Cư từ bữa ấy.”

“Mày còn quên một việc. Mày tự buộc lại cái thẻ.” Vịnh nhìn cổ tay nó. “Ta tính rồi. Ba điều ấy hết hạn ở cọc này. Từ đây chỉ còn một: đi đâu thì nói với một người trong đoàn trước khi đi. Nói với ai cũng được. Nhưng phải nói.”

Tánh đứng ngây.

“Thế... tôi được đi tiếp?”

“Tên mày nằm trong bản nhận người rồi, Công Tự ghi chứ có phải ta đâu.” Vịnh quay lưng bước qua ranh. “Nhấc đòn lên. Hòm đá không tự đi.”

Tánh nhấc đòn. Nó nhấc hơi mạnh; Du ở đầu kia chửi một tiếng. Nó xin lỗi, và cười, và không giấu được.

Thanh đứng dưới cọc ranh, rút sợi dây của Mộc ra khỏi túi. Nàng buộc thêm một nút, nút thứ mười lăm.

Mười lăm ngày. Một Châu. Một chiếc trống, một phiên chợ, một cái hang đã sập.

Trong hành trang của đoàn không có lời giải.

Chỉ có một phiến đá rời, ba lời kể, một mảnh nhớ chưa rõ thật giả và những câu hỏi được buộc bằng nút dây còn có thể tháo ra.

Ba ngày sau, mùi khét theo gió tìm đến họ trước cả cột mốc của Khởi Châu.

Qua một dải đồi thấp, cánh đồng hiện ra, đen từ bờ này sang bờ kia. Tro lúa bay lên dưới chân người. Giữa ruộng cháy, dân làng đang bình thản vãi hạt xuống lớp đất còn ấm, trong khi một toán lính ở đầu bờ đã rút giáo chặn đường.

0
Ủng hộ tác giả Arawn Nguyễn Gửi một lời động viên nhỏ để tác giả có thêm cảm hứng ra chương mới.