Chương 11: Đứa Trẻ Nhấc Cột Nhà
Huyền Thoại Lục Thập Hoa Giáp
Mục lục
21 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 21/21 chương
Đốm lửa xuất hiện trên sườn núi khi trời còn chưa sáng rõ.
Nó chỉ lóe lên một lần giữa màn sương, nhỏ đến mức Hùng tưởng mình nhìn nhầm. Sau đó đốm thứ hai bùng cao hơn, đỏ rực trên một mỏm đá rồi bị gió ép rạp. Một cột khói sẫm kéo xiên về phía nam.
Vịnh đang tháo dây buộc bè, vừa thấy đã dừng tay.
“Không phải lửa đốt nương.”
Hùng đứng lên. Vai chàng còn đau vì gùi hôm trước, dù mùi cao vẫn chưa bay hết. “Làm sao Cư Vịnh biết?”
“Đốt nương không nhóm trên đá trọc, cũng không đốt lúc đất còn ướt thế này.”
Bà Sắn bước khỏi tấm che, nheo mắt nhìn sườn núi. “Ba đốm cách nhau mới là gọi người. Một đốm có thể chỉ là người hong áo.”
Như để trả lời bà, trên mỏm đá bùng lên ngọn lửa thứ ba.
Lần này họ nghe cả tiếng mõ, rất xa, bị núi và sương bẻ vụn thành từng nhịp.
Đoàn vận tải quanh bãi lập tức chuyển động. Người cuốn chiếu, người buộc lại gùi, người dùng chân dập than bếp. Không ai hỏi có nên đi xem hay không.
Hùng hỏi: “Lửa ấy gọi việc gì?”
Bà Sắn đáp: “Lửa trên mỏm phía đông báo sạt đất hoặc cháy rừng. Trời mưa thế này thì chỉ còn sạt.”
“Làng nào?”
“Làng Đá Rền, thuộc Cương Châu, ngay dưới chân núi. Mấy kiện hàng dùng nút lệch trái cũng thường đi qua đó.”
Thanh đã lấy thẻ ghi. “Ai giữ lửa hiệu?”
“Nhà nào thấy việc trước thì đem nhựa cây lên đốt. Khi làng bên thấy, họ đốt tiếp ở mỏm kế. Lửa không chỉ gọi người gần. Nó chỉ cho người từ xa biết phải tìm về hướng nào.”
Hùng nhìn ba đốm đỏ đang chống chọi với sương ướt. Từ dưới lạch, chúng nhỏ như những hạt than rơi trên sống núi. Nhưng chính vì nằm cao, một ngọn lửa ít củi lại gọi được nhiều người hơn cả tiếng trống trong thành.
Vịnh cuộn dây bè. “Nếu đi theo nước tới bãi Sậy, chúng ta sẽ vòng khỏi Đá Rền.”
“Đường bộ?”
“Có lối lên theo khe đá. Sau mưa dễ trượt.”
“Mất bao lâu?”
“Không gùi nặng thì trước khi nắng lên. Mang cả đoàn thì lâu hơn.”
Hùng nhìn số hàng dưới tấm che. Lời thề buộc chàng nói rõ chỗ cần tới và cái giá trước mỗi chặng nguy. Nhưng lần này, đích chưa phải một dấu cần dò. Trên núi có người đang gọi cứu. Chàng thấy bụng mình thắt lại, cái thắt quen thuộc của buổi sáng nghe nước dưới nền kho.
Chàng quay sang bà Sắn. “Đoàn vận tải có đổi đường không?”
“Ai mang thứ không sợ ướt sẽ đi giúp. Người có hạt giống và muối cứ theo lạch. Dồn cả vào đường núi thì cứu người này lại làm hỏng phần sống của người khác.”
Bà chỉ bốn người cùng ba gùi cuốc, dây. “Bọn ta cử từng ấy.”
Hùng nói với đoàn mình: “Hòm thẻ, lương, mực và bàn cân nước đi cùng người coi lương theo lạch, chờ ở bãi Sậy. Ba ngày không thấy chúng tôi thì gửi tin về trạm. Tôi, Công Thị Thanh, Cư Vịnh, Thiết Bách cùng hai Can lên núi. Chỉ mang thuốc, dây, dao và một ngày lương.”
Thanh hỏi: “Bản đường?”
“Bản của bậu theo nhóm lên núi. Bản Cư Vịnh vẫn giữ. Bản thứ ba còn ở kho đường.”
Vịnh vỗ ống da bên hông. “Bản của ta vẫn ở đây.”
Hùng gật đầu. “Việc cần làm là tới làng giúp cứu người. Cư Vịnh quyết lối đi. Nếu đường không qua được, chúng ta quay lại, không ép.”
Một người lính hỏi: “Thưa Công Tự, nếu đến nơi việc đã xong?”
“Thì chúng ta mất nửa ngày. Không ai bị phạt vì ngọn lửa gọi cứu hóa ra đã được người khác đáp trước.”
Bà Sắn nghe vậy, nhìn chàng một thoáng rồi cúi buộc hàng. “Câu ấy nên giữ.”
Thanh dặn với bà trước khi đi: “Tới bãi Sậy, nhờ Cư Sắn hỏi giúp người đóng hàng về nút lệch trái. Hỏi riêng từng người, đừng đưa hình ra trước.”
“Hỏi kiểu của Công Thị thì lâu.” Bà Sắn xốc gùi lên vai. “Nhưng ta sẽ hỏi.”
• • •
Lối lên Đá Rền không giống đường.
Nó là một chuỗi chỗ có thể đặt chân: rễ cây lộ khỏi đất, mặt đá nghiêng, hai thân gỗ bắc qua khe nước và những bậc người đi trước dùng cuốc khoét vào sườn dốc. Mưa đêm đã kéo bùn tràn qua nhiều đoạn. Chỗ nào cây giữ được đất, lối còn nguyên. Chỗ nào chỉ có cỏ, cả mảng sườn đã trượt xuống thành một vệt đỏ lẫn đá vụn.
Vịnh đi đầu, dùng cán sào thử đất trước mỗi bước. Hùng theo sau, Bách và Thanh ở giữa; hai lính cùng bốn người vận tải chặn cuối. Cái gối của Thanh nhói lên ở mỗi bậc cao. Nàng bám rễ cây mà leo, không kêu, chỉ có hơi thở là giấu không được. Hùng nghe thấy, đi chậm lại nửa nhịp mà không ngoái đầu.
Họ gặp nhóm người đầu tiên đi xuống khi mới qua nửa dốc. Ba người khiêng một tấm phên, trên đó nằm một người đàn ông chân quấn vải. Máu đã thấm nâu qua lớp lá thuốc.
Bách dừng lại xem. “Gãy xương, buộc chưa chặt.”
Người khiêng nói: “Trên làng còn người mắc. Chúng tôi đưa Thiết ấy xuống bãi thuyền.”
“Sạt lúc nào?” Thanh hỏi.
“Cuối canh đêm. Một mảng núi đổ vào dãy nhà phía bắc. Lửa hiệu do thằng Tánh nhóm.”
“Ai?”
“Tánh. Thằng ấy nghe đất rền trước mọi người rồi chạy lên mỏm đốt lửa.” Người kia vừa nói vừa thở. “Sau đó lại chạy xuống chui vào nhà đổ. Không ai giữ nổi chân.”
Vịnh hỏi: “Bao nhiêu tuổi?”
“Mười ba, có người bảo mười bốn. Hỏi thì chính thằng ấy cũng chẳng nhớ.”
“Quân Cơ đâu?”
“Dân thường trong làng cả. Nhà ở phía tây, không bị sạt. Nhưng chỗ nào đông là thằng ấy chạy tới.”
Người bị thương trên phên mở mắt, thều thào: “Đừng để thằng ấy nâng mái nữa.”
Hùng cúi xuống. “Vì sao?”
“Nhấc được. Chính vì nhấc được nên không chịu nghe ai.”
Bách ở lại nẹp chân cho người bị thương. Hùng muốn chờ, nhưng tiếng mõ trên núi lại dồn ba nhịp. Vịnh bảo hai người vận tải ở lại giúp Bách; hai người còn lại tiếp tục theo đoàn lên làng.
Đến gần làng, họ ngửi thấy mùi nhựa cây cháy từ lửa hiệu trộn với mùi đất mới sạt. Cả một vạt rừng bên trên đã bị xé khỏi sườn. Rễ cây đứt dựng lên như những sợi dây nâu. Đất đỏ phủ qua ba căn nhà sàn; một căn chỉ còn mái, một căn nghiêng xuống khe, căn thứ ba bị thân cây lớn đè ngang.
Người chạy, gọi nhau, chuyền đất bằng rổ. Trẻ nhỏ được gom dưới một mái kho còn chắc. Gia súc buộc lẫn với đồ đạc. Giữa tiếng khóc và tiếng cuốc, một giọng con trai vang lên đầy khoái chí:
“Đẩy nữa đi! Tôi nâng được!”
Hùng nhìn theo giọng nói.
Dưới căn nhà nghiêng, một đứa trẻ đang đứng trong bùn đến mắt cá. Nó gầy theo kiểu người chưa kịp lớn hết chiều ngang, tóc cắt lởm chởm, áo nâu rách một bên vai. Hai cánh tay ôm lấy cây cột chính đã bật khỏi hòn kê. Đầu cột đội xà nhà. Phần mái nặng trĩu phía trên đang nghiêng xuống, nhưng cây cột trong tay nó từ từ được nhấc lên khỏi bùn.
Không phải một cú giật may mắn. Nó nâng thật.
Hùng đứng sững. Sau lưng chàng, một người lính buột ra một tiếng kêu khẽ. Thanh quên cả thở.
Mỗi lần đứa trẻ duỗi chân, cả góc nhà nhích cao thêm một chút. Hai người đàn ông luồn đá kê dưới chân cột. Một bà già bò từ gầm sàn ra, ôm chiếc giỏ có tiếng gà kêu quang quác bên trong.
Đứa trẻ cười lớn. “Già Thị giữ gà hay gà giữ Già Thị mà lâu thế?”
Bà già vừa thoát chết vẫn quay lại mắng: “Tổ tiên mày! Nâng cho chắc, còn nói!”
“Ấu đang chắc đây.”
Nó thử chuyển cây cột sang vai như một người đổi đòn gánh. Xà nhà phía trên kêu răng rắc.
Vịnh quát: “Đừng đổi tay!”
Đứa trẻ quay đầu nhìn người lạ. Chỉ một thoáng lơ đi, chân cột trượt khỏi viên đá mới kê. Cả góc mái sụp xuống một gang. Những người xung quanh la lên.
Nó ghì hai tay, bật mạnh người. Cây cột dừng lại ngay trước khi xà ngang đè vào lưng một người đang bò dưới sàn.
Hùng đã lao tới được ba bước. Hai bàn tay chàng đã giơ ra chực ôm lấy cây cột. Rồi chàng nhớ một tấm ván mục, một tiếng quát, và chính giọng mình hôm qua: tôi tới được. Chàng ghìm chân lại. Chàng không biết cây cột ấy nặng nhẹ thế nào trong tay một người khác.
“Ra hết!” chàng hét. “Không lấy thêm đồ!”
Một người đàn ông trong nhà đáp: “Còn hòm hạt!”
“Người ra trước!”
“Mùa sau lấy gì gieo?”
Câu ấy đâm vào Thanh. Mười hai ngày ở nhà giữ giống đã dạy nàng một hòm hạt là gì. Nhưng nàng nhìn mái. Thân cây đè bên trên đang trượt từng chút trên lớp bùn. Họ không có ngày giờ để tranh bằng những điều lớn.
Nàng gọi: “Hòm ở đâu?”
“Góc bắc, cạnh bếp!”
“Có ai mắc phía ấy không?”
“Không.”
“Vậy bỏ. Người ra hết, mái còn giữ được thì mới quay lại.” Giọng nàng khàn đi ở chữ “bỏ”.
Đứa trẻ đang nâng cột nói vọng: “Tôi giữ được! Lấy hòm đi!”
Vịnh bước tới sát nó. “Công Tự Tánh giữ được cột, nhưng không biết thân cây trên mái còn bám bao nhiêu.”
“Tôi thấy nó chưa rơi.”
“Đến khi Công Tự thấy nó rơi thì đã không kịp tránh.”
“Tôi né được.”
“Còn người dưới sàn sẽ tránh theo cách nào?”
Nụ cười trên mặt đứa trẻ tắt đi một nhịp. Nó nhìn người đàn ông vừa bò ra, lưng áo bị xà quệt rách. Lần đầu, sức nặng trên tay dường như không còn là trò thử sức chỉ dính tới mình nó.
Hùng nói với hai lính: “Dùng dây giữ chân cột. Cư Vịnh xem chỗ buộc.”
“Buộc cột không đủ. Phải ghìm đầu xà về gốc cây phía sau.”
Vịnh chạy vòng nhà, ném dây qua một nhánh còn chắc. Thanh gọi những người đang đào đất tới kéo. Hùng không giành cây cột khỏi tay đứa trẻ. Chàng đứng đối diện nó, đủ gần để thấy mồ hôi chảy thành dòng trên thái dương và hai đầu gối nó đã bắt đầu run.
“Tên gì?”
“Tánh.”
“Tánh, nghe Can. Khi dây căng, hạ cột từng chút vào viên kê. Không nâng thêm.”
“Địa có thể nâng cao hơn.”
“Can biết.”
Câu trả lời khiến nó ngẩng lên. Người lớn quanh làng hoặc hò reo khi nó làm được việc lạ, hoặc quát nó bỏ xuống. Chưa ai bình thản nói đã biết sức nó rồi vẫn bảo dừng.
Hùng tiếp: “Việc cần bây giờ không phải nâng cao nhất. Là giữ cho mọi người ra đủ.”
Tánh liếc vào gầm sàn. Người cuối cùng đang lùi ra, kéo theo một đứa nhỏ ho sặc vì bụi.
“Ra rồi!” ai đó hô.
Vịnh kéo căng dây. “Hạ!”
Tánh hạ cột. Sức lực giúp nó nhấc cả góc nhà, nhưng đặt cây cột đúng vào hòn kê lại khó hơn. Hai lần nó xuống quá nhanh, đá bật ra. Xà nhà rên lên. Lần thứ ba, nó chịu nhìn tay Vịnh ra hiệu. Cột chạm hòn kê, dây ghìm xà giữ đúng góc.
“Lùi!” Vịnh hét.
Mọi người lùi khỏi nhà. Hùng nắm vai áo Tánh kéo theo. Nó còn ngoái lại, như tiếc cây cột.
Thân cây trên mái trượt xuống ngay sau đó. Một nửa căn nhà đổ sập, bụi đất phun ra, táp vào mặt họ. Tánh đứng ngoài tầm đổ chưa đầy hai bước. Nó nhìn đống gỗ, rồi nhìn bàn tay mình. Lần đầu từ lúc họ thấy nó, mặt nó trắng ra.
“Nếu tôi nâng thêm...”
Vịnh đáp: “Thì Công Tự Tánh ở trong đó.”
Tánh im lặng được ba nhịp. Sau đó nó cười lại, nhưng tiếng cười ngắn hơn.
“Vậy lần sau tôi buộc dây trước.”
“Lần sau Công Tự gọi người trước.”
“Gọi rồi mới buộc?”
“Vừa gọi vừa buộc.”
Vịnh quay đi, không để nó thấy khóe miệng mình hơi nhếch lên. Hôm qua Vịnh cũng vừa quát một người lớn hơn nó nhiều bằng đúng giọng ấy.
Một tiếng ục sâu bỗng vọng lên dưới lớp bùn sau căn nhà.
Tánh nghiêng đầu. Nó không nhìn đám gỗ đổ mà nhìn vệt nước đang phồng từng nhịp dưới chân dốc.
“Nguồn bị đất bịt rồi.”
Trưởng làng chưa hiểu thì một dòng nước nhỏ đã phụt qua bùn, đục ngầu và nóng hơi đất. Mặt bùn sau hai căn nhà còn lại căng lên như da trống. Có người hét gọi con. Tánh chộp cuốc định bổ thẳng. Vịnh giữ cán lại.
“Bổ vào giữa, nước bật sẽ kéo cả mảng đất xuống. Mở cho nó một đường trước.”
Tay Tánh giật một cái trên cán cuốc. Rồi nó buông bớt sức.
Họ đào một rãnh xiên về khe cũ. Tánh nén mình, chỉ gạt từng lớp bùn theo tay Vịnh, môi mím đến trắng. Khi nút đất cuối cùng được nhấc ra, nước từ lòng sườn núi bật thành một dòng mạnh, tràn vào rãnh mới rồi lao xuống khe. Mặt bùn đang căng xẹp dần. Những khe nứt thôi rỉ nước.
Người làng ùa tới đặt máng gỗ, dẫn phần nước trong sang chum cứu nạn. Dòng đầu đục như máu đất; qua từng lớp sỏi và rễ, nó sáng dần. Trẻ nhỏ được uống trước, rồi tới người bị thương.
Hùng nhìn dòng nước vừa tìm lại cửa ra. Từ trong lòng núi, nó đã âm thầm dồn sức dưới lớp đất kín; chỉ khi được mở đúng lối, sức ấy mới thôi phá sườn dốc và trở thành nước cứu người. Chàng nhìn sang đứa trẻ đang vốc nước rửa mặt, và nghĩ điều ấy không chỉ đúng với nước.
• • •
Khi việc cứu người qua cơn gấp, sự kinh ngạc mới có chỗ tràn vào.
Những người chưa tận mắt thấy kéo tới hỏi. Có người bảo Tánh nhấc cả căn nhà. Người khác nói nó đội mái bằng một vai. Một đứa nhỏ quả quyết lúc Tánh chạy từ mỏm lửa xuống, chân nó không chạm đất.
Tánh không cải chính. Nó ngồi trên một thân cây đổ, ăn liền ba nắm cơm do người làng đưa, vừa nhai vừa thêm thắt:
“Tôi còn định cầm luôn cây trên mái ném sang khe. Nhưng Can này đến sớm quá, không cho.”
Hùng đang cùng Vịnh xem vết trượt trên sườn dốc, nghe thấy liền quay lại. “Can không nhớ đã ngăn việc ấy.”
“Can bảo không nâng thêm.”
“Một cây cột khác với thân cây lớn bằng ba người ôm.”
“Chưa thử sao biết?”
Những đứa trẻ quanh Tánh cười ầm. Một người đàn bà lớn tuổi kéo chúng ra, mắt không rời hai cánh tay nó.
“Đừng đứng gần quá.”
Tánh nghe thấy. Nụ cười vẫn còn nhưng ánh mắt đổi đi. Nó ném nắm cơm cuối vào miệng, nhảy khỏi thân cây.
Một người khác nói nhỏ: “Sức ấy không phải sức người.”
“Lửa trên mỏm nhóm trước cả lúc đất đổ,” người bên cạnh đáp. “Biết đâu núi báo qua Tánh.”
“Hay núi giận vì Tánh?”
Lời biết ơn và sợ hãi lan nhanh như cùng sinh ra từ một chỗ. Người vừa nhờ Tánh nâng gỗ quay đi làm dấu tránh dữ. Người mất nhà muốn kéo nó tới đặt tay lên vết nứt xem đất còn sạt không. Có người bảo nên đưa nó lên nhà giữ lệ để hỏi điềm.
Tánh đứng giữa đám đông, lúc đầu còn thích thú. Được nhiều người nhìn vốn là điều nó ưa. Nhưng khi một người đàn bà bế con tới, xin nó chạm vào trán để đứa trẻ “được núi cho sức”, nó lùi lại.
“Tôi có cho được đâu.”
“Ấu chỉ cần đặt tay.”
“Tay tôi dính bùn.”
“Bùn núi càng tốt.”
Tánh nhìn quanh tìm lối thoát. Đám trẻ lúc nãy đã bị kéo xa. Ở rìa đám đông có một người đàn bà gầy đứng nắm chặt vạt áo, nhìn nó mà không bước tới. Tánh thấy bà. Nó quay mặt đi trước.
Những người lớn vây quanh nó không còn nhìn một đứa trẻ vừa liều mạng giúp làng; họ nhìn điều mình muốn tin hoặc muốn sợ.
Thanh bước vào giữa.
“Xin mọi người tránh cho Thiết Bách xem tay Tánh.”
“Có bị thương đâu mà xem,” một người nói.
“Chưa xem thì chưa biết.”
Nàng không tranh về điềm lành hay điềm dữ. Nàng gọi đúng tên một việc bình thường đến mức đám đông phải chậm lại. Bách vừa lên tới làng, mồ hôi ướt lưng áo, nghe gọi liền mở túi thuốc.
Tánh nói: “Tôi không đau.”
“Ngồi xuống,” Bách đáp.
“Tôi không…”
Bách ấn vào cổ tay nó. Tánh giật mạnh, suýt hất ông ngã.
“Không đau?”
“Chỗ ấy chỉ hơi nhói.”
“Nhói là đau. Ngồi.”
Tánh miễn cưỡng ngồi lên một tảng đá. Bách xem vai, bàn tay và lưng. Da lòng bàn tay rách ba chỗ, vai trái bầm tím. Sức nó giữ được cột, nhưng thân thể vẫn phải trả giá như bất cứ người nào. Hùng đứng gần đó, bất giác đưa tay lên bên vai đau của mình.
Thanh hỏi những người đã có mặt từ đầu. “Ai thấy Tánh nhận ra đất sắp sạt?”
Một người chỉ vệt bùn ở sườn dốc. “Tánh đi đặt bẫy chim về, nghe đất rền.”
“Rồi làm gì?”
“Chạy lên đốt lửa hiệu.”
“Ai dạy?”
“Cả làng đều biết ba đốm gọi sạt. Trẻ chăn dê thuộc trước khi thuộc đường về nhà.”
“Nhựa cây để đâu?”
“Trong hốc đá dưới mỏm, ai cũng dùng được.”
Thanh ghi từng câu. Đám đông nhìn ngòi bút của nàng, tiếng thì thầm nhỏ dần.
“Điều có người tận mắt thấy,” nàng nói, “là Tánh chạy tới nơi giữ nhựa, đốt ba đốm lửa theo lệ làng, rồi xuống giúp cứu người. Sức của Tánh lớn hơn người cùng tuổi. Còn việc nghe đất rền trước mọi người thì chưa ai ngoài Tánh làm chứng được, tôi ghi riêng.”
Một người hỏi: “Còn việc núi báo qua Tánh?”
“Ai tận mắt thấy núi nói?”
Không ai đáp.
“Việc núi giận vì Tánh?”
Một ông già nói: “Đất sạt đúng đêm Tánh ngủ ngoài mỏm.”
“Ai thấy Tánh ngủ ngoài mỏm?” Thanh hỏi.
Ông già ngập ngừng. “Nghe người ta nói.”
“Đêm trước có mưa không?”
“Có.”
Vịnh chỉ lên vạt sườn đã trượt. “Gốc chặt trên đó đã đen mục, ít cũng hai mùa rồi. Rễ mục, đất no nước thì trượt. Không cần một đứa trẻ nằm trên đá để làm núi giận.”
Ông già cau mặt. “Người bến biết gì về núi?”
“Đủ biết đất không sạt vì nghe tên ai.”
Thanh giơ tay trước khi lời qua tiếng lại bùng lên. “Nếu làng muốn giữ lời về hôm nay, xin ghi riêng: điều đã thấy, điều đoán ra và điều chỉ nghe nói. Đừng biến lòng biết ơn thành một cái tên Tánh phải mang, cũng đừng biến nỗi sợ thành tội của Tánh.”
Người đàn bà chậm rãi đặt con xuống. Tánh ngồi bên Bách, vẻ mặt cố tỏ ra không để tâm. Nhưng khi Thanh nói đến chữ “tội”, đôi vai nó bớt cứng. Ở rìa đám đông, người đàn bà gầy buông vạt áo, thở ra.
Hùng nhìn thấy.
Chàng cũng nhìn thấy một việc khác: Tánh biết chỗ cất nhựa trên mỏm, biết lối chạy xuống nhanh hơn đường làng, nếu đúng như lời kể thì đã nghe ra tiếng đất rền trước mọi người, lại biết căn nhà nào còn người. Sức khỏe là điều khiến mọi người nhìn nó. Nhưng chính sự thuộc núi mới làm ba đốm lửa được thắp kịp lúc.
• • •
Buổi trưa, mưa tạnh hẳn.
Lửa hiệu trên mỏm chỉ còn khói. Những nhóm từ làng bên đã đến, mang cuốc, dây và lương. Họ nhìn đống nhà đổ rồi tự chia việc theo lệ cứu sạt: người đào rãnh thoát nước, người chặt cọc, người đưa người già và trẻ nhỏ sang bờ bên kia con lạch dưới núi.
Hùng cùng trưởng làng xem những kiện hàng còn nguyên. Hòm hạt giống vừa được moi ra từ góc bắc căn nhà sập, một cạnh giập nhưng nắp còn kín. Người đàn ông lúc sáng ôm lấy nó, áp trán vào gỗ, không nói được gì. Thanh đứng nhìn ông một lúc, rồi mới thấy lồng ngực mình nhẹ đi.
Trên hòm có nút dây lệch trái giống hệt các kiện ở đoàn bà Sắn. Những bó cuốc, rìu trong kho cũng vậy.
“Ai buộc?” Hùng hỏi.
Trưởng làng chỉ về phía Tánh. Nó đang dùng một tay nhấc đầu thân cây để người khác luồn đòn bẩy, tay kia cầm nửa củ luộc.
“Phần lớn hàng đi núi là tay Tánh buộc.”
Thanh hỏi: “Ai dạy?”
“Không ai nhận. Tánh nhìn người gùi rồi đổi nút cho dễ tháo lúc chỉ còn một tay rảnh.”
Hùng gọi: “Tánh!”
Nó quay lại, miệng còn đầy thức ăn. “Gì?”
Trưởng làng quát: “Nói với Công Tự cho đúng lễ!”
Tánh nuốt vội. “Thưa Can, việc gì?”
“Nút này do Địa buộc?”
“Cái nào?”
Hùng đưa một sợi lạt. Tánh nhìn qua. “Nút đi sườn dốc.”
“Vì sao lệch trái?”
“Tay phải giữ hàng. Tay trái kéo đầu dây này thì nút bật. Nếu buộc thẳng, ướt mưa phải dùng răng cắn.”
“Ai dùng?”
“Người Đá Rền, người hai bờ sông, người gùi qua sống núi. Ai thấy tiện thì dùng.”
“Nó bắt đầu từ đâu?”
Tánh nhún vai. “Nút thì buộc, cần gì biết bắt đầu?”
Thanh hỏi: “Địa thấy nó đầu tiên ở đâu?”
“Trên gùi của một người từ bờ tây. Hay bờ đông.” Nó gãi đầu. “Lúc ấy Địa đang đuổi dê, không hỏi.”
“Dòng sông nào?”
Tánh chỉ về khe núi phía đông nam. “Qua sống kia. Dưới đó có hai làng nhìn nhau qua nước. Cùng một cái thuyền trôi sang bên nào thì bên ấy cũng bảo luật của mình đúng.”
Hùng và Thanh nhìn nhau. Đông nam. Hôm qua, ba người trao hàng cũng chỉ về hướng ấy.
“Địa biết đường tới đó?” Hùng hỏi, cố giữ cho giọng mình đừng gấp.
Tánh cười, vẻ nghịch ngợm trở lại. “Biết đường nhanh, đường dễ và đường người lớn hay đi lạc.”
“Khác nhau thế nào?”
“Đường nhanh phải leo vách. Đường dễ vòng qua rừng. Đường người lớn hay đi lạc có cột đá nhìn giống nhau, ai cũng tưởng mình nhớ đúng.”
Vịnh bước tới. “Từ đây tới sông mất bao lâu?”
“Tôi chạy một mình thì quá nửa buổi.”
“Đoàn có người mang gùi.”
Tánh nhìn vai Hùng, rồi nhìn ống thẻ của Thanh và túi thuốc của Bách. “Vậy nửa ngày. Nếu Can cứ dừng đo đá thì cả ngày.”
Hùng hỏi: “Sao Địa biết Can dừng đo?”
“Sợi dây thắt nút đều giắt ở hông kia, chỉ người trong thành mới mang lên núi.”
Hùng nhìn xuống cuộn dây chia khoảng bên hông. “Địa tinh mắt đấy.”
“Ai cũng thấy. Chỉ không ai nói.”
Trưởng làng chen vào: “Công Tự định hỏi đường thì ta cử người lớn. Thằng ấy còn ít tuổi, miệng chưa biết giữ.”
Tánh cãi: “Người lớn Thiết cử lần trước dẫn đoàn muối vào bãi đá cụt.”
“Vì mày đổi dấu cành cây để trêu!”
Đám người gần đó cười rộ. Tánh không hề hối lỗi. “Họ đi ba vòng mới nhận ra. Sau đó nhớ đường rất lâu.”
Vịnh khoanh tay. “Công Tự Tánh lấy dấu đường ra đùa?”
“Chỉ đổi hai cành. Không có vực.”
“Người gùi muối mất nửa ngày.”
“Họ mắng cũng nửa ngày.”
Vịnh nhìn Hùng. “Công Tự Tánh biết đường. Và cũng chính là lẽ vì sao không nên giao đường cho một người chỉ vì người ấy biết.”
Tánh cắn nốt củ luộc. “Tôi không xin dẫn.”
“Tốt,” trưởng làng nói.
“Tôi chỉ nói họ sẽ đi chậm nếu theo người khác.”
Hùng không đáp ngay. Tánh đúng là manh mối họ cần, nhưng cũng là một đứa trẻ vừa xem việc đổi dấu đường như trò vui. Sức của nó đã cứu người sáng nay; cái bốc đồng của nó suýt làm mái nhà sập lên chính những người ấy.
Thanh hỏi Tánh: “Địa nhóm lửa hiệu để làm gì?”
“Gọi người.”
“Nếu có kẻ đổi chỗ ba đốm lửa cho vui?”
“Không ai ngu thế.”
“Vì sao?”
“Người ở xa sẽ chạy sai hướng.”
“Dấu cành cũng dẫn người đi hướng khác.”
Tánh mở miệng định cãi rồi ngừng. Nó nhìn lên mỏm đá nơi khói hiệu còn vương. Trò đùa ở lối núi và ba đốm lửa cùng là dấu dẫn đường. Chỗ khác không nằm ở cành hay lửa, mà ở việc ai sẽ trả giá nếu dấu nói dối.
“Địa biết rồi,” nó nói, giọng nhỏ hơn.
Vịnh hỏi: “Biết gì?”
“Không đổi dấu khi có người mang hàng.”
“Chỉ khi mang hàng?”
“Khi có người đi.”
“Còn dê?”
Tánh nhìn Vịnh, nhận ra mình đang bị dồn. “Dê cũng không.”
Một vài người bật cười. Tánh đỏ tai.
Thanh không cười. “Nếu Địa dẫn đoàn của Kỷ, Địa có giữ đúng dấu không?”
“Kỷ muốn Địa dẫn đường à?”
“Kỷ hỏi Địa có làm được không.”
Nó nhìn Hùng, Vịnh rồi nhìn những người trong làng. Cái nhìn của họ vẫn lẫn biết ơn, nghi ngại và chờ đợi. Đi cùng người lạ có thể là một trò mới. Nhưng sau căn nhà sập và câu hỏi về lửa hiệu, nó hiểu câu trả lời sẽ không chỉ dùng cho mình.
“Địa làm được.”
Trưởng làng lắc đầu. “Hỏi gì thằng ấy cũng nhận.”
Hùng đáp: “Chúng tôi chưa nhận Tánh đi. Ngày mai, Tánh dẫn chúng tôi tới cột chỉ đường đầu tiên ngoài làng. Cư Vịnh soát lối. Nếu Tánh đổi dấu, giấu chỗ nguy hoặc bỏ đoàn để chơi thì quay về ngay.”
Tánh hỏi: “Nếu Địa đi đúng?”
“Tới cột đầu rồi tính tiếp.”
“Chỉ một cột?”
“Một cột.”
Nó nhăn mặt, rõ ràng thấy thử quá ngắn. “Được.”
Vịnh nói: “Sáng mai, trước khi gà gáy lần hai.”
“Sớm thế?”
“Không đi thì thôi.”
“Đi.”
“Mang phần ăn của mình.”
“Tôi ăn ít.”
Cả làng cùng cười. Người đã thấy nó ăn ba nắm cơm cười lớn nhất.
Tánh chống chế: “Sáng nay tôi nâng nhà.”
“Ngày mai chỉ đi đường,” Vịnh nói. “Mang gấp đôi.”
• • •
Chiều xuống, người làng Đá Rền nhóm lại lửa hiệu.
Lần này không phải gọi cứu. Họ đốt một đốm dài để báo đã tìm đủ người sống, rồi hai đốm ngắn báo cần gỗ và lương trong những ngày tới. Trên các mỏm xa, từng ngọn lửa đáp lại. Ánh đỏ chuyền qua sống núi, nơi gần sáng trước, nơi xa sáng sau, nhưng cuối cùng cả thung lũng đều biết làng chưa bị bỏ một mình.
Tánh ngồi trên mỏm thấp, hai tay đã được Bách băng lại, vẫn cố dùng răng buộc nút dây vào gùi. Bên cạnh nó có một gói cơm nếp còn ấm. Người đàn bà gầy đã lên rồi xuống, để lại gói cơm và một câu mắng vì cái áo rách vai, không nhắc một lời tới chuyện nâng nhà.
Thanh đến ngồi cách nó một quãng, duỗi cái chân đau. Nàng rút trong áo sợi dây của Mộc đã có một nút, bắt đầu buộc nút thứ hai.
“Thiết Bách bảo không dùng tay tối nay.”
“Địa dùng răng.”
“Nút ấy sẽ giữ được gì?”
“Giữ phần ăn ngày mai.”
“Cư Vịnh bảo mang gấp đôi.”
“Địa buộc ba.”
Thanh nhìn cái gùi nhỏ căng phồng. “Địa định đi một cột hay đi luôn tới sông?”
Tánh không trả lời. Nó cắn đầu dây, kéo mạnh đến mức quai gùi kêu cót két.
“Mọi người sợ Địa,” nó nói bất ngờ. Rồi, nhỏ hơn: “Cơ cũng không dám nắm tay Địa lâu.”
Thanh nhìn lửa trên mỏm đối diện. Nàng không vội dỗ. “Một số người sợ điều họ chưa hiểu.”
“Kỷ không sợ?”
“Có.”
Tánh quay sang, không ngờ nàng đáp vậy.
“Kỷ sợ Địa nghĩ sức mạnh khiến Địa không cần nghe ai. Kỷ sợ người khác thích sức của Địa đến mức xúi Địa làm việc có thể giết Địa. Và Kỷ sợ khi họ không sai khiến được, họ sẽ gọi Địa là điềm dữ.”
Tánh cúi nhìn hai bàn tay quấn vải. “Vậy khác gì họ?”
“Kỷ nói điều mình sợ với Địa. Họ đang nói thay cho núi.”
Nó nghĩ một lúc lâu. “Núi không nói.”
“Sáng nay Địa nghe đất rền.”
“Đất rền là đất rền. Không gọi tên Địa.”
“Vậy nhớ câu ấy.”
Tánh nhìn những đốm lửa nối nhau trên các đỉnh. “Lửa kia cũng không gọi tên ai.”
“Nhưng nó chỉ đường.”
“Nếu có người đốt sai?”
“Thì người nhìn phải soát bằng khói, tiếng mõ và người từ hướng ấy tới. Một dấu không nên đứng một mình.”
Tánh bật cười. “Kỷ nói giống người mang cả kho thẻ trong đầu.”
“Nặng lắm,” Thanh nói, nghiêm mặt như thật. “Bởi vậy Kỷ mới đi chậm.”
Tánh nhìn đôi chân lấm bùn của nàng rồi cười to hơn. Tiếng cười non và giòn, làm người lính ngồi gần đó cũng phải quay đi giấu miệng. Một lúc sau nó mới lí nhí: “Địa tưởng người của Kinh không biết đùa.”
“Kỷ cũng tưởng người nhấc nổi cột nhà thì biết tự buộc gùi.” Thanh kéo đầu dây vừa tuột khỏi vai nó, thắt lại một nút. “Hóa ra cả hai đều tưởng sai.”
Tánh lại cười, lần này ngả cả người ra sau.
“Còn Địa thì đang cười giống người muốn bị bỏ lại sáng mai,” Thanh nói.
Tánh lập tức thôi cười, cúi xuống xem lại nút gùi nàng vừa thắt. Nó nhìn cái nút lâu hơn cần thiết, rồi liếc sang sợi dây trong tay nàng.
“Nút của Kỷ không phải nút núi.”
“Nút của một Già Thị giữ giống trong thành. Mỗi ngày Kỷ buộc một cái.”
“Để làm gì?”
“Để đỡ sốt ruột.” Thanh siết đầu dây. “Và để nhớ có người đang chờ mình về.”
Tánh không hỏi nữa. Nó kéo gói cơm nếp của mẹ lại gần hơn một chút.
Ở dưới làng, Hùng cùng Vịnh xem con đường sang sông. Tấm bản vẽ của trưởng làng có hai bờ, hai cột mốc và hai nét chỉ luật phạt khác nhau. Một bên ghi thuyền trôi sang bờ nào thì người bờ ấy được giữ. Bên kia lại ghi vật trôi phải trả cho nơi có dấu buộc.
“Cùng một dòng nước mà hai luật,” Hùng nói.
Vịnh đáp: “Vì mỗi bờ giữ phần có lợi cho mình.”
“Cột mốc ở đâu?”
“Tánh nói có một cột chìm gần doi đá. Người lớn trong làng bảo không còn.”
Hùng nhìn lên mỏm thấp. Đứa trẻ đang ngồi cạnh Thanh, vừa dùng răng thắt nút vừa lén lấy thêm một nắm cơm bỏ vào gùi.
“Sáng nay tôi suýt giật cây cột khỏi tay Tánh,” chàng nói.
Vịnh không ngạc nhiên. “Ta thấy. Công Tự Hùng dừng sớm hơn hôm qua một bước.”
“Chỉ một bước?”
“Một bước là đủ sống.” Vịnh cuộn tấm bản vẽ. “Đứa trẻ ấy rồi cũng phải học cái bước đó. Có điều Công Tự Tánh khỏe hơn Công Tự Hùng, nên sẽ học chậm hơn.”
Hùng bật cười, rồi im. Nó khỏe hơn người, ham chơi và chưa biết giữ mình. Nhưng nó đã thắp được ngọn lửa khiến các làng nhìn cùng một hướng. Nó biết những đường núi không nằm trên bản vẽ và một cột mốc mà người lớn đã thôi tìm.
Sáng mai, đoàn sẽ để nó dẫn tới cột đầu tiên.
Chỉ một cột.
Ít nhất, đó là điều Hùng và Thanh cùng tin trước khi ngủ.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.