Thiên Ngoại Khách Lai: Đại Diễn Sấm

Quyển 1: Quỷ Kiệu Nghênh Lang

Chương 12: Đêm Đầu Tiên Ngoài Ngục

Đăng: 13/10/2026 07:38 2,721 từ 8 lượt đọc

Người ở phòng này trước tên là gì? Bà chủ trọ đã nhắc tới người ấy hai lần mà không lần nào gọi tên, người thư lại già thì chỉ lo đọc danh mục đồ đạc của Trác Vương rồi đi, còn Bạch Tú Tài chưa hề nói một câu nào về cái góc có tay nải và tráp sách. Hồi trống chiều dồn gấp thêm mấy đợt rồi dứt hẳn, cổng phường chắc đã đóng, mà Trác Vương vẫn đứng tựa lưng vào cánh cửa vừa cài then. Đôi mắt anh đặt ở đúng cái góc mà lúc nãy bà chủ trọ ngó qua vai anh để nhìn vào.

Qua ô cửa sổ, Trác Vương thấy ngoài sân chẳng phòng nào còn hắt ánh đèn dù trời vừa sập tối. Ban sáng, giữa đại lộ, Bạch Tú Tài nói mùa này hễ trống chiều dứt thì nhà nào cũng thổi đèn. Bây giờ Trác Vương mới hiểu đó không phải lời nói quá: cả một dãy trọ sĩ tử, những người lên kinh để đèn sách, hẳn đang ngồi im trong tối. Người ta ra khỏi ngục thì về nhà. Trác Vương ra khỏi ngục thì được đưa tới căn phòng của một người không về. Trong cả kinh thành, ngoài chỗ này, anh chẳng còn nơi nào khác để tới.

Trác Vương nhấc cây đèn dầu ở đầu án thư lên và thấy nó nhẹ bẫng. Đĩa đèn chỉ còn một lớp dầu mỏng láng dưới đáy, đầu bấc đã cháy sém thành than. Anh đoán đó là chút dầu người ở trước để lại từ đêm cuối cùng còn ngồi bên án thư này. Lúc sáng, bà chủ trọ chỉ đứng ở ngưỡng cửa, mắt không rời cái góc kia mà chân không bước qua. Cho nên Trác Vương ngờ rằng từ ngày người ấy đi, chưa ai động tới đồ đạc trong phòng này.

Dưới chân đèn có một bộ đánh lửa gồm một mẩu thép cong, một hòn đá lửa sứt cạnh và một nắm bùi nhùi khô. Trác Vương từng giảng cho đám học trò mê vật lý rằng thép cạ mạnh vào cạnh đá sẽ bứt ra những vụn thép li ti. Nó nóng tới mức bốc cháy ngay giữa không khí. Có điều giảng thì một câu là xong, còn tự tay đánh thì anh phải tới lần thứ chín mới có một tia lửa chịu rơi trúng bùi nhùi. Anh khum tay thổi cho đốm đỏ bùng lên, châm đèn, rồi kéo bấc thụt vào cho ngọn lửa chỉ còn một búp nhỏ xíu. Cả dãy trọ đang tối nên Trác Vương đặt đèn xuống nền nhà cạnh tay nải và tráp sách, khuất sau chân án thư, cho ánh lửa khỏi lọt ra ô cửa sổ.

Trác Vương ngồi xuống bên ngọn đèn, phủi lớp bụi mỏng trên nắp tráp mà chưa mở ra. Từ ngày đứng lớp, anh chưa từng lục cặp sách của đứa học trò nào, vậy mà giờ anh sắp lục đồ của một người mình còn chưa biết tên. Anh nói khẽ với cái góc ấy như nói với một người đi vắng:

"Tôi chỉ tìm tên anh thôi."

Tay nải chỉ có mấy bộ áo vải mỏng, giặt nhiều tới bạc màu, khuỷu tay vá chồng hai lớp bằng những mũi khâu nhỏ và đều. Trác Vương lật hết một lượt mà không thấy lấy một tấm áo bông dày, trong khi đêm ở kinh thành này rét tới mức người ta mặc mấy lớp áo vẫn còn co ro. Anh gấp lại từng bộ theo nếp cũ, buộc tay nải như lúc đầu, rồi mới mở tráp.

Trong tráp là mấy cuốn sách chép tay đóng chỉ, chữ nhỏ và sít, dòng nọ sát dòng kia, lề chỉ chừa một dải hẹp, hẳn để mỗi tờ chứa được nhiều chữ nhất. Khoảng lề ít ỏi ấy vẫn chi chít những dòng chú còn nhỏ hơn nữa, mà nét bút ở đó với nét bút trong trang là một, nên Trác Vương đoán người ấy đã tự tay chép lấy sách mà học. Không cuốn nào ghi tên chủ, có lẽ vì sách tự chép thì trang nào cũng đã mang sẵn nét chữ người chép, cần gì ghi thêm tên. Trang cuối một cuốn ghi tiền dầu, tiền gạo, tiền mua giấy, món nào cũng cộng trừ cẩn thận. Trác Vương nhẩm lại theo thói quen chấm bài mà không bắt được chỗ nào sai.

Kẹp giữa cuốn dày nhất là một tờ giấy gấp tư. Mở ra, Trác Vương thấy tám chữ can chi xếp thành bốn cột, đúng lối người ta vẫn ghi năm, tháng, ngày và giờ sinh lên một lá số. Bên dưới là mấy dòng lời đoán viết thảo, nét bay như cỏ rối, anh đọc không nổi mà cũng chẳng muốn cố. Đầu tờ không ghi tên ai. Trác Vương gấp lá số lại như cũ và nghĩ mình đã biết người ấy chào đời vào giờ nào mà vẫn chưa biết người ấy tên gì.

Lá thư nằm trong cuốn cuối cùng chỉ là một tờ giấy gấp đôi. Thư viết bằng chính nét chữ trong sách, có điều to hơn, ngay hơn, nét nào cũng đủ. Như người viết đã cố cho thật rõ, để một đôi mắt kém cũng đọc được, hay để ai đó ở quê cầm lên đọc to cho người nhận nghe. Trác Vương ghé tờ giấy sát ngọn đèn, đưa ngón trỏ dò theo từng hàng chữ như mỗi lần phải đọc thứ chữ nhiều nét ở nơi này. Rồi anh chợt thấy đầu ngón tay mình đen mực. Lớp phấn trắng dưới móng tay anh, thứ đêm qua Bạch Tú Tài nhìn vào mà đọc ra nghề dạy học, đã trôi đi lúc nào chẳng hay. Chỗ ấy giờ là vết đen của thỏi mực hắn mang về.

"Thưa mẹ, con tới kinh đã hơn một tháng, mọi sự vẫn yên ổn."

Lá thư viết.

"Kinh thành rét hơn quê mình, nhưng con có đủ áo ấm, mẹ đừng lo."

Trác Vương liếc sang cái tay nải vừa buộc lại. Lời nói dối ấy anh nhận ra ngay, thứ lời nói dối người đi xa nào cũng từng viết về cho người ở nhà, để người ở nhà còn yên lòng mà ngủ.

"Tiền mẹ đưa con vẫn còn đủ, mẹ đừng gửi thêm. Đêm nào con cũng đọc sách tới khuya, chữ nghĩa mỗi ngày một vững."

Đọc tới đó, Trác Vương nhìn xuống búp lửa đang lay lắt trước mặt và đoán chút dầu cuối cùng trong đĩa kia chính là dầu của những đêm khuya ấy.

"Mẹ ơi, con vừa gặp vận đỏ."

Tới câu ấy, nét chữ bỗng to hẳn ra và ngả nghiêng, như bàn tay người viết không giữ nổi cho ngay vì mừng. Trác Vương dò sang dòng kế thì búp lửa đã lụi xuống sát mặt đĩa. Anh nghiêng đèn cho chút dầu sót dồn về phía bấc, ngọn lửa bừng lên được một thoáng rồi tắt hẳn, để lại một sợi khói mỏng với mùi bấc khét.

Bóng tối trùm xuống đặc tới mức Trác Vương không còn thấy tờ thư mình đang cầm, chỉ còn cảm thấy nó, mỏng và nhẹ, mà mấy chữ cuối thì anh chưa kịp đọc. Đêm qua trong ngục, nghe Bạch Tú Tài kể sáu sĩ tử mở cửa rồi không về, Trác Vương đã nghĩ tới những mái nhà ở quê đang chờ thư của họ. Giờ một trong những lá thư ấy đang nằm trên tay anh, lá thư chưa từng ra khỏi căn phòng này. Dẫu dở dang, nó vẫn có một nơi để về là ở cuối một con đường có thật, một người mẹ đang chờ nó.

Trác Vương nhớ tới cuốn sổ của mình trên án thư, nơi cũng có một trang viết dở. Đó là trang cuối cùng anh viết ở thế giới cũ, nửa bài giải anh còn nợ lớp mười một. Ngay sau nó là trang anh chép lại lời giải trên vách ngục bằng bút lông. Nửa bài kia, có giải cho xong thì cũng chẳng có con đường nào mang về cho tụi nhỏ.

Như vẫn bắt học trò thử từng nghiệm trước khi dám kết luận, Trác Vương thử từng lối về. Đi thì con đường nào ở đây cũng chỉ dẫn tới một cổng phường khác. Có ra khỏi kinh thành này thì cũng chỉ tới những miền khác của cùng một thế giới. Đợi thì đêm qua Trác Vương đã đo trời mà biết rằng đợi bao lâu cũng không tới. Còn lối đã đưa anh tới đây thì chính anh chưa rõ là lối gì, mà lối đi đã không biết thì lối về biết tìm ở đâu.

"Vô nghiệm."

Trác Vương buông hai chữ ấy bằng tiếng Việt khẽ như sợ đánh thức ai. Anh chỉ dám kết luận trên những lối mình biết, cũng như có những phương trình vô nghiệm trên tập số thực mà lại có nghiệm ở một tập số rộng hơn. Có điều đêm nay, ngoài những lối ấy, anh chẳng biết thêm lối nào khác.

Năm nào Trác Vương cũng phải dỗ cả lớp rằng vô nghiệm cũng là một đáp án, có khi còn là đáp án khó viết ra nhất: gặp câu vô nghiệm thì ghi vào, gạch chân, rồi sang câu sau. Đứa nào ngồi lì trước một câu như thế tới lúc hết giờ thì chỉ còn nước nộp giấy trắng. Trác Vương không định nộp giấy trắng.

Cũng cuốn sổ ấy còn ghi một món nợ khác, món nợ trả được là hai trăm văn Trác Vương đã hứa trả Bạch Tú Tài, cùng một dãy chữ x đang chờ hắn cho biết giá. Còn câu sau thì Trác Vương đang cầm ngay trên tay.

Rạng sáng nay trong ngục, Bạch Tú Tài nói người thì có tên, có nhà, có chỗ để về, không như ma, và đã là người thì thế nào cũng tìm ra. Trác Vương chưa biết tên người ở phòng này nhưng người ấy có một cái tên, có một mái nhà, có một người mẹ đang chờ thư. Người ấy chưa về nhưng vẫn là người, chứ không chỉ là một lời răn để bà chủ trọ dặn người ở sau. Đếm theo đúng lẽ ấy thì người thiếu cả ba thứ lại chính là Trác Vương: cái tên ai cũng biết thì nghe như vương hiệu, cái tên cha mẹ đặt cho anh thì mới có một người biết, còn nhà với chỗ để về thì anh vừa ghi vô nghiệm. Thiếu thì anh làm cho đủ, ngay ở đây.

"Bài này có đáp án."

Trác Vương nói với góc phòng tối, đúng câu đêm đầu tiên anh đã nói với cỗ kiệu.

"Chỉ là tôi chưa tìm ra."

Đêm ấy anh nói để tự trấn an, còn đêm nay anh nói như hứa với một người vắng mặt.

Trác Vương lần tới án thư, mở nắp hòm. Rồi anh luồn tay xuống dưới chiếc áo khoác mà mò và nhận ra cái máy điện thoại qua mặt kính lạnh. Lúc vừa được trả lại nó, anh đã tính mỗi lần mở máy phải là một lần đáng giá. Giờ anh vẫn nghĩ như thế, chỉ có điều chút ánh sáng còn sót lại của thế giới cũ, anh không còn để dành cho một con đường nào nữa. Anh ngồi xuống ghế đẩu, trải lá thư lên mặt án thư, rồi giữ chặt nút bên hông cho tới khi máy rung khẽ trong tay.

Trước khi màn hình kịp sáng, Trác Vương đã khum lòng bàn tay úp lên mặt máy, nên ánh trắng xanh của nó chỉ lọt ra qua kẽ ngón như nước rỉ qua khe vách. Anh hé tay vừa đủ thấy góc dưới, nơi có nút bật đèn, không để mắt dừng ở giữa màn hình, chỗ mấy con số giờ của thế giới cũ vẫn đang lặng lẽ chạy. Anh bật đèn pin, úp mặt kính vào lòng bàn tay, chĩa luồng sáng xuống tờ giấy.

Vệt sáng trắng tràn qua tờ thư, tràn sang cả cuốn sổ với cái túi tiền nằm cạnh. Nơi mấy đồng tiền ló ra ở miệng túi chợt bắt sáng, ánh vàng lên một thoáng. Trong luồng sáng ấy, hơi thở của Trác Vương bốc thành từng làn khói mỏng. Dưới câu vận đỏ chỉ còn đúng một dòng.

"Người ta dặn con chưa được nói với ai, đợi tới hôm..."

Nét bút dừng ở đấy. Nó không quệt dài, không nhòe, không run, chỉ dừng gọn như người viết đặt bút xuống để lát nữa viết tiếp. Có khi để tới hôm ấy, có tin vui rồi mới viết cho trọn. Còn người ta là ai thì lá thư không nói.

Trác Vương tắt máy và nhẩm lại: hai chục lần mở máy anh tính lúc sáng, giờ đã bớt đi một. Anh cất điện thoại về chỗ cũ dưới chiếc áo khoác, rồi gấp lá thư trong tối theo đúng nếp cũ đã quen dưới ngón tay, mang về kẹp lại vào cuốn sách cuối trong tráp.

Búi tóc giả, Trác Vương cũng tháo trong tối. Anh gỡ dải khăn, rút cây trâm, nhấc cái cốt, đúng thứ tự lúc chiều anh đã tập đủ hai lượt. Anh xếp cả ba thứ ngay ngắn ở đầu án thư, cho sáng mai còn đội lại trước khi Bạch Tú Tài tới gõ cửa. Từ đêm rơi xuống tới giờ, trời sáng lần nào cũng đem tới thêm người hỏi tội Trác Vương. Sáng mai thì khác, sáng mai có người hẹn tới.

Chiếc giường tre kêu kẽo kẹt khi Trác Vương nằm xuống. Gió đêm lùa qua khe cửa lạnh ngắt. Mõ trong phường bắt đầu điểm canh một, mỗi lượt một tiếng. Ở phòng sát vách, có ai đó vẫn đọc thuộc lòng trong bóng tối, giọng nhỏ như sợ nghe thấy chính tiếng mình, tới lúc mõ gõ lượt sau thì cũng thôi.

Trác Vương nằm nghe ngóng, vì câu dặn của bà chủ trọ vẫn còn treo bên tai. Theo lời Bạch Tú Tài kể trong ngục, đêm hôm kia kèn nổi lên ngay sau tiếng trống cuối, còn đêm nay trống dứt đã lâu, mõ đã gõ qua mấy lượt, mà ngoài kia chỉ có tiếng gió. Có lẽ đoàn kiệu không ra đường đêm nay, Trác Vương nghĩ, nhưng cả dãy trọ vẫn nín thở như thể tiếng kèn còn chực vọng tới, và không một cánh cửa nào hé ra.

Tới lúc mõ chuyển sang hai tiếng một, Trác Vương vẫn chưa chợp mắt. Không ngủ được thì anh làm cái việc vẫn làm là đếm, có điều đêm nay anh không đếm sao, cũng không đếm giọt nước, mà đếm lại đêm hôm kia từ đầu. Như anh soát bài làm của một đứa học trò, dòng nào cũng phải biết vì sao nó có mặt. Anh lần tới khúc năm bóng người bỏ chạy, khúc anh đã đếm từng người khi còn chưa kịp sợ và nhận ra trong khúc ấy có một tiếng động anh chưa từng đem ra kể. Đó là gót những đôi ủng nện xuống mặt đá. Đế da thì chỉ gõ ra tiếng cộp, còn tiếng đêm ấy lách cách, khô và sắc, nghe như kim loại gõ vào đá.

Rồi Trác Vương thấy lại cái anh đã thấy mà chưa bao giờ nghĩ cho kỹ. Mỗi lần vệt đèn trong tay anh quét theo những bóng người đang chạy, dưới gót ủng lại lấp lóa mấy điểm vàng. Ban nãy, dưới chính thứ ánh sáng ấy, mấy đồng tiền trên án thư cũng ánh lên đúng sắc vàng này, sắc vàng của đồng.

Trong ngục, Trác Vương đã tả với Bạch Tú Tài rằng lúc bỏ chạy cả bọn đen như bóng. Vậy mà dưới ánh đèn điện thoại đêm ấy, gót ủng của bọn khiêng kiệu đã lóe lên những chiếc đinh đồng. Xưa nay chẳng có cái bóng nào phải đóng đinh vào gót cả.

0