Huyền Thoại Lục Thập Hoa Giáp

Chương 16: Vết Khắc Sau Lưng Trống

Đăng: 29/10/2026 14:07 4,777 từ 1 lượt đọc

Chiếc trống được đặt nằm trên hai cuộn chiếu giữa sân trạm.

Không ai dám dựng nó lên.

Sau bao năm treo sát tường, mặt gỗ phía sau đã hút ẩm. Một vết nứt chạy từ vành vào gần giữa tang trống, mảnh đến mức ban đầu chỉ giống sợi tóc. Vịnh chèn vải dưới hai đầu dây. Du, đã dứt sốt nhưng còn xanh, lấy nêm gỗ giữ thân trống khỏi lăn. Tánh ngồi cách một sải tay, hai đầu gối co lên, cố tỏ ra mình không hề muốn chạm vào.

Thanh dùng chổi lông quét từng lớp bụi.

Các vết khắc dần hiện ra.

Không có một hàng chữ trọn vẹn. Nét sâu nằm dưới nét nông, hình người bị một mảng vá cắt mất chân, dấu giống cọc ranh quay ngang vì ai đó từng thay cả miếng gỗ. Chỗ đen nhất không hẳn là chỗ cũ nhất; có nét được bôi nhựa cây nên sẫm màu hơn phần đã trải nhiều năm.

Hùng cúi sát, nhưng không đưa tay.

“Nếu đọc từ trái sang?”

Thanh lắc đầu. “Chưa biết đâu là trái của người khắc đầu tiên.”

“Mặt trống hướng ra sân.”

“Bây giờ. Còn trước khi thay dây? Trước khi vá tang? Có thể nó từng treo ngược.”

Tánh nghiêng đầu nhìn. “Xoay một vòng thì mũi tên thành chỉ xuống.”

“Bởi vậy chưa được gọi nó là mũi tên,” Thanh nói.

“Thì gọi là cái nhọn.”

“Được. Dấu nhọn.”

Tánh có vẻ bằng lòng vì ít nhất mình đã đặt được tên cho một thứ.

Cấn ngồi dưới mái hiên, hai tay đặt lên cán trượng. Ông nhìn chiếc trống như nhìn một người già đang bị lật xem những vết sẹo kín. Mỗi lần chổi lông của Thanh đi qua một chỗ, ngón tay ông lại siết nhẹ trên trượng. Khi nàng chỉ ba cụm dấu đã thấy từ hôm trước, hình người đứng, đường có cọc, vòng dấu nhỏ, ông gõ trượng ba nhịp.

Hùng hỏi: “Ba dấu ấy đọc là Người, Luật, Nhớ?”

Cấn không gật. Ông chỉ hình người, chạm ngực mình. Chỉ đường cọc, ông dùng ngón tay vạch một ranh trên nền đất rồi đặt trượng ngang qua. Đến vòng dấu nhỏ, ông chạm vào thái dương, sau đó chỉ chiếc trống.

“Người,” Thanh nói. “Ranh, hoặc điều giữ ranh. Nhớ.”

Hùng nhìn đường cọc. “Luật là điều giữ ranh, không chỉ là cái ranh.”

Cấn gõ một tiếng.

Tánh hỏi: “Một tiếng là đúng à?”

Cấn gõ thêm một tiếng nữa.

“Hai tiếng mới đúng?”

Ông lắc đầu, khóe mắt nhíu lại.

Vịnh nói: “Thiết ấy bảo mày im.”

Lần này Cấn gật thật.

Tánh chống cằm, lẩm bẩm: “Tôi chỉ hỏi.”

Hùng không cười. Chàng vẫn nhìn ba cụm dấu. Người, Luật, Nhớ, nếu thật là ba ý ấy, đã hiện ra ở một trạm nhỏ trên đường núi, sau lưng một chiếc trống bị sửa qua nhiều đời. Chúng chưa cho biết gốc gác của những mảnh dấu họ đang tìm. Có tình cờ hay không, chàng chưa dám nói.

“Phải biết dấu nào có trước,” chàng nói.

Thanh đáp: “Và ai đã thêm dấu sau.”

Cấn chống trượng đứng dậy. Ông gọi người giữ kho, dùng tay làm động tác kéo chỉ qua lỗ kim.

Người giữ kho hiểu. “Thiết muốn gọi Già Thị Vá.”

Tánh bật dậy. “Tên Già Thị ấy là Vá thật à?”

“Người ta gọi vậy vì Già Thị sửa được mọi thứ có da và dây.”

“Tên Quân Cơ đặt?”

Người giữ kho nhún vai. “Lâu rồi không ai hỏi.”

Thanh và Tánh cùng im. Cả hai đều nhớ những người dưới thuyền, và một cái tên đang nằm trên thẻ tre trong ống.

• • •

Bà Vá tới khi nắng đã vượt qua đầu tường.

Bà thấp, lưng thẳng, tóc bạc cắt ngang vai. Trên hông đeo một túi kim xương và những cuộn chỉ đủ màu. Vừa thấy trống nằm dưới đất, bà mắng người trong trạm một lượt vì tháo dây mà không gọi bà trước.

“Cái da già rồi. Nghiêng sai một chút là rách. Lúc ấy các người lấy lưng mình mà bịt trống à?”

Người giữ kho chỉ Hùng và Thanh. “Việc của Công Tự, Công Thị.”

Bà Vá nhìn hai người từ đầu xuống chân. “Người có danh cũng làm rách da trống như thường.”

Hùng cúi người hành lễ. “Già Thị nói phải. Xin Già Thị xem giúp trước khi các ấu động thêm.”

Nét mặt bà dịu đi một chút.

Bà không nhìn vết khắc trước. Bà sờ dây, xem nút, ngửi lớp nhựa ở mảng vá rồi dùng móng tay cạo một hạt nhỏ. Bà bảo mang ra ba chậu đất: một chậu nước lạnh, một chậu tro khô và một chậu đựng than còn âm ỉ dưới tro. Hạt nhựa được thả vào nước, nghiền với tro, rồi hơ gần than.

Tánh ngồi sát lại.

“Già Thị làm phép à?”

“Ta xem nhựa gì.”

“Ngửi không biết sao?”

“Mũi mày giỏi thì ngửi đi.”

Nó cúi xuống, hít quá mạnh rồi hắt hơi vào chậu tro. Bà Vá lấy cán kim gõ nhẹ lên trán nó.

“Nhựa trám núi,” bà nói. “Mùa nóng mềm, mùa lạnh giòn. Người ở phía đông sườn hay dùng. Trạm này dùng nhựa dầu, không dùng thứ đó.”

Hùng hỏi: “Mảng vá đến từ nơi khác?”

“Hoặc người vá đến từ nơi khác.”

“Già Thị nhớ ai làm không?”

Bà liếc chiếc trống. “Ta vá mặt da hai lần, thay dây một lần. Mảng gỗ này có trước khi ta về làm dâu Bờ Đá.”

“Ai biết việc trước đó?”

“Người chết biết nhiều nhất.”

Tánh phì cười rồi tự ngậm miệng khi Hùng nhìn sang.

Bà Vá lấy sợi chỉ đỏ đặt theo vết nứt, sau đó đặt chỉ trắng quanh mảng gỗ vá. Bà không đọc dấu; bà đọc cách vật được sửa.

“Tang trống ban đầu gồm sáu mảnh gỗ ghép vòng. Sau đó thay một mảnh ở đây. Lần khác đóng thêm đai trong. Có người đục mỏng chỗ này để trống kêu vang hơn. Người khác lại trám dày vì sợ nứt.”

Thanh hỏi: “Có biết được cái nào trước, cái nào sau không?”

“Biết cái nào đè lên cái nào. Không biết cách nhau bao nhiêu mùa.”

Bà chỉ một vết đục chạy xuyên qua chân hình người. Vết này có sau hình. Một lớp nhựa phủ lên cả vết đục, vậy lớp nhựa còn muộn hơn. Nhưng dấu vòng nhỏ lại được khắc trên lớp nhựa đã khô. Ít nhất bốn lần sửa nằm chồng ở một khoảng chưa bằng bàn tay.

Hùng nói: “Nếu tách theo lớp sửa, có thể dựng lại từng mặt trống.”

Bà Vá lắc đầu. “Dựng được phần còn. Phần bị gọt mất thì chịu.”

“Vẫn hơn đọc tất cả như một hàng.”

“Đúng.”

Cấn gõ trượng một nhịp.

• • •

Họ không dùng mực chà thẳng lên trống.

Thanh sợ mực ngấm vào thớ gỗ và làm những nét nông biến mất. Bà Vá đưa cho nàng một mảnh vải mỏng đã giặt hết hồ. Họ phủ vải lên từng khoảng, dùng bột than bọc trong lớp lá khô vỗ nhẹ từ trên. Nơi gỗ lõm, vải giữ màu sáng; nơi gỗ nổi, than bám đen. Mỗi lớp dấu được dập ra riêng, đánh số theo chỗ nằm chứ chưa theo đời trước sau.

Tánh được giao giữ mép vải.

“Không kéo,” Thanh dặn.

“Địa biết.”

“Nếu tay mỏi?”

“Địa báo.”

“Nếu muốn xem phía dưới?”

“Địa không tự nhấc.”

Vịnh đứng gần đó nghe, khẽ gật.

Buổi sáng trôi qua trong những việc nhỏ và chậm. Du đo độ sâu của nét bằng một que xương mài nhọn. Bà Vá phân biệt các lớp nhựa. Thanh chép. Hùng xếp các bản dập theo lớp trước sau. Cấn dùng trượng chỉ lại hướng treo qua từng thời. Tánh giữ vải, thay than và chạy lấy nước. Ngoài cổng, hai người trực trạm đã lên đường từ tinh mơ, theo dấu Vịnh khắc trên thân cây mà đi lấy mấy chiếc gùi giấu ở hốc; Vịnh định đi cùng, nhưng Cấn chỉ vào mớ dây trống rồi chỉ Vịnh, và Vịnh ở lại.

Tánh không làm hỏng gì.

Gần trưa, Hựu được Du dìu từng bước ngắn ra sân. Bách đi sau, mặt khó chịu như thể người bệnh vừa trộm mất quyền được nằm yên của ông.

Tánh buông mép vải theo hiệu của Thanh rồi mới chạy tới.

“Can ra làm gì?”

“Xem mày có bị trống đè không.”

“Địa khỏe.”

“Ta biết. Trống mới đáng lo.”

Tánh định đỡ, Hựu tránh tay. “Ta tự ngồi.”

Nó rụt tay lại, nhưng kéo một chiếc ghế gỗ đến gần. Hựu không cảm ơn, chỉ ngồi xuống.

Hùng nhìn thấy. Chàng không nói gì, nhưng vai chàng nhẹ đi một chút.

• • •

Đến giữa ngày, năm bản dập được đặt thành vòng quanh miệng giếng.

Bản thứ nhất có hình người đứng một mình, hai tay mở. Bản thứ hai có đường cọc chạy phía trước người. Bản thứ ba thêm một hình giống bàn tay đặt lên đường cọc. Bản thứ tư có vòng dấu nhỏ bao quanh cả người lẫn đường. Bản cuối cùng bị mảng vá cắt ngang, chỉ còn dấu nhọn và ba chấm.

Lộ đứng ngoài vòng, lên tiếng lần đầu từ sáng:

“Rõ rồi. Người dựng luật để giữ điều phải nhớ.”

Thanh hỏi: “Vì sao cai trạm đọc theo thứ tự ấy?”

“Vì nó thuận.”

“Hôm qua lời của cai trạm cũng thuận.”

Mặt Lộ cứng lại.

Hùng không để cuộc cãi bắt đầu. “Chưa ai xếp thứ tự. Mới đang tách lớp.”

Lộ nói, chậm, như người tập đi lại trên một cái chân vừa trẹo: “Sau việc hôm qua, người trong trạm không cho bề tôi tự mình nói thay nữa. Bề tôi chỉ góp lời.”

Cấn đưa mắt nhìn ông ta, rồi chậm rãi gật.

Thanh nói: “Lời được nghe. Nhưng phải đặt cạnh dấu.”

Tánh ngồi bên Hựu, thì thầm: “Cai trạm nói đúng một lần mà khó chịu ghê.”

Hựu đáp: “Mày muốn ghét người thì lời nào của họ cũng phải sai à?”

Tánh nghĩ một lúc. “Không. Nhưng nếu người ấy nói đúng nhiều, Địa càng khó ghét.”

“Thế thì học cách ghét đúng phần.”

“Can nói giống Thiết Bách.”

“Đừng đem ta ra mà rủa.”

Bách đang giã thuốc ở đầu sân, không nghe thấy.

Rắc rối hiện ra ở lớp đai trong.

Muốn xem mép các vết khắc có chạy xuống dưới đai hay không, họ phải soi qua khe hẹp giữa tang trống và vòng gỗ đóng thêm. Không thể tháo vòng; nó đang giữ vết nứt không mở rộng. Bà Vá luồn một lá đồng mỏng vào khe, nhưng chỉ chạm được vài đoạn.

Cấn viết lên đất tên một người: Thạo.

Người giữ kho nói Thạo là thợ làm trống ở xóm Chân Dốc, cách trạm nửa ngày. Lộ lập tức bảo không cần gọi.

“Người ấy đã bỏ nghề. Lại hay uống. Chờ chỉ phí một ngày.”

Cấn gõ trượng, chỉ chiếc trống rồi chỉ đường.

Hùng hỏi: “Già Tự Thạo từng sửa nó?”

Cấn gật.

Lộ nói: “Chỉ làm việc nặng theo lệnh cai trạm trước.”

“Vậy càng phải nghe,” Thanh đáp.

Một người trực trạm trẻ cưỡi con ngựa của trạm đi gọi. Tới xế chiều mới trở lại cùng một ông già gầy, râu mọc lởm chởm và mang theo mùi rượu thật. Vừa xuống ngựa, Thạo đã quát:

“Ai hạ trống của ta?”

Bà Vá chống nạnh. “Trống của trạm.”

“Qua ghép nửa cái tang, không của qua thì của bậu à?”

“Bậu ghép lệch một ngón, qua phải căng lại dây ba lần.”

“Dây bậu se mềm như bún.”

Hai người cãi nhau đến mức Tánh quay sang Hựu hỏi nhỏ: “Cho hai Già đổi chỗ qua cổng đông không?”

Hựu suýt bật cười, phải ôm sườn.

Thanh để họ cãi hết ba lượt rồi mới hỏi Thạo về đai trong.

Ông già ngồi xuống cạnh trống, men rượu trong mắt biến mất nhanh hơn mọi người tưởng. Ông sờ vòng gỗ, gõ từng chỗ bằng móng tay, và bàn tay ấy bỗng không còn run.

“Đai này không phải để giữ nứt,” ông nói.

Bà Vá phản đối: “Không giữ thì vết đã mở.”

“Bây giờ nó giữ. Lúc đóng vào, tang chưa nứt.”

“Sao bậu biết?”

“Qua đóng.”

Lộ chen vào: “Theo lệnh Quân của ta.”

Thạo ngẩng lên. “Quân của cai trạm chỉ bảo thay dây, căng lại mặt da. Người bảo đóng đai, hạ tiếng trống, là Công Tự Cấn.”

Mọi ánh mắt quay về Cấn.

Ông không tránh. Ông chỉ vào cổ mình, rồi chỉ Thạo, sau đó làm động tác khắc lên gỗ.

Thạo gật. “Phải. Sau lần Công Tự ấy mất tiếng.”

Hùng hỏi: “Vì sao đóng đai làm tiếng trống thấp?”

“Vòng trong ép tang. Tiếng không bay xa, nhưng chắc. Trống dùng gọi người quanh trạm, không còn dùng báo qua núi.”

“Và đai che dấu cũ.”

“Che một phần.”

Thanh nhìn Cấn. Hôm qua, chính ông đã ném trượng vì bị người ta bỏ mất một bước của lệ. “Thiết biết đai che dấu?”

Ông gật.

“Vì sao vẫn đóng?”

Cấn đứng yên một lúc. Rồi ông chỉ vết sẹo, chỉ tường. Ông khép hai tay thành mái, đặt một tay xuống thấp như người nằm, tay kia cầm trượng đánh ba nhịp xuống đất. Đánh xong, ông đưa bàn tay lên bịt lấy miệng trượng, như bịt một cái miệng đang kêu.

Thạo nói thay, giọng không còn bỡn cợt: “Năm đó có người tràn qua đèo. Trạm dùng trống lớn gọi các xóm, nhưng tiếng cũng dẫn họ tới. Công Tự Cấn bị chém ở cổ khi giữ cổng. Sau đó chính Công Tự ấy bảo hạ tiếng trống, chỉ gọi người gần tường.”

Bà Vá gật, nhỏ: “Đúng chuyện năm ấy. Ta khâu cái cổ ấy.”

Một khoảng lặng nặng phủ xuống sân.

Lộ đứng sững. Từ nhỏ ông ta vẫn tin, và vẫn kể, rằng Quân mình là người đã hạ tiếng trống để giữ trạm. Ông ta nhìn Cấn, mở miệng, rồi không nói được gì.

Cấn đã che một phần dấu để giữ mạng người. Người vừa giận vì bị xóa mất một bước lệ, chính mình cũng từng lấy gỗ che lên lời của người xưa. Không phải lần sửa nào cũng do kẻ muốn xóa. Có khi người ta làm đau vật cũ để những người đang sống qua được một mùa dữ.

Thanh cúi nhìn bản chép trên đầu gối. Nàng đã ghi Lộ là người bịt cổng. Giờ nàng phải ghi Cấn là người đóng đai, bằng cùng một nét bút, không nhẹ tay hơn.

Nàng ghi.

Cấn nhìn nàng viết. Ông không ngăn. Ông chỉ đặt bàn tay lên tang trống, chỗ vòng đai, và để yên đó.

Hùng hỏi: “Phần dưới đai còn đọc được không?”

Thạo lấy trong túi một chiếc móc xương cong. Ông luồn nó qua khe, móc vào một lỗ nhỏ mà không ai thấy. Từ trong tang trống, một mảnh gỗ mỏng trượt ra như chiếc lưỡi.

Tánh tròn mắt. “Có ngăn giấu?”

“Không. Có miếng chêm. Ta để khỏi quên chỗ ghép.”

Trên miếng chêm có ba dấu khắc thử. Một dấu giống hình bàn tay. Một dấu là đường cọc. Dấu cuối là vòng mắt chim. Thứ tự: tay, cọc, mắt.

Thanh đặt miếng chêm cạnh các bản dập.

“Già Tự khắc theo thứ tự trên trống?”

Thạo gật. “Trước khi đóng đai, ta chép ba dấu bị nó che mất phần chân, để sau này còn biết dấu nào nối dấu nào.” Ông liếc Cấn. “Công Tự ấy bảo ta chép. Che thì che, nhưng không được che mà quên.”

“Hình người đâu?”

“Nằm ngoài đai, ai cũng thấy. Ta không chép.”

Hùng xếp lại: hình người nằm trọn ngoài đai; ba dấu bị đai che mất phần chân lần lượt là bàn tay trên ranh, đường cọc, vòng nhớ. Nhưng vẫn chưa rõ hình người đứng trước hay sau ba dấu kia. Miếng chêm chỉ giữ thứ tự phần bị che.

“Người, Luật, Nhớ,” Thanh nói. “Có thể bàn tay trên ranh mới là Luật, không phải cái ranh. Người làm ra hoặc nhận Luật. Rồi cả làng giữ Nhớ.”

Hùng đáp: “Cũng có thể Nhớ đứng trước, để Người làm lại Luật cũ.”

“Hoặc vòng ấy không phải Nhớ.”

Cấn gõ trượng một tiếng, rồi đặt tay lên ngực.

Ông cũng không biết chắc.

• • •

Chập tối, người coi lương tới trạm.

Ông ta đi bộ ba ngày đường lớn với hai người gánh, áo còn bụi đỏ đến vai. Hòm thẻ khô. Mực còn nguyên hai túi. Bàn cân nước sứt một góc vì người gánh trượt ở dốc, và ông ta trình cái góc sứt ấy trước cả khi trình gạo, như người sợ bị hỏi tội.

Vịnh xem cái hòm rất lâu rồi mới nói: “Khô.”

Người coi lương thở ra.

“Thuyền người sông đưa lời tới bãi Sậy ngay trong đêm,” ông ta nói với Hùng. “Họ không lấy công. Người đàn bà trẻ bế con chỉ dặn một câu: có tên người cho nợ.”

Thanh cúi xuống ống thẻ, không để ai thấy mặt mình.

“Còn lời của Cư Sắn?” nàng hỏi.

“Cư ấy hỏi riêng năm người đóng hàng về cái nút lệch trái, đúng như Công Thị dặn. Năm người năm lời. Chỉ trùng một điều: nút ấy buộc theo ý người thuê, và không ai dám tự đổi.”

Thanh ghi lại. Một câu trả lời nữa không khép được gì, nhưng nó khớp với lời Chẩn ở Đông Đá. Nàng rút thẻ có chữ Linh khỏi ống, đặt cả hai vào hòm, cạnh nhau.

Lúc trời tối hẳn, hai người trực trạm cũng về tới với mấy chiếc gùi còn nguyên dây buộc.

Đêm đó, Hùng không ngủ sớm.

Chàng mang các bản dập vào căn phòng sát kho, xếp chúng lên sàn theo mọi thứ tự có thể. Thanh ngồi đối diện, tóc buộc đã lỏng, cái chân có gối sưng duỗi sang một bên. Giữa hai người là đèn dầu, miếng chêm gỗ và những sợi chỉ màu bà Vá cho mượn. Sợi dây của Mộc nằm cạnh đèn, vừa thêm nút thứ bảy.

Chỉ đỏ nối những nét có trước lần thay tang. Chỉ trắng nối nét thuộc mảng vá. Chỉ đen đánh dấu phần nằm dưới đai. Mỗi lần đổi hướng trống, cả chùm dấu lại quay theo.

Tánh ngủ gục ngoài cửa, đầu tựa vào cột. Nó đã xin thức giúp nhưng chưa qua nửa đêm đã thua. Hựu nằm trong nhà thuốc. Vịnh và Du thay nhau canh cổng cùng người trạm.

Thanh nhìn chồng bản dập. “Chúng ta đang tìm một hàng chữ. Có thể nó chưa từng là hàng chữ.”

“Ý bậu là gì?”

“Có thể người ta không đọc bằng mắt từ đầu này sang đầu kia. Họ đi quanh trống. Mỗi lần tới một dấu thì làm một việc.”

Hùng nhớ những bước Cấn đã làm trong sân: phiến đá, giếng, cổng, trống. Lệ không nằm yên trên một vật; nó sống trong đường người ta đi, chỗ họ đứng và việc họ phải làm với nhau. Chàng nhớ cả căn nhà thuốc hôm qua, nơi chính mình đã đi lại ba bước ấy với một đứa trẻ.

“Vậy hướng treo định chỗ bắt đầu,” chàng nói.

“Phải. Mà trống đã đổi hướng ít nhất hai lần.”

Họ mời Cấn tới. Ông mang theo ba hòn sỏi và một thanh gỗ. Trên sàn, ông đặt sỏi thành hình cổng trạm cũ, trước khi cổng đông bị bịt. Sau đó ông đặt thanh gỗ làm chiếc trống. Mặt có dấu người không hướng ra sân như bây giờ, mà hướng về cổng đông.

Thanh xoay các bản dập.

Khi đặt đúng hướng ấy, ba cụm dấu không còn chồng rối lên nhau. Hình người đứng gần cổng. Bàn tay trên đường ranh nằm kế tiếp. Vòng nhớ ở phía cuối, nơi người đi lễ quay lại sân.

Người bước qua ranh.

Luật giữ cách người bước qua.

Nhớ giữ điều đã được làm để lần sau không phải bắt đầu từ đầu.

Không phải ba mảnh rời. Chúng giữ nhau như lớp đất nện nằm giữa hai hàng đá: mắt thường ít nhìn thấy, nhưng thiếu nó, tường chỉ là những hòn đá đứng cạnh nhau.

Hùng nói rất khẽ: “Người, Luật, Nhớ.”

Cấn đặt tay lên ba bản dập, rồi gật.

Lần này không phải vì ông chắc từng chữ. Ông nhận thứ tự của con đường.

Thanh ghi rõ điều ấy: đây là cách đọc từ chỗ treo trống cũ và phần lệ còn sót, chưa phải nghĩa sau cùng của các dấu.

Hùng nhìn nàng. Đèn dầu hắt lên một bên má nàng còn dính bột than. “Nếu một nơi khác cũng giữ ba dấu nhưng đi theo thứ tự khác?”

“Thì nơi đó sẽ cho biết phần nào thuộc gốc chung, phần nào do người sau đổi.”

“Phải tìm nơi thứ hai.”

“Qua biết.” Nàng dụi mắt bằng mu bàn tay, làm vệt than loang thêm. “Và qua biết bậu sẽ muốn đi ngay sáng mai.”

“Bậu thì không?”

“Qua muốn. Nhưng cái gối của qua và cái sườn của Can Hựu thì chưa hỏi.”

Hùng bật cười khẽ, lần đầu kể từ vách núi.

Cấn dùng đầu trượng kéo dấu nhọn trên một bản dập ra ngoài vòng trống. Sau đó ông đặt một hòn sỏi ở phía đông nam cái hình xếp trên sàn.

Theo cách Cấn xếp, dấu nhọn không nằm trong chuỗi Người, Luật, Nhớ. Có lẽ nó được thêm sau, như lời chỉ đường của một đời giữ trống.

Nhưng chỉ tới đâu?

• • •

Sáng hôm sau, họ tìm phần đuôi dấu nhọn dưới mảng vá.

Bà Vá không cho tháo miếng gỗ. “Tháo là tang trống nở. Các người tìm được đường nhưng làm trống câm luôn thì có đáng không?”

Tánh nói: “Thì trạm đã có Thiết Cấn câm...”

Nó tự dừng trước khi hết câu, mặt tái đi.

Cấn nhìn nó.

“Tôi xin lỗi,” Tánh nói ngay. “Tôi không định lấy chuyện Thiết không nói được ra đùa.”

Cấn im lặng, thứ im lặng duy nhất ông có. Tánh càng cúi thấp. Hai bàn tay quấn vải của nó nắm lại rồi mở ra; nó không biết phải làm gì với một lỗi không ai mắng.

Một lúc sau, ông đưa cán trượng gõ nhẹ vào cái thẻ trắng trên cổ tay nó, rồi chỉ chiếc trống. Ông không tha bằng lời, cũng không làm nó bớt xấu hổ. Ông chỉ nhắc rằng cả người lẫn vật đều có thể mất tiếng mà vẫn còn điều cần nói.

Tánh lùi ra sau Vịnh, lần này không nói thêm.

Thạo bảo soi từ khe đai. Ông mài một mảnh vỏ trai cho sáng mặt, buộc vào que tre rồi luồn sau mảng vá. Thanh giữ đèn ở góc thấp. Ánh sáng hắt qua vỏ trai, hiện lên mặt trong một vệt khắc cong.

Họ nhìn từng đoạn, chép lại lên đất.

Đuôi dấu nhọn không phải một đường thẳng. Nó chia thành hai nhánh. Một nhánh đi về đông nam. Nhánh kia vòng xuống nam rồi dừng ở ba chấm.

Lộ nói: “Ba chấm là ba ngày đường. Hướng đông nam rõ rồi.”

Thạo cãi: “Ba chấm trên trống thường là ba nhịp gọi.”

Bà Vá nói: “Có khi là ba bến.”

Người giữ kho lại nhớ phía nam có ba gò đá. Vịnh bảo đông nam có một đường cũ nhưng mùa mưa gần như không qua được. Du cho rằng dấu chia hai không phải hai đường, mà là một đường đi và một đường nước.

Ai cũng có lý.

Không ai có đủ bằng cớ.

Hùng không chọn nghĩa thuận tai nhất. Chàng nhờ Thanh chép tất cả cách hiểu, ghi tên người nói và điều họ dựa vào. Sau đó chàng trải bản đường của đoàn cạnh dấu.

Con đường đông nam dẫn tới một phiên chợ lớn trước ranh Châu kế tiếp. Đường nam dẫn xuống chuỗi bến nhỏ rồi cũng vòng về khu chợ ấy. Hai nhánh khác nhau nhưng gặp cùng một vùng.

“Ta tới chợ,” Hùng nói. “Không nói chắc rằng dấu chỉ chợ. Chỉ coi đó là nơi gần nhất hỏi được cả người đường bộ lẫn người đường nước.”

Vịnh hỏi: “Đi nhánh nào?”

“Cư Vịnh quyết theo người bệnh và trời.”

Vịnh chọn đường nam. Dài hơn nửa ngày nhưng ít dốc, có ba bến để nghỉ cáng Hựu. Dấu nhọn chưa được giải, nhưng chọn đường đi thì không cần giả vờ rằng nó đã rõ.

Trước khi đoàn rời trạm, người Dốc Sim mang tới hai giỏ gạo đổi lấy muối. Người Bờ Đá góp dây và một tấm áo dày cho Hựu. Không ai gọi đó là đền bù. Họ chỉ đặt vật xuống kho chung, để người giữ kho chia. Gạo của Lạc tướng không cấp thêm; gạo của hai xóm thì không cần lệnh ai.

Lộ đứng cạnh cổng đông mới mở, không còn chắn đường. Khi Hùng đi qua, ông ta cúi người.

“Công Tự có mang chuyện của bề tôi về thành không?”

“Tôi mang chuyện của trạm,” Hùng đáp. “Trong đó có phần cai trạm làm sai, cũng có phần cai trạm cùng sửa.”

Lộ ngẩng lên, ngạc nhiên.

“Nếu chỉ ghi cai trạm là kẻ xóa lệ,” Hùng nói, “tôi cũng phạm đúng điều mình vừa học từ chiếc trống.”

Lộ nuốt khan. “Nhưng phần sai vẫn được mang về?”

“Có.”

“Công Tự không thể bớt một dòng?”

Hùng nhìn cổng đông vừa mở. Một đứa nhỏ đang rón rén bước qua, tay nắm chặt vạt áo người đàn bà đi trước. Bước qua rồi, nó ngoái lại nhìn cái lỗ tường như không tin mình vừa đi được.

“Nếu bớt dòng ấy, lần sau người ta lại xây kín cổng và bảo chưa từng có ai mắc ở ngoài.”

Lộ cúi đầu. Rất lâu. “Vậy... xin ghi cả việc bề tôi đã mở lại. Và ghi rằng người hạ tiếng trống năm ấy không phải Quân của bề tôi.”

Câu sau cùng, không ai đòi ông ta nói.

“Tôi sẽ ghi,” Hùng đáp. “Đủ cả hai.”

Cấn đứng phía trong tường. Ông gõ trượng ba lần khi đoàn đi qua: một nhịp cho người lên đường, một nhịp cho ranh được giữ, một nhịp cho điều phải nhớ.

Không ai nói thay thành lời. Nhưng lần này, mọi người trong đoàn đều hiểu đủ để bước tiếp. Tánh, vai đặt dưới đòn cáng, giơ cổ tay có cái thẻ trắng lên. Cấn không gật. Ông chỉ gõ thêm một nhịp thứ tư, rất nhẹ, không thuộc lệ nào.

• • •

Ba ngày sau, họ tới phiên chợ nằm giữa đường bộ và bến nước.

Chợ đông đến mức tiếng mặc cả vọng ra ngoài hàng rào tre. Người bán cá ngồi cạnh thợ rèn. Thuyền chở gạo ghé sát bãi trâu bò. Mùi mắm, mùi than lò, mùi phân trâu và mùi bánh nướng trộn vào nhau dưới những mái lá thấp. Trên một cột cao treo ba tấm thẻ chỉ ba lối đi, trong đó có một dấu nhọn gần giống vết sau lưng trống, nhưng đầu dấu quay ngược.

Tánh vừa nhìn thấy đã định gọi to. Nó nhớ lời dặn, đi tới cạnh Thanh trước.

“Kỷ xem cái kia.”

Thanh nhìn theo, chưa kịp trả lời thì giữa chợ vang lên tiếng khóc của một đứa trẻ.

Một bé gái ôm chiếc giỏ rách, đứng giữa ba quầy hàng. Người bán gạo kéo nó về phía mình. Người bán cá giữ cánh tay còn lại. Một bà làm bánh chắn trước mặt cả hai.

“Ấu này ở quầy ta hai mùa,” người bán gạo nói.

“Quân của ấu ấy mắc nợ thuyền cá, ấu ấy phải về với bọn ta,” người bán cá đáp.

Bà làm bánh quát: “Cả hai chỉ nhớ phần ấu ấy làm được. Lúc ấu ấy sốt, ai mang cháo?”

Đứa trẻ khóc không thành tiếng.

Trên cột chợ có treo một bản lệ mới, chữ còn rất rõ.

Theo đúng mặt chữ, chỉ một trong ba người có quyền giữ nó.

Nhưng bàn tay đứa trẻ đang nắm cả ba vạt áo.

0
Ủng hộ tác giả Arawn Nguyễn Gửi một lời động viên nhỏ để tác giả có thêm cảm hứng ra chương mới.