Huyền Thoại Lục Thập Hoa Giáp

Chương 12: Luật Của Hai Bờ

Đăng: 29/10/2026 14:07 5,853 từ 1 lượt đọc

Tánh đến trước khi gà gáy lần hai.

Nó đứng giữa sân nhà chung của làng Đá Rền, vai đeo một chiếc gùi căng đến méo khung. Hai bàn tay vẫn quấn vải, nhưng một tay cầm gậy, tay kia giữ ba nắm cơm gói lá. Sương còn đọng trên tóc nó, chứng tỏ nó đã đứng đó lâu hơn nó chịu nhận. Thấy Vịnh bước ra, nó lập tức giấu một gói vào trong gùi.

Vịnh hỏi: “Mày mang bao nhiêu?”

“Gấp đôi.”

“Ta thấy ba gói.”

“Một gói nhỏ.”

“Ba vẫn là ba.”

“Tôi khỏe hơn.”

“Bụng mày cũng khỏe hơn à?”

Tánh nghĩ một chút rồi gật đầu rất nghiêm. “Dạ đúng.”

Vịnh giật chiếc gùi xuống soát. Ngoài ba gói cơm còn có một con dao nhỏ, dây, đá lửa, hai quả chua, một cái bẫy chim và một viên đá tròn to bằng nắm tay.

“Mang đá làm gì?”

“Để ném xuống vực nghe sâu.”

“Không có vực.”

“Vậy để ném xuống sông.”

“Sông cũng không cần đá của mày.”

Vịnh bỏ viên đá ra. Tánh lén nhặt lại ngay khi Vịnh quay lưng, nhưng Thanh từ sau cột bước tới, chìa tay.

“Đưa Kỷ.”

“Kỷ lấy đá của Địa làm gì?”

“Giữ đến khi mày quay về.”

“Nếu Địa không quay?”

“Kỷ sẽ ghi là chủ vật tự bỏ.”

Tánh nhìn nàng, không biết nàng nói đùa hay thật. Viên đá nhẵn bóng một mặt, kiểu đá được một bàn tay nắm đi nắm lại nhiều mùa. Cuối cùng nó đặt viên đá vào tay Thanh, đặt rất chậm, như gửi một con vật nhỏ.

Thanh không cười. Nàng bỏ viên đá vào túi áo, cạnh sợi dây của Mộc.

Hùng ra sau cùng, cuộn dây chia khoảng buộc bên hông. Vai chàng đã bớt cứng sau một đêm, nhưng lúc xốc gùi lên vẫn phải nghiêng người tránh chỗ đau. “Mày nhớ lời giao chứ?”

“Tới cột đầu tiên. Không đổi dấu. Không giấu chỗ nguy. Không bỏ đoàn đi chơi.”

“Và nghe Cư Vịnh về đường.”

“Địa biết đường hơn.”

“Nhưng Cư Vịnh quyết đoàn có đi được hay không.”

Tánh xị mặt. “Biết rồi.”

“Nói lại.”

“Địa nghe Cư Vịnh về đường.”

Trên bậc thềm nhà chung, người đàn bà gầy đứng khuất nửa người sau cột. Bà không gọi, cũng không bước xuống. Tánh quay lại nhìn một lần, giơ bàn tay quấn vải lên ngang vai rồi hạ xuống ngay, như sợ ai thấy.

Vịnh đưa gùi lại cho nó. “Đi.”

• • •

Tánh dẫn họ ra khỏi Đá Rền bằng một lối không ai trong đoàn nhận ra là đường.

Nó chui qua khoảng hẹp giữa hai tảng đá, men theo một dòng nước chỉ rộng bằng bàn chân rồi bám rễ cây trèo lên sống thấp. Chỗ có bùn sâu, nó cắm cành đánh dấu. Chỗ vách đá trơn, nó đứng lại chờ Vịnh thử trước, dù vẻ mặt cho thấy nó phải dùng hết nhẫn nại mới không nhảy qua mà khoe.

Thanh đi giữa đoàn; hai lính và hai người vận tải chặn cuối; hai người vận tải kia đã ở lại Đá Rền giúp dựng nhà. Mỗi bậc đá cao, cái gối lại nhắc nàng một lần. Tánh ngoái xuống hai lượt, không nói gì, nhưng từ đó nó chọn những bậc thấp hơn và cắm cành dày hơn.

Đi được gần một canh, họ tới một cây cọc gỗ thấp cắm dưới gốc dẻ. Trên đầu cọc có ba vết chém và một nút dây đã mục.

Tánh chống gậy. “Cột đầu tiên.”

Hùng xem mặt cọc. “Dấu này chỉ gì?”

“Ba lối gặp nhau. Dây quay bên nào thì lối ấy đang đi được.”

“Ai đổi dây?”

“Người đi qua sau cùng.”

“Nếu họ không biết?”

“Thì đừng chạm.”

Vịnh nâng sợi dây mục trên đầu ngón tay. Nút lệch trái, giống hệt cái nút họ đã theo từ đoàn vận tải, nhưng đầu dây quay về đông nam.

Thanh cúi xuống sát cọc. Cái nút đã lần theo họ từ bãi hàng lên kho làng, giờ lại nằm trên một cây cọc giữa rừng, nơi không có kiện hàng nào để buộc. Nàng nhớ lời Mộc dặn qua Miên: gặp nút lạ thì đừng tháo vội. Nàng không chạm vào, chỉ vạch hình nút lên một thẻ tre.

“Đường sang hai làng?” Vịnh hỏi.

Tánh gật. “Đường vòng. Đường nhanh ở bên kia dốc.”

“Đường nhanh có gì nguy?”

“Có một khe phải nhảy.”

“Rộng bao nhiêu?”

Tánh dang hai tay. “Chừng này.”

“Với chân mày hay chân người mang gùi?”

Nó hạ tay xuống một ít. “Với chân tôi.”

Vịnh để nguyên đầu dây. “Đi đông nam.”

Tánh rên khẽ. “Vậy tới trưa mới thấy sông.”

Hùng nói: “Mày đã tới cột đầu. Có thể quay về.”

Nó lập tức bước lên lối đông nam. “Địa chưa chỉ xong.”

“Lời giao chỉ một cột.”

“Can không biết nút này dẫn tới cột nào tiếp theo.”

“Can có Cư Vịnh.”

“Cư Vịnh biết đường nước, không biết đường dê.”

Vịnh hỏi: “Mày vừa gọi đường này là đường dê?”

Tánh nhận ra mình nói hớ. “Dê đi được thì người đi được.”

“Dê có mang ống thẻ không?”

“Dê không cần chữ.”

Một người lính bật cười rồi vội ho che đi. Hùng nhìn đứa trẻ. Nó đứng trên lối đông nam, gùi lệch một bên, mắt không nhìn ai mà nhìn xuống đất, cái kiểu của kẻ biết mình sắp bị bảo quay về. Sau lưng nó là một làng vừa sợ nó vừa cần nó. Trước mặt nó là lần đầu có người hỏi nó đường.

Thanh lên tiếng: “Cho Tánh đi tới sông.”

Hùng nhìn nàng. “Vì sao?”

“Vì thằng Tánh chưa nói dối về cái nguy. Thằng ấy đã đứng chờ khi cần. Và chúng ta phải hỏi đường tới cột mốc chìm.”

Tánh quay lại, mắt sáng lên.

Thanh nói tiếp: “Nhưng nếu tự ý đổi lối, mày quay về ngay, có một Can lính đưa.”

“Địa không đổi.”

“Nếu bỏ đoàn để đuổi chim?”

Nó sờ cái bẫy trong gùi. “Không đuổi.”

“Nếu thấy tổ ong?”

Tánh im lặng.

Vịnh nói: “Quay về.”

“Không lấy mật,” nó đáp thật nhanh.

Họ tiếp tục.

• • •

Gần trưa, dòng sông hiện ra dưới tán cây.

Nó không rộng, nhưng nước sâu và chảy xiết giữa hai bờ đá, đục màu đất sau mấy ngày mưa. Bên bờ tây là một làng nhà sàn mái thấp, lưng tựa rừng lau. Bên bờ đông là những căn nhà gỗ dựng trên nền đá cao. Hai bến nhìn thẳng vào nhau. Giữa sông, một chiếc thuyền không người bị buộc bằng hai sợi dây kéo về hai phía, như con vật mắc bẫy.

Trên thuyền có sáu bó vải thô, một hòm dao gặt và ba túi muối. Mọi món đều ướt. Dây buộc hàng mang nút lệch trái.

Thanh và Hùng cùng thấy cái nút một lúc. Không ai nói ra. Hùng chỉ khẽ gật, còn nàng đã rút thẻ.

Người hai bờ đứng kín mép nước. Bên tây giữ dây mũi, bên đông giữ dây lái. Không ai chịu thả.

Tánh nói nhỏ: “Lại bắt đầu rồi.”

Hùng hỏi: “Việc gì?”

“Bờ Tây Lau nói thuyền dạt vào nước làng họ nên hàng thuộc công cứu vớt. Bờ Đông Đá nói dấu buộc của người họ nên phải trả.”

“Thuyền của ai?”

“Người trên núi. Không thuộc cả hai.”

“Người đâu?”

“Chắc bỏ thuyền lúc nước lớn rồi đi đường rừng tìm.”

Thanh hỏi nhỏ: “Nút trên hàng kia có phải tay mày buộc?”

Tánh nheo mắt. “Xa quá. Nút thì đúng kiểu, tay ai thì Địa chưa biết.”

Một người bên bờ đông nhận ra Tánh, chỉ tay. “Thằng đổi dấu tới rồi!”

Tiếng cười nổi lên ở cả hai bờ. Đó là điều duy nhất hai bờ cùng làm trong buổi trưa ấy. Tánh đỏ tai.

“Tôi không đổi dấu của họ.”

Vịnh hỏi: “Mày đổi dấu ở đây bao giờ chưa?”

“Một lần.”

“Mày vừa nói không đổi của họ.”

“Tôi đổi dấu đường, không đổi dấu hàng.”

“Khác nhau lớn lắm nhỉ.”

Tánh cúi đầu đi nhanh xuống bến. Ở Đá Rền người ta sợ nó. Ở đây người ta cười nó. Nhìn cái gáy đỏ lựng ấy, Thanh không chắc nó thấy bên nào dễ chịu hơn.

Người đứng đầu Tây Lau là một bà lão tóc bạc tên Lụa. Bà đang nắm sợi dây mũi thuyền, lòng bàn tay quấn vải. Phía Đông Đá do một người đàn ông cao gầy tên Chẩn đứng ra. Ông giữ một thanh gỗ có khắc dấu hàng.

Thấy thẻ công vụ của Hùng, cả hai cùng gọi chàng sang bờ mình.

“Công Tự đứng bên này mới xem được chỗ thuyền dạt!” bà Lụa nói.

Chẩn quát qua sông: “Dấu hàng ở đây, xem nước thì xử được gì?”

Hùng đứng trên doi đá giữa hai lối xuống bến. “Tôi không đến xét xử.”

Hai bờ cùng im một nhịp, rồi cùng phản đối.

“Có thẻ Kinh mà không xét?”

“Vậy tới làm gì?”

“Chức tôi nhận là Khảo Tri Sứ: dò xem lệ được giữ thế nào, không phải xử,” Hùng đáp. “Nếu hai làng bằng lòng cho nghe, chúng tôi ghi. Quyền xử vẫn thuộc Lạc tướng Cương Châu.”

Bà Lụa cười nhạt. “Chờ người của Lạc tướng tới thì muối tan hết.”

Chẩn nâng thanh dấu. “Không cần chờ. Lệ bờ đông đã rõ: vật còn dấu phải trả nơi có dấu.”

“Lệ bờ tây cũng rõ,” bà Lụa nói. “Vật vô chủ được cứu khỏi nước phải chia công cho người cứu.”

“Thuyền có dấu, sao gọi vô chủ?”

“Dấu trên hàng không phải người trên thuyền.”

Hai bên lại kéo dây. Chiếc thuyền xoay ngang, mạn nghiêng. Nước ộc qua be. Một túi muối trượt sát mép.

Vịnh quát: “Thả bớt một dây! Các người xử xong thì chỉ còn nước để chia.”

Không ai nghe. Dây bờ đông căng thêm một nấc. Túi muối chúi đầu xuống.

Tánh lao xuống mép bến, nắm dây bờ tây bằng hai tay rồi kéo giật. Sức nó làm cả ba người đang giữ phía sau loạng choạng, một người ngã ngồi xuống bùn. Mũi thuyền quay lại dòng. Túi muối lăn ngược vào lòng thuyền.

“Tánh!” Thanh gọi.

“Địa cứu hàng!”

“Mày đang chọn một bờ.”

“Địa chỉ kéo cho thuyền thẳng.”

Chẩn bên kia hét: “Thằng Tánh giúp Tây Lau cướp thuyền!”

Bờ đông dậy lên. Hai người đàn ông buông dây lái, chụp lấy sào. Một hòn đá bay qua mặt nước, rơi tõm cách bến tây một sải tay. Bên tây có tiếng đàn bà thét gọi trẻ con lùi lại.

Tánh khựng người. Nếu buông, thuyền lại xoay. Nếu giữ, người bờ đông coi nó đứng về phía bên kia. Máu thấm ra lớp vải trên hai lòng bàn tay nó, đỏ dần theo sợi dây. Nó không buông. Nó ngoảnh lại tìm Hùng, và trong mắt nó là cái nhìn của buổi sáng hôm qua dưới cây cột nhà: nó đã nhấc lên rồi, và không biết đặt xuống bằng cách nào.

Hùng đã bước một chân xuống nước. Cả người chàng muốn lao tới giành lấy sợi dây ấy. Vai chàng nhói lên, và cùng với cái nhói là câu Vịnh nói đêm qua: một bước là đủ sống. Chàng dừng, quay sang Vịnh.

Vịnh đã ở dưới nước tới gối, giọng cắt ngang cả hai bờ: “Hai bên cùng nhả theo nhịp ta! Không kéo. Chỉ giữ thuyền thẳng đến khi cọc giữa được đóng.”

Bà Lụa hỏi: “Ai đóng?”

“Người không thuộc hai làng.”

Vịnh nhìn hai lính. Họ lội ra chỗ doi nông, nước xô ngang hông, đóng một cọc tạm giữa dòng rồi buộc thuyền vào. Hùng lội ra theo, lấy thân mình chắn giữa mũi thuyền và những cây sào bờ đông. Chàng không giơ thẻ. Chàng chỉ đứng đó cho đến khi mũi sào hạ xuống.

Khi con thuyền đứng yên, hai bờ mới chịu thả dây.

Tánh buông tay sau cùng. Sợi dây để lại hai vệt đỏ trên lớp vải. Bách đã đứng sẵn sau lưng nó, mặt sầm như trời sắp mưa.

“Ta bảo không dùng tay.”

“Tôi dùng có một lúc.”

“Một lúc của mày bằng ba ngày thuốc của ta.” Ông ấn nó ngồi xuống đá, tháo vải.

Thanh ngồi xuống bên cạnh. “Sức của mày làm thuyền quay đúng. Nhưng vì mày không báo trước, một bờ tưởng mày chống họ.”

“Nếu Địa báo, túi muối đã rơi.”

“Vậy lần sau hét một câu trong lúc kéo.”

“Hét gì?”

“Nói việc mày đang làm, không nói mình đứng bên ai.”

Tánh nhìn con thuyền. “Giữ thuyền thẳng!”

Vịnh nói: “Hét muộn rồi.”

“Tôi tập.” Nó nhăn mặt khi Bách rắc thuốc. Rồi, rất nhỏ, chỉ đủ cho Thanh nghe: “Họ ném đá.”

“Kỷ thấy.”

“Địa có lấy gì của họ đâu.”

Thanh nhìn hòn đá còn nằm dưới nước nông, tròn và vô can như viên đá trong túi nàng. “Họ không ném mày. Họ ném cái bờ mà họ tưởng mày đứng.”

Tánh nghĩ rất lâu. “Vẫn đau như nhau.”

Thanh không cãi được câu ấy.

• • •

Trước khi nghe hai làng, Hùng gọi hai người vận tải đã theo đoàn từ dưới núi lên. Họ vốn phải về lại đoàn bà Sắn, và họ thuộc lối tắt xuống lạch.

“Hai Thiết mang giúp một lời tới bãi Sậy,” chàng nói. “Đoàn đủ người, không ai bị thương nặng, đang ở sông hai làng. Bảo người coi lương chờ thêm ba ngày nữa hãy gửi tin về trạm.”

Vịnh thêm: “Và bảo giữ khô cái hòm thẻ. Ướt một thẻ, ta hỏi tới người coi.”

Hai người đi ngay khi mặt trời còn đứng bóng.

Rồi đoàn nghe lệ của từng bờ, ở hai nơi riêng.

Tây Lau đưa Hùng và Thanh vào nhà chung ven rừng lau. Giữa gian nhà có một bếp đất nhỏ, trên than chỉ còn một đốm đỏ. Bà Lụa lấy hai mảnh vỏ cây khô úp quanh, dùng ống tre thổi rất nhẹ. Lửa không bùng ngay. Nó đỏ dần dưới lớp tro, rồi bén sang một nhúm nhựa cây.

“Bếp này không tắt từ mùa nước lớn năm trước,” bà nói. “Mỗi đêm một nhà mang than tới giữ. Khi có thuyền gặp nạn, người thấy lửa bến sẽ ra cứu.”

Thanh hỏi: “Thưa Già Thị, lệ cứu vật được truyền cùng bếp?”

“Cùng lời canh lửa: người giữ được mạng lấy một phần mười; người giữ được vật vô chủ lấy một phần ba công; phần còn lại chờ chủ ba lần lửa. Qua ba lần không ai nhận, làng chia theo người cứu.”

“Ba lần lửa là bao lâu?”

“Ba đêm. Mỗi đêm đốt lửa cao ở bến để người tìm thuyền thấy.”

“Nếu vật có dấu?”

Bà Lụa đáp: “Dấu giúp tìm chủ. Nhưng chủ phải tới trong ba lần lửa.”

“Nếu người gặp nạn bị thương, tới muộn?”

“Lệ không nói.”

Bà đáp nhanh, nhưng bàn tay quấn vải dừng lại trên ống thổi. Thanh ghi cả câu đáp lẫn cái dừng ấy.

“Có bản chép không, thưa Già Thị?”

Bà đưa một thanh gỗ đen khói. Trên đó là các hàng Khoa Đẩu đã mòn. Câu đầu còn đọc được: “Vật được kéo khỏi nước...” Phần sau cháy sém, chỉ còn các dấu rời chỉ ba, lửa và chia.

“Thanh này từng ở đâu?”

“Nhà lửa chung, trước khi làng tách đôi. Khi Tây Lau dời sang bờ này, ông bà bọn ta mang nó theo.” Bà vuốt chỗ gỗ cháy bằng ngón cái, nhẹ như vuốt một vết sẹo. “Đêm lũ, Cơ ta ôm nó trong áo mà lội. Cơ mất ba ngón chân vì nước lạnh. Vậy mà bên kia gọi là lấy trộm.”

“Bờ đông nói sao?”

“Họ bảo bọn ta lấy trộm lệ. Nhưng chính họ bỏ lửa để chạy theo đá.”

Sau đó đoàn qua Đông Đá bằng con đò của bến đông. Người chèo không nhìn Tánh suốt quãng sông.

Nhà chung bờ đông không có bếp giữa gian. Trên vách là một hốc đá kín ba mặt, bên trong đặt chiếc đèn nhựa cây nhỏ. Gió sông lùa mạnh qua cửa, nhưng ngọn lửa chỉ nghiêng chứ không tắt.

Chẩn nói: “Lửa này lấy từ bếp chung ngày hai làng còn một. Tây Lau đem thanh lệ đi, bọn ta giữ đốm lửa và dấu hàng.”

Hùng hỏi: “Lệ của bờ đông thế nào, thưa Thiết?”

“Vật có dấu thì trả theo dấu. Người cứu được nhận công do chủ trả. Không được lấy vật người khác chỉ vì nước đẩy sang đất mình.”

“Nếu dấu không còn?”

“Tìm người chứng.”

“Không có người chứng?”

Chẩn im lặng rồi nói: “Giao người giữ lệ định.”

“Người giữ lệ dựa vào đâu?”

“Vào việc đã làm trước đó.”

Thanh hỏi: “Thiết có bản chép không?”

Chẩn lấy một phiến đá mỏng cất trong hòm. Dòng đầu đã vỡ mất nửa. Phần còn lại ghi: “...dấu còn thì trả; dấu mất thì...” Sau chữ “thì” là một vết nứt.

“Hai vật này từng là một?” Hùng hỏi.

“Không,” Chẩn đáp ngay. “Thanh gỗ của họ là lệ cứu nạn. Phiến đá này là lệ hàng trôi. Họ ghép hai việc để lấy hàng.” Ông đặt phiến đá xuống, giọng thấp đi. “Năm kia nước cuốn của ta một thuyền dao, có dấu hẳn hoi. Bên kia đốt đủ ba lửa trong ba đêm mưa mù, không ai bên này thấy. Sáng thứ tư họ chia. Ta đứng trên bến này mà nhìn.”

Thanh chỉ sợi dây buộc hàng trên thẻ nàng đã vạch. “Nút lệch trái này là nút của Đông Đá?”

Chẩn liếc hình vẽ. “Người thuê buộc sao, bọn ta buộc vậy. Dấu khắc mới là của Đông Đá.”

“Ai thuê?”

“Người trên núi. Mỗi mùa một mặt khác.” Ông đậy nắp hòm. “Công Thị hỏi lệ hay hỏi nút?”

“Tôi hỏi cả hai,” Thanh đáp. Nhưng nàng không hỏi thêm.

Bà Lụa ở bờ bên kia cũng nói đúng điều ngược lại: Đông Đá đã tách phần “trả theo dấu” khỏi lệ ba lần lửa để tránh trả công cứu vớt.

Mỗi bên giữ một vật làm bằng, một nửa câu chuyện và một nỗi đau riêng. Cả hai cùng sống bên một dòng nước, nhưng đều tin phần mình mới là dòng chính còn phần kia đã rẽ sai.

Hùng đặt hai bản chép cạnh nhau. Thanh ghi riêng gốc lời của từng bên, không ghép chúng thành một lệ trọn.

• • •

Khi họ trở ra bến, Tánh ngồi xuống, lấy que vẽ hai vòng tròn trên đất rồi nối bằng một nét.

“Hai làng từng là một à?” nó hỏi.

Chẩn đáp: “Trước trận lũ lớn. Sau đó bờ cũ sạt, người lên đá, người sang lau.”

“Ai mang lửa qua?”

“Người của bờ đông.”

Từ bến bên kia, bà Lụa nghe được, hét sang: “Người Tây Lau che than trong nồi đất suốt đêm mới giữ được!”

Chẩn hét lại: “Nồi của ai làm?”

“Đất của ai đào?”

Cuộc tranh lại bùng lên từ một đốm nhỏ.

Tánh nhìn Hùng. “Can không xử thật à?”

“Không.”

“Nếu là Can, Can cho ai giữ hàng?”

Hùng không đáp ngay. Chàng đã có sẵn một câu trong miệng từ lúc đứng chắn mũi sào. Cả hai bờ đang chờ một người mang thẻ Kinh nói câu ấy, và nói ra thì dễ biết bao. Chàng nhớ cha mình hỏi trước ngày đi: đi rồi, Ấu định nghe ai?

“Can chưa biết đủ.”

“Nhưng muối đang tan.”

“Có thể dỡ hàng lên một sàn chung, buộc dấu trước mặt hai bên. Cứu hàng trước không có nghĩa phải định chủ ngay.”

Tánh gật gù. “Giống buộc căn nhà trước rồi mới lấy đồ.”

“Đúng.”

“Sao lúc nào người lớn cũng muốn cãi xong mới cứu?”

Hùng nhìn nó. “Vì họ sợ vừa đưa tay cứu, bờ kia đã bảo họ nhận thua.”

“Ngốc.”

“Mày cũng vừa kéo dây mà không nói.”

Tánh im ngay.

Đến chiều, thuyền được kéo vào doi đá giữa dòng và hàng được dỡ lên một sàn tạm. Hùng xin mỗi bên cử hai người cùng soát. Thanh ghi số bó, dây nào còn, dây nào đứt, dấu nào còn đọc được. Bách mở túi muối ướt, trải phần còn cứu được lên vải.

Hai làng chịu giữ hàng chung một đêm, nhưng không ai chịu nhận lệ của bên kia.

Hùng hỏi về cột mốc cũ.

Bà Lụa nói nó từng đứng ở doi giữa, nơi làng chung họp việc sông. Trận lũ tách bờ đã cuốn mất. Chẩn quả quyết chưa bao giờ có cột; nơi họp là một bãi đá phía đông.

Tánh kéo áo Vịnh. “Có cột.”

“Mày thấy?”

“Mùa cạn năm trước. Đầu cột nằm dưới nước gần doi đá, có rêu như tóc.”

“Sao không nói với làng?”

“Tôi nói. Họ bảo là gốc cây.” Nó cạy một mảng bùn khô trên đầu gối. “Tôi nói ba lần. Lần thứ ba họ bảo thằng đổi dấu thì thấy gì chẳng ra dấu.”

Hùng hỏi: “Mày dẫn được không?”

“Được. Nhưng nước bây giờ cao hơn.”

Vịnh nhìn dòng chảy. “Không lặn lúc này.”

Tánh lập tức nói: “Tôi lặn được.”

“Tay mày còn rớm máu.”

“Lặn dùng chân.”

“Kéo cột dùng gì?”

“Răng.”

Vịnh khoanh tay. Tánh hạ giọng: “Dùng dây.”

“Ngày mai chờ nước xuống.”

Tánh vẫn ngồi ở mép doi, nhìn một dải nước trong rỉ qua chân lau. Dòng sông đang đục sau mưa, riêng dải ấy trong đến thấy cát. Nó lấy mũi que đào thử. Nước không chảy từ sông vào mà từ dưới bờ thấm ra, lặng lẽ đẩy những hạt bùn mịn sang hai phía.

Vịnh quỳ xuống xem. “Mạch nhỏ dưới đất. Nó đã chảy ở đây lâu hơn trận lũ.”

Thanh cắm ba que lau theo đường nước trong. Đường ấy uốn về đúng vùng Tánh nói có đầu cột phủ rêu. Nếu cột từng đứng ở doi họp chung, mạch nước ngầm có thể đã giữ chân cột khỏi bị bùn xiết cuốn sâu hơn.

Không ai coi đó là bằng cớ. Nhưng lần đầu tiên trong ngày, người hai bờ cùng cúi xuống nhìn một mạch nước không thuộc riêng bờ nào.

Rồi bà Lụa phản đối: “Một đêm nữa muối hỏng.”

Chẩn cũng phản đối: “Để qua đêm, họ sẽ chuyển hàng.”

Thanh nói: “Hai bên cùng canh sàn. Không ai mở nếu thiếu người bên kia. Nếu cột có chữ, nó có thể giúp. Nếu không, ít nhất chưa ai mất hàng trong đêm.”

Sau nhiều lời qua lại, họ bằng lòng.

• • •

Khi tối xuống, mỗi bờ nhóm một đốm lửa báo bến theo lệ cũ.

Lửa Tây Lau đặt trên cọc cao, được che bằng phên lau. Lửa Đông Đá nằm trong hốc đá, khuất gió nhưng nhìn thấy từ sông. Hai đốm không giống nhau: một ấm đỏ sau lớp phên, một vàng nhỏ trong hốc tối. Cả hai đều có người thay nhau giữ.

Gió đêm thổi dọc mặt nước. Có lúc lửa Tây Lau gần tắt, một người bờ đông chèo thuyền con sang đưa nhựa khô. Khi ngọn lửa Đông Đá lụi dần, một đứa trẻ bờ tây mang than hồng sang tiếp. Họ làm trong im lặng, không chào nhau, không nhìn mặt nhau, như thể việc giữ lửa chẳng dính gì tới cuộc tranh ban ngày.

Thanh ngồi trên sàn tạm cạnh đống hàng, duỗi cái chân đau, rút sợi dây của Mộc ra buộc nút thứ ba. Hai đốm lửa soi xuống nước thành hai vệt, một đỏ một vàng, chạm nhau ở giữa dòng rồi tan.

Tánh đến ngồi cạnh, hai tay mới thay vải, giơ lên trước mặt như hai cái vồ.

“Đá của Địa đâu?”

Thanh vỗ túi áo. “Còn.”

“Địa tới sông rồi.”

“Nhưng mày chưa quay về.”

Tánh ngẫm câu ấy, có vẻ bằng lòng với nó hơn là với viên đá.

“Cơ mày có biết mày ngủ lại không?”

“Cơ thấy Địa buộc ba gói.” Nó nói như thể vậy là đủ. Thanh nghĩ tới người đàn bà đứng nửa khuất sau cột, và hiểu rằng với bà, vậy là đủ thật.

Nó nhìn chiếc thuyền con chở than qua lại. “Ban ngày ném đá. Ban đêm đưa than. Người lớn lạ thật.”

“Ban ngày họ nhớ mình đã mất gì. Ban đêm họ nhớ người đi sông cần gì.”

“Sao không nhớ một lượt?”

Thanh siết đầu dây. Nàng nghĩ tới bà Lụa vuốt chỗ gỗ cháy, tới Chẩn đứng trên bến nhìn người ta chia thuyền dao của mình. “Vì nhớ một lượt thì nặng lắm, Tánh ạ.”

Nàng đứng dậy, tìm bà Lụa bên cọc lửa.

“Thưa Già Thị, hai bờ vẫn giúp nhau giữ lửa?”

“Lửa bến nào tắt, người đi sông đều nguy.”

“Vậy lệ ấy thuộc bờ nào?”

Bà Lụa không đáp. Bà nhìn sang đốm vàng trong hốc đá bên kia sông, nhìn lâu, rồi cúi xuống cời than.

Ở bờ đông, Chẩn cũng nhìn chiếc thuyền con chở than qua lại. Ông quay mặt đi, nhưng không ngăn.

Lệ có thể bị chia đôi trong lời kể. Đêm xuống, đời sống lại âm thầm nối hai nửa bằng những việc không ai chịu nhận là của chung.

• • •

Sáng hôm sau, nước rút khỏi doi đá gần hai gang.

Bách quấn tay Tánh ba lớp, lớp ngoài cùng là vải tẩm nhựa. “Dây buộc ở bụng. Tay chỉ để bơi. Mày mà nắm vào thứ gì dưới ấy, ta để nguyên cho sông chữa.”

Vịnh buộc dây quanh người mình trước. Tánh phản đối cho đến khi Vịnh ném cho nó đầu dây thứ hai.

“Mày chỉ lặn sau khi ta tìm được chỗ. Không kéo một mình.”

“Tôi kéo khỏe hơn.”

“Nước mạnh hơn mày.”

“Chưa chắc.”

“Quay về Đá Rền.”

“Tôi nghe.”

Họ mượn chiếc thuyền con chở than đêm qua mà chèo ra doi. Người hai làng đứng trên hai bến, không ai hỏi ai, nhưng không ai bỏ về. Vịnh dùng sào dò đáy. Tánh ngồi mũi, chỉ một vùng nước xoáy nhẹ sát tảng đá có hình lưng rùa.

“Dưới đó.”

Vịnh lặn trước. Một lúc sau Vịnh nổi lên, vuốt nước khỏi mặt. “Có vật gỗ hoặc đá, cao hơn đáy. Rêu dày.”

Trên bến đông có tiếng xì xào. Tánh đã cột dây quanh bụng. “Tới tôi.”

“Chờ.”

Vịnh buộc một đầu dây vào thuyền, đầu kia làm vòng trượt. Vịnh chỉ cách luồn quanh thân cột mà không để tay mắc dưới rễ. Tánh nghe được nửa câu đã nhảy xuống.

Nước khép trên đầu nó.

Sợi dây chạy nhanh qua tay Vịnh. Vịnh siết lại, chửi nhỏ. Hùng và hai lính ghì mái chèo giữ thuyền.

Tánh nổi lên ở phía bên kia tảng đá, ho sặc nhưng cười. “Có cột thật!”

“Buộc được chưa?”

“Chưa.”

“Vậy cười gì?”

“Tôi đúng.” Nó quay về phía hai bến, gào đến vỡ giọng: “Không phải gốc cây!”

Không ai trên bến cười nó lần này.

Vịnh bắt nó thở đều rồi mới cho lặn lần nữa. Lần này Tánh ở dưới lâu hơn.

Sợi dây chạy ra, rồi dừng. Mặt nước xoáy khép lại, phẳng và đục. Vịnh đếm nhẩm bằng môi. Thanh đứng trên doi, bàn tay trong túi áo nắm chặt viên đá tròn mà không biết mình nắm. Hùng nhìn sợi dây. Nó không căng, không chùng, chỉ nằm im trên mạn thuyền như một thứ đã bị bỏ quên.

Rồi dây giật một cái. Giật cái nữa, loạn nhịp.

“Mắc rồi,” Vịnh nói, và đã ngậm dao nhảy xuống trước khi dứt lời.

Hùng chụp lấy đầu dây của Vịnh. Lần này không ai bảo chàng dừng, mà chàng cũng không kéo. Chàng chỉ giữ, đếm từng nhịp tim mình, vai đau buốt, mắt không rời chỗ nước xoáy. Trên hai bến không còn một tiếng động. Một người đàn bà bờ tây đưa tay bịt miệng. Một người đàn ông bờ đông, chính kẻ hôm qua cầm sào, đã lội xuống tới thắt lưng.

Hai cái đầu trồi lên cùng lúc. Vịnh kẹp cổ Tánh dưới cánh tay, kéo nó vào mạn thuyền. Nó ho ra nước, mặt tái xanh, một ống chân rách dài vì rễ cây. Nhưng trong bàn tay quấn vải của nó, đầu dây đã vòng qua vật chìm.

“Ta bảo không để mắc dưới rễ,” Vịnh thở dốc.

“Tôi... nghe có nửa câu.”

“Lần sau nghe hết.”

“Dạ.” Lần đầu tiên từ lúc rời Đá Rền, nó dạ mà không cãi thêm.

Họ không kéo thẳng. Vịnh cho thuyền xoay theo dòng, mượn sức nước nới bùn quanh cột. Tánh muốn giật, nhưng Hùng giữ vai nó.

“Việc cần không phải là cho người ta thấy mày khỏe.”

“Địa biết.”

“Vậy chờ nhịp.”

Dây không đủ người. Vịnh quay lên hai bến. “Cần thêm tay! Mỗi bờ bốn người. Ai kéo trước nhịp ta thì xuống sông mà nâng.”

Một thoáng không ai nhúc nhích. Rồi bà Lụa đẩy vai hai đứa cháu trai. Bên kia, Chẩn tự bước xuống thuyền trước nhất.

Theo hiệu của Vịnh, họ kéo. Vật dưới nước nhích lên, bùn đen trào thành đám. Đầu tiên hiện ra một chỏm đá, rồi một mặt phẳng phủ rêu. Đó là cột mốc bằng đá, không phải gỗ. Phần chân vẫn mắc sâu nên họ chỉ kéo nghiêng được nó tựa vào doi.

Tánh bám mép đá, gồng người. “Thêm một chút!”

Vịnh quát: “Giữ, không nâng!”

Nó nghiến răng nhưng nghe lời. Hùng và Chẩn luồn nêm, vai kề vai dưới nước tới ngực. Người Tây Lau kéo dây phía đối diện. Lần đầu từ khi đoàn tới, hai bờ dùng sức vào cùng một hướng mà không tranh bên nào thắng.

Mặt cột lộ khỏi nước.

Thanh chèo sát, dùng gáo dội bùn. Tay nàng run vì lạnh, và vì một điều khác nữa: nàng sắp đọc một thứ chưa ai đọc từ trước trận lũ. Những nét Khoa Đẩu hiện ra, mòn và đứt. Người trên hai bờ nín thở.

Dòng trên đọc được: “Vật dạt theo nước...”

Dòng dưới còn: “...dấu còn... ba lửa...”

Giữa hai dòng là một khoảng đá mất rộng bằng bàn tay.

Chẩn nói trước, nước còn nhỏ giọt từ cằm: “Dấu còn thì trả. Rõ rồi.”

Bà Lụa từ thuyền bên cạnh đáp: “Ba lửa rồi mới chia. Cũng rõ.”

“Hai câu tách nhau.”

“Ai bảo?”

Những bàn tay vừa kéo chung một sợi dây đã buông ra, lùi về hai phía.

Hùng xem chỗ các nét. Khoảng mất có thể chứa ba chữ, cũng có thể bảy. Cột cho thấy hai phần lệ từng nằm trên cùng một tảng đá. Nhưng phần nào đứng trước, hàng có dấu thì theo vế nào, công cứu tính ra sao, đá không nói.

Thanh chép đúng phần còn lại, để trống chỗ mất. Hai bờ đều đang nhìn ngọn bút của nàng. Chỉ cần nàng viết thêm ba chữ vào khoảng trống ấy, một bên sẽ reo lên và cuộc cãi sẽ xong trước trưa. Nàng nhấc bút khỏi thẻ. Gặp nút lạ thì đừng tháo vội.

Tánh nhìn cột, môi trề ra. “Kéo muốn rời cả hai cánh tay mà vẫn không biết ai đúng?”

“Biết thêm một điều,” Hùng nói. “Hai bên đều giữ được phần có thật.”

“Biết thế thì để nó nằm dưới sông còn hơn.”

Hùng nhìn hai bàn tay nó đỏ rớm dưới lớp vải. “Nếu để nằm dưới ấy, mày sẽ còn nghĩ chỉ cần kéo thật mạnh là có lời đáp.”

Tánh định cãi, nhưng thấy chàng đang tháo dải vải sạch ở cổ tay mình đưa cho Bách, nó quay mặt đi. “Địa đâu có kéo một mình.”

“Ừ,” Hùng nói. “Đó mới là điều đáng nhớ.”

“Vậy ghép lại.”

“Ghép thế nào?”

Tánh chỉ hai dòng. “Dấu còn thì trả sau ba lửa.”

Chẩn phản đối. Bà Lụa lại gật ngay. Tánh thấy vậy liền ngậm miệng.

Hùng hỏi: “Vì sao mày đặt ‘sau ba lửa’ ở cuối?”

“Nghe thuận.”

“Thuận tai không phải là bằng.”

“Vậy cột này có ích gì?”

Thanh đáp: “Nó ngăn mỗi bờ nói phần của mình là tất cả. Nhưng nó chưa đủ để phân xử.”

Gió sông thổi qua. Lửa báo bến đã tắt vì trời sáng. Dưới doi, dải nước trong vẫn thấm ra từ cùng một mạch rồi chia về hai phía; trên mặt đất, người hai làng lại đứng ở hai bên cột đá.

Một giọng đàn bà cất lên từ chiếc thuyền nhỏ phía hạ dòng:

“Cột không thiếu chữ từ đầu. Phần giữa bị đục đi.”

Mọi người quay lại.

Chiếc thuyền không mang dấu làng. Trên đó có ba người, áo vá từ nhiều loại vải, da sạm nước. Họ thuộc đám người sống trên thuyền, thường chở thuê giữa các bến nhưng không được ghi vào sổ của cả Tây Lau lẫn Đông Đá. Không ai biết họ đã neo ở đó từ lúc nào. Có lẽ từ đêm qua, ngoài tầm sáng của cả hai đốm lửa.

Thanh quay lại mặt cột. Nàng đặt ngón tay vào mép khoảng trống. Chỗ ấy không lởm chởm như đá vỡ. Nó lõm đều, từng nhát ngắn.

Chẩn cau mặt. “Ai cho các người xen vào?”

Người đàn bà đáp: “Người thuyền bọn tôi đã dựng lại cột này sau một mùa nước, trước trận lũ lớn. Bọn tôi biết chữ nào từng ở giữa.”

Bà Lụa hỏi: “Sao bao năm không nói?”

“Có ai ghi tên bọn tôi vào người được làm chứng đâu?”

Câu ấy rơi xuống giữa hai bờ, và không bờ nào có sẵn lời đáp.

Thanh đặt bút xuống thẻ mới.

“Cư nói đi. Tôi nghe.”

Chẩn bước lên mũi thuyền. “Công Thị, họ không có tên trong sổ Bộ, không có đất ở hai làng. Lời của họ không thể đứng ngang người giữ lệ.”

Bà Lụa không cãi ông. Lần thứ hai trong một buổi sáng, hai bờ đứng cùng một phía. Lần này là để gạt một kẻ thứ ba ra ngoài.

Thanh nhìn người đàn bà trên thuyền, rồi nhìn khoảng chữ bị mất giữa hai phần lệ. Bên cạnh nàng, Tánh đã đứng dậy từ lúc nào, ống chân còn rỉ máu, mắt dán vào những kẻ vừa bị bảo là không được nói. Nó biết rõ hơn ai hết cái cảnh nói ba lần mà người ta bảo là gốc cây.

“Chính vì họ đứng ngoài hai bờ,” Thanh nói, “có thể họ đã nhìn thấy điều cả hai bên cùng bỏ sót.”

Cuộc tranh chưa có lời phán.

Nhưng từ khoảng trống trên cột đá, một dòng lời khác vừa tìm được khe để chảy vào.

0
Ủng hộ tác giả Arawn Nguyễn Gửi một lời động viên nhỏ để tác giả có thêm cảm hứng ra chương mới.