Quyển 1: Quỷ Kiệu Nghênh Lang
Chương 8: Ba Mươi Tư Độ
Thiên Ngoại Khách Lai: Đại Diễn Sấm
Mục lục
9 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 9/9 chương
Người ta cần chân trời để làm gì? Trác Vương tự hỏi mình câu ấy bằng đúng cái giọng anh vẫn dùng để hỏi vặn học trò, mỗi khi tụi nhỏ thuộc làu một công thức mà chẳng biết nó dùng vào việc gì. Anh vẫn ngồi tựa cột cửa, gáy tì vào đúng chỗ cũ trên mặt gỗ. Còn bên kia tường, mõ vừa điểm thêm một lượt bốn tiếng. Sao Bắc Cực đã nhích khỏi thanh song giữa một quãng nhỏ về bên phải, nhưng nằm thấp tới mức bậu cửa chỉ còn cách nó chừng một ngón tay đặt nằm ngang. Còn phía trên nó, gần mép trên ô cửa, đốm sáng mờ nằm im ở chỗ cực trời.
Câu trả lời thì Trác Vương vẫn bắt học trò gạch chân là người ta cần chân trời chỉ để biết đâu là đường nằm ngang. Anh biết đường nằm ngang bao giờ cũng vuông góc với một sợi dây dọi, thứ ở đâu cũng chỉ thẳng xuống đất, ngoài bãi cỏ hay trong ngục tối cũng vậy. Ngoài dây dọi, anh cần thêm một cạnh thẳng để ngắm và anh có sẵn cạnh ấy ngay trước mặt. Đó là mép trong của bậu cửa, một đường gỗ thẳng băng không bao giờ xê dịch. Nếu anh hạ thấp người xuống cho tới khi mép bậu cửa vừa chạm vào ngôi sao thì đường thẳng đi từ con mắt qua mép gỗ ấy sẽ chỉ đúng vào sao Bắc Cực. Đường ngắm ấy không ai cầm lên mà đo được nhưng một sợi chỉ căng dọc theo nó thì đo được. Khi ấy cả gian buồng giam này sẽ thành một cây thước đo góc.
Để làm dây dọi, Trác Vương cần một sợi chỉ và một vật nặng. Sợi chỉ thì anh đang mặc ngay trên người, trong đường khâu gấu chiếc áo tù vải gai. Còn vật nặng thì anh biết chỗ tìm: mấy mảnh vỡ của cái bát sành mẻ miệng hãy còn lẫn trong rơm sát chân vách phía Bạch Tú Tài, từ lúc hắn bị viên quan xô ngã. Suốt canh ba, Trác Vương chưa hề động tới chúng vì khi ấy anh chỉ cần con mắt và bàn tay.
Rời cột cửa, Trác Vương bò men theo chân vách nam sang phía vách đông, tránh xa cái mùi mực vẫn còn hăng lên từ giữa buồng. Tới sát đống rơm bên kia, anh dừng lại nghe ngóng. Ngay cạnh đó, Bạch Tú Tài vẫn thở đều, chậm và sâu như người đã ngủ say từ đầu canh. Trác Vương lùa tay vào lớp rơm sát chân vách, lần từng nắm một, cho tới khi đầu ngón tay chạm phải một cạnh cứng và lạnh. Có lúc anh quệt mu bàn tay vào vạt áo bông của hắn rồi cứng người chờ, nhưng tiếng thở bên cạnh vẫn không đổi nhịp. Trác Vương nhấc từng mảnh sành lên thật chậm, không để mảnh nào cọ vào mảnh nào. Rồi anh chọn lấy hai: một mảnh cong còn nguyên một khúc vành bát, sờ thấy rõ chỗ mẻ và một mảnh mỏng có cạnh sắc như lưỡi dao.
Mang hai mảnh sành về tới góc cột cửa, Trác Vương lần ra đường khâu ở gấu áo, lấy cạnh sắc cứa đứt một mũi chỉ rồi rút dần từng mũi. Sợi chỉ gai thô, rít vào vải, không tuột một mạch như sợi chỉ khâu miệng bao gạo ngoài chợ nên anh phải rút chậm như gỡ một mối tơ rối. Đường gấu áo cho chưa đủ dài, anh bèn rút thêm một đoạn ở sườn áo, nối lại thành một sợi dài chừng hai sải tay. Rồi anh buộc mảnh vành bát vào một đầu, lựa cho sợi chỉ nằm gọn trong chỗ mẻ. Cái chỗ mẻ từng làm chiếc bát chỉ đáng đem cho tù uống nước, giờ lại giữ cho sợi chỉ khỏi tuột. Trác Vương xách sợi chỉ lên, để mảnh sành đung đưa một lúc rồi đứng yên và sợi chỉ căng thẳng tắp, trỏ đúng xuống nền đất.
Sao Bắc Cực vẫn còn ở gần đáy vòng quay của nó, nên suốt chừng một giờ tới nó chỉ bò ngang chứ gần như không lên cao thêm. Còn Trác Vương có thừa thì giờ để làm cho cẩn thận. Anh đứng dậy bước tới dưới ô cửa, với tay buộc đầu chỉ còn lại vào chân thanh song giữa, để sợi chỉ vắt qua đúng mép trong của bậu cửa. Rồi anh cầm đầu có mảnh sành lùi về cột cửa và ngồi xuống, tì gáy vào chỗ cũ. Rồi anh bắt đầu trượt lưng xuống dọc thớ gỗ, từng chút một. Trong mắt anh, bậu cửa nhô dần lên và khi mép gỗ chạm tới ngôi sao thì ánh sáng của nó mờ đi một nửa, mỏng như lúc nó lách vào sau thanh song hồi đầu canh ba.
Giữ yên đầu, Trác Vương kéo sợi chỉ căng ngang tầm đuôi mắt, cho nó lướt sát thái dương, qua vành tai, tới mặt cột cửa sau gáy. Anh đặt mũi mảnh sành sắc lên sợi chỉ, ghim nó vào thớ gỗ, rồi rạch một vết ngay chỗ ấy. Giờ đường ngắm của anh đã thành một sợi chỉ căng từ bậu cửa tới vết rạch và anh không cần biết mắt mình cao bao nhiêu nữa, vì sợi chỉ đã nhớ hộ.
Trác Vương gỡ đầu chỉ khỏi chân thanh song rồi dùng chính sợi chỉ ấy làm dây dọi. Anh giữ sợi chỉ ở mép trong bậu cửa, thả cho mảnh sành từ từ tụt xuống tới khi vừa chạm nền đất và thắt một nút đúng chỗ ngón tay đang kẹp. Sợi chỉ nằm áp sát mặt vách từ bậu cửa xuống tới chân vách nên anh biết bức vách đứng thẳng. Anh làm y như thế ở vết rạch trên cột cửa và thắt nút thứ hai. Khúc chỉ giữa hai nút chính là quãng bậu cửa cao hơn vết rạch và anh đo nó bằng gang tay: sáu gang tay, dư thêm hai ngón tay. Rồi anh quỳ xuống và đặt gang tay nối nhau dọc chân vách tây, từ chân vách phía bắc tới chân cột cửa. Anh đếm từng gang tay một như người đi đêm đếm bước và được vừa tròn mười hai gang tay.
Chuyện gang tay to hay nhỏ thì Trác Vương chẳng bận tâm, vì anh đo cả hai cạnh bằng cùng một bàn tay, mà thứ anh cần chỉ là tỉ số giữa chúng. Sáu trên mười hai là đúng một nửa, như một con dốc cứ đi hai bước ngang thì lên một bước. Con dốc ấy nghiêng hai mươi sáu độ rưỡi, con số anh thuộc lòng từ lâu. Hai ngón tay dư ra trên quãng dài mười hai gang tay chỉ nâng con dốc lên chừng hai phần ba độ. Vậy sao Bắc Cực đang đứng cao hơn đường nằm ngang chừng hai mươi bảy độ và cực trời ngay trên nó bảy độ, cao ba mươi tư độ.
"Ba mươi tư độ."
Trác Vương thì thào bằng tiếng mẹ đẻ, gọn như tiếng viên phấn gõ dấu chấm cuối một lời giải trên bảng. Mấy ngón tay, mấy nút chỉ và con mắt ngắm của anh có thể sai đôi chút, nhưng cộng hết lại cũng không lệch nổi một độ.
Ba mươi tư độ bắc là cả một vòng vĩ tuyến ôm quanh Trái Đất, nên riêng con số ấy chưa đủ gọi tên một thành phố. Trác Vương xếp nó cạnh những dữ kiện đã có: người nơi này nói tiếng Trung, viết thứ chữ nhiều nét và thuộc lời Khổng Tử, còn trời trên đầu là trời của khoảng thế kỷ chín. Nơi anh rơi xuống là một kinh thành có đại lộ rộng hơn trăm mét, phố xá chia thành từng phường có tường đất vây quanh, cổng phường mở theo hồi trống rạng sáng và hẳn đóng lại theo trống chiều. Ở vĩ độ ấy, trong thế kỷ ấy, không kinh thành nào khớp với chừng ấy dữ kiện bằng Trường An của nhà Đường. Cái tên ấy Trác Vương từng đọc trong sách sử, từng thấy trên những tấm bản đồ vẽ lại các phường vuông vức như giấy kẻ ô và giờ anh đang ngồi trong một ô nhỏ của tờ giấy ấy.
Đêm đầu tiên, ngồi bên cỗ kiệu, Trác Vương đã ngờ mình lạc sang đất Trung Hoa, chỉ lấn cấn vì bên ấy chẳng còn thành phố nào quây phố xá trong tường đất. Giờ anh mới thấy mình vấp ở chữ "còn": ở thời anh thì chẳng nơi nào còn như thế, nhưng hơn nghìn năm trước thì đã từng có, và anh đang ngồi giữa lòng nó. Chỉ có hai chữ không chịu khớp vào bài. Bạch Tú Tài đã ba lần nhắc tới Đại Diễn từ đầu hôm, tự nhiên như người ta nhắc tên nước mình. Mà sử sách Trác Vương từng học kể đủ các triều đóng đô trên mảnh đất này, không triều nào mang cái tên ấy. Trường An thế kỷ chín phải thuộc về nhà Đường, vậy mà ở đây không có nhà Đường, còn lời Khổng Tử thì vẫn sống trên miệng người. Nên cùng một bầu trời, cùng một mảnh đất, lịch sử hẳn đã rẽ sang ngả khác ở một khúc nào đó sau thời ông ấy.
Rồi Trác Vương bật cười khẽ thôi nhưng không sao nén kịp. Hai chữ đại diễn anh từng gặp trong sách toán, trong cái tên đại diễn cầu nhất thuật. Phép của Tần Cửu Thiều để giải những bài kiểu Hàn Tín điểm binh, đếm quân xếp hàng ba thì thừa hai, hàng năm thì thừa ba, hàng bảy thì thừa hai, mà năm nào anh cũng đem ra đố lũ học trò mê số. Cả một nước trùng tên với một mẹo tính số dư, vậy mà ở đây chẳng ai biết chuyện ấy buồn cười ở chỗ nào. Tiếng cười của Trác Vương tắt đi cũng nhanh như lúc bật ra, vì một câu đùa chỉ có một người hiểu thì không còn là câu đùa nữa.
Trác Vương muốn viết lời giải ra. Cái nếp đứng lớp bảo anh rằng bài giải chỉ nằm trong đầu thì chưa phải là bài giải. Còn buổi tra khảo sáng mai thì nhắc anh rằng cái đầu ấy chưa chắc giữ nổi thứ gì sau nửa buổi sáng ở chỗ viên quan. Trác Vương cầm mảnh sành sắc lần về góc dưới ô cửa, gạt đống rơm của mình sang một bên, rồi quỳ trước chân vách tây, chỗ chút ánh sao lọt qua ô cửa rơi xiên xuống thành một vệt xám mờ. Anh khắc gần như bằng tay dò, ngón trỏ bàn tay trái lần theo từng nét vừa rạch để biết nét sau phải đặt ở đâu. Mỗi lần mũi mảnh sành cào lên vách đất, anh lại ngừng tay nghe ngóng.
Trước hết, Trác Vương khắc một vòng tròn to bằng miệng chiếc bát đã vỡ, chấm một chấm ở tâm cho cực trời, một chấm ở đáy vòng cho sao Bắc Cực, rồi vạch mười hai vạch ngắn quanh vòng như mặt số đồng hồ. Anh nối chấm ở đáy vòng với vạch liền bên cạnh bằng một dây cung ngắn. Cạnh dây cung ấy, anh khắc con số ba, một nét phẩy nhỏ, con số năm, thêm một vòng tròn bé tí ở góc trên. Anh vạch thêm một đường bán kính từ tâm xuống đáy vòng, rồi đặt dọc theo nó con số bảy với một vòng tròn bé như thế. Cạnh đó anh dựng một tam giác vuông có cạnh nằm dài gấp đôi cạnh đứng, cạnh huyền chĩa lên một ngôi sao năm cánh bé xíu. Ở góc dưới, anh ghi hai mươi bảy độ. Dưới cùng là một dòng hai mươi bảy cộng bảy bằng ba mươi tư, và anh vạch một cái khung quanh con số cuối.
Trác Vương biết mình vừa khắc thứ gì. Bên cỗ kiệu lúc trời rạng, anh đã nghe một gã lính rú lên là chữ ma khi màn hình điện thoại sáng lên những con số chỉ giờ. Ở trạm gác, anh đã thấy gã thư lại vẽ lại trang giải toán trong sổ tay như vẽ bùa để làm tang chứng yêu thuật. Vậy mà đêm nay, ngay trước buổi tra khảo, chính Trác Vương lại tự tay để lại cả một góc vách toàn thứ chữ ấy. Anh đưa ngón tay lần lại một lượt từ vòng tròn tới cái khung, để chắc không nét nào lệch.
Tới nét phẩy giữa con số ba với con số năm, Trác Vương dừng đầu ngón tay. Nét phẩy ấy giống hệt dấu vết sao Bắc Cực để lại trong tấm ảnh phơi sáng tối hôm ấy, cái nét ngắn mà Vy từng phóng to trên màn hình rồi dí sát vào mặt anh. Tối ấy con bé giao hết phần tính toán cho Trác Vương, còn cả nhóm chỉ việc nằm ngắm sao. Giờ anh đã tính xong cả bài mà quanh anh chẳng còn đứa học trò nào nằm ngửa trên cỏ để nghe đáp số.
Từ lúc biết bầu trời này sớm hơn thời mình hơn nghìn năm, Trác Vương đã ngầm coi mình như người lạc về quá khứ. Nếu chỉ là quá khứ thì dẫu xa, thế giới của anh vẫn còn nằm ở cuối con đường, sau chừng hơn nghìn năm nữa, như một bến đò có thật ở bên kia một con sông rộng quá sức người bơi. Còn ở đây, lịch sử đã rẽ sang nhánh khác, nên dẫu có ai sống đủ lâu để đợi trọn nghìn năm, cuối con đường này cũng chẳng có bãi cỏ nào sau một ngôi trường nào. Chẳng có Vy, chẳng có những gương mặt thân thương, chẳng có tấm ảnh nào để phóng to. Chiếc đồng hồ Trác Vương bỏ quên ở nhà, thứ anh vẫn nghĩ đang chạy đâu đó phía trước, giờ chẳng nằm trên mặt bàn nào của thế giới này.
Đầu hôm, khi Bạch Tú Tài hỏi đàn ông nơi nào cắt tóc ngắn, Trác Vương chỉ đáp được rằng nơi ấy xa lắm, xa tới độ chính anh chưa biết là bao xa. Đêm nay anh đã đo ra: ba mươi tư độ bắc, hơn nghìn năm về trước, cộng thêm một khúc rẽ của lịch sử. Có điều, không cây thước nào của anh đo nổi cái khúc rẽ ấy.
Ngôi sao mà người lạc đường vẫn nhìn để tìm lối về, đêm nay lại chỉ cho Trác Vương thấy nơi anh nhớ không nằm ở phía trước, cũng chẳng nằm ở phía sau con đường này. Lần đầu tiên kể từ lúc chạm đất, anh thấy mình một mình thật sự, một mình trên cả một dòng lịch sử.
Kéo đống rơm về phủ kín góc vách xong, Trác Vương cứ quỳ nguyên ở đó, trán gần chạm vào vách đất lạnh. Từ bên vách kia, giữa bóng tối, giọng Bạch Tú Tài vọng sang, khẽ mà tỉnh như chưa từng ngủ:
"Nhớ nhà à?"
Trác Vương không quay lại và lần này anh đáp bằng thứ tiếng Bạch Tú Tài hiểu được:
"Nhớ một nơi không còn ở đâu nữa."
Hắn không hỏi thêm.
Trác Vương chờ câu hỏi thứ hai, câu mà ai ở vào chỗ Bạch Tú Tài cũng phải hỏi, về những nét vạch trên vách hay về thứ tiếng lạ anh thì thào lúc nãy. Bên đống rơm phía vách đông chỉ còn tiếng thở nhẹ và chậm, không cố tỏ ra là đã ngủ nữa. Ngoài hành lang, nước lại nhỏ từng giọt, còn mõ bên kia tường vẫn điểm bốn tiếng một.
Rất lâu sau, Trác Vương mới quay lại. Phía bên kia buồng, trong bóng tối đặc, có hai đốm sáng nhỏ xíu, là ô cửa đầy sao sau lưng anh in vào hai con mắt vẫn mở của Bạch Tú Tài. Hai đốm sáng ấy đứng yên, không chớp, như đã nằm đó từ lâu lắm rồi. Hắn đã thấy tất cả, từ sợi chỉ Trác Vương căng ngang buồng tới những chữ ma giờ đã nằm dưới rơm. Vậy mà trong cả đêm, câu duy nhất hắn hỏi anh là có nhớ nhà không.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.