Chương 2: Khánh Chùa Tự Kêu
Thiên Ngoại Khách Lai: Đại Diễn Sấm
Mục lục
2 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 2/2 chương
"Tiểu sư phụ, chùa này có chiếc khánh chiều nào cũng tự kêu phải không?"
Câu hỏi lọt qua khe cổng đúng lúc chú tiểu đang ghì vai đẩy cánh cổng thứ hai khép lại. Nắng hãy còn vàng trên mái, nhưng từ ngày có ma chùa đóng cổng ngay khi bóng tường phường vừa ngả tới giữa sân, vì chẳng ai muốn người ngoài có mặt lúc chạng vạng xuống. Chú tiểu ghé mắt nhìn ra thấy dưới bậc là một thư sinh còn trẻ, áo trắng trơn khoác ngoài mấy lớp áo bông mà dáng vẫn gọn. Tóc thư sinh búi cài một chiếc trâm gỗ, đang ngửa mặt nhìn lên mái gác chuông như người đi xem hội.
"Chùa đóng cổng rồi."
Chú tiểu nói.
"Thí chủ mai hãy tới."
"Mai nó vẫn kêu nhưng mai thì ta chưa chắc đã rảnh."
Thư sinh cúi xuống ngang tầm khe cửa và chú tiểu bắt gặp một đôi mắt sáng tới mức chú bất giác lùi lại nửa bước.
"Tay tiểu sư phụ nứt nẻ cả ra, lại thơm mùi bồ kết, chắc mấy hôm nay chú phải giặt áo cho cả chùa. Mắt tiểu sư phụ sưng húp, hẳn đêm nào cũng thức canh một người ốm. Người ốm ấy là sư phụ của chú phải không?"
Chú tiểu há miệng mà không thốt được lời nào. Chuyện lão trụ trì mấy lần ngất lịm thì cả phường thị đều đã nghe, nhưng đôi tay nứt nẻ của chú thì chưa một ai nhìn tới.
"Tịnh An! Sao còn chưa cài then?"
Vị sư coi chuông từ phía gác rảo bước tới, chùm chìa khóa bên hông kêu lách cách. Vị sư ngoài bốn mươi, người cao, mặt vuông, cái đầu cạo trọc xanh tái đi vì rét, hai mắt trũng sâu như người nhiều đêm không ngủ. Thấy người lạ ngoài cổng, sư thầy chắp tay, giọng mệt mỏi:
"A Di Đà Phật. Sư phụ bần tăng đang yếu, chùa không tiếp khách thập phương. Xin thí chủ thương tình mà về cho."
"Ta không phải khách."
Thư sinh đáp.
"Ta tới nghe khánh."
"Để thí chủ vào."
Giọng lão trụ trì vọng tới từ gốc ngân hạnh già cạnh chân gác chuông, giọng yếu mà rành rọt. Lão ngồi trên bồ đoàn dưới gốc cây, người trùm tấm chăn bông cũ, chuỗi hạt quấn quanh mấy ngón tay gầy guộc, đôi môi tím tái, mỗi hơi thở phả ra thành một làn khói mỏng và ngắn.
"Cửa chùa đóng với ma."
Lão trụ trì nói.
"Chứ không đóng với người."
Chú tiểu kéo cánh cổng mở ra, còn vị sư coi chuông thở dài đứng tránh sang một bên. Lúc thư sinh bước qua ngưỡng cổng, chú tiểu thấy mắt hắn lướt từ chùm chìa khóa bên hông vị sư xuống tận vạt áo rồi ngước lên, nhanh như người đọc lướt một dòng chữ khắc trên bia. Hắn vái lão trụ trì một vái, rồi giữa cả khoảnh sân rộng lại chọn ngồi trên bậc đá trước chánh điện, đúng chỗ nhìn thẳng ra cổng.
Chú tiểu bưng trà ra theo lời sư phụ dặn. Nước sôi sóng sánh làm những vết nứt trên mu bàn tay rát lên, chú xuýt xoa rồi lầm bầm như tự nói với mình:
"Dạo này các sư đốt hương trừ tà suốt ngày, áo ai cũng ám khói, giặt không xuể. Áo sư huynh coi chuông còn toàn tro hương, vì chiều nào sư huynh cũng thắp hương trên gác trước khi thỉnh chuông, giặt xong đáy chậu lắng cả một lớp bùn xám."
"Nó bắt đầu kêu từ hôm nào?"
Thư sinh hỏi, tay đỡ lấy chén trà.
"Dạ, từ mười hôm trước."
Chú tiểu ngồi xổm dưới chân bậc đá, mắt không rời mái gác.
"Hôm ấy sư huynh thỉnh chuông chiều xong, bước xuống mà mặt cắt không còn hột máu, bảo khánh trên gác tự rên. Cả chùa chạy ra nghe thì chẳng nghe thấy gì. Mấy hôm sau mới có người nghe văng vẳng, rồi chiều nào cũng rõ hơn chiều trước, tới hôm qua thì nó khóc to như người thật."
"Con ma nhà chùa chịu khó thật."
Thư sinh nói.
"Ngày nào cũng luyện giọng thêm một ít."
"Thí chủ đừng đùa."
Chú tiểu cúi mặt, giọng nhỏ hẳn đi.
"Sư phụ con ngất ba lần rồi. Hai sư đã khăn gói bỏ đi, người trong phường thị thì đồn đất chùa có oan hồn. Lão chủ hàng lụa đầu phường thị lại được dịp sai người tới hỏi mua đất, nhưng sư phụ bảo đất tổ để lại thì không bán. Thầy thuốc dặn tim sư phụ như ngọn đèn cạn dầu, thêm một lần kinh hãi nữa là tắt. Vậy mà chiều nào sư phụ cũng ra ngồi dưới chân gác tụng kinh cho nó, bảo nếu thật có oan hồn thì nó cần người tụng kinh hơn ai hết."
Thư sinh nhìn sang gốc ngân hạnh một lúc lâu. Lần đầu tiên từ lúc bước vào, mắt hắn không còn ý cười.
"Ta không đùa về sư phụ của chú."
Hắn nói.
"Ta chỉ đùa về con ma. Khánh ấy treo ở đâu?"
"Trên gác chuông, cạnh đại hồng chung. Sư phụ bảo nó có từ đời tổ khai sơn, nhưng tiếng nó trầm đục, lạc với tiếng chuông, nên từ trước khi sư phụ vào chùa đã chẳng ai đánh, chỉ treo đó mà thờ."
"Treo mấy chục năm, chưa kêu lần nào?"
"Chưa lần nào ạ."
Chú tiểu hạ giọng như sợ mái gác nghe thấy.
"Chùa nằm lọt trong phường thị, sáng ra đã có trống thành gọi dậy, nên từ đời tổ chỉ thỉnh chuông mỗi ngày một lần lúc chạng vạng. Các sư bảo chuông chiều là để gọi những vong hồn còn lạc dưới âm ty lên nghe kinh. Chuông gọi thì nó thưa, nên chuông vừa lặng là khánh kêu."
Mắt thư sinh thoáng sáng lên như người lật sách tìm mãi mới gặp đúng chữ mình cần.
"Ai lên gác chuông?"
"Chỉ sư huynh coi chuông thôi ạ. Chìa khóa gác sư huynh đeo bên hông, hai mươi năm nay chưa lúc nào rời. Từ hồi có ma, các sư đi ngang chân gác còn phải đi vòng, chỉ mình sư huynh chiều nào vẫn lên thỉnh chuông như cũ."
Nói tới đó, chú tiểu ưỡn ngực lên một chút, như thể lòng gan dạ ấy cũng có phần của chú.
"Cả phường ai cũng phục."
"Gan thật."
Thư sinh nói và chẳng hiểu vì sao, hai chữ ấy lọt vào tai chú tiểu lại không giống một lời khen.
Vừa lúc ấy, vị sư coi bếp ôm bó củi đi ngang qua sân, thấy chú tiểu ngồi xổm bên khách thì càu nhàu:
"Tiểu sư đệ còn ngồi đấy! Đá mài mất nửa tháng chưa tìm ra, tối nay lấy răng mà thái rau à?"
Chú tiểu đỏ mặt định cãi thì vị sư đã khuất sau góc trai đường.
"Sư huynh coi bếp đổ cho con làm mất."
Chú lí nhí.
"Bắt con quỳ hết một nén hương. Con thề có Phật tổ, con không lấy."
"Ta tin tiểu sư phụ."
Thư sinh nói, giọng nghiêm trang và chú tiểu không biết hắn đang đùa hay thật.
Mặt trời vừa khuất sau tường phường phía tây thì sân chùa chìm vào bóng râm xanh xám. Vị sư coi chuông đi về phía gác, chìa khóa lách cách, cánh cửa gác kẹt mở rồi khép lại sau lưng sư. Các sư dồn cả về dưới mái hiên trai đường, không ai dám đứng gần chân gác. Chỉ còn lão trụ trì ngồi trên bồ đoàn, chú tiểu quỳ sát bên đỡ lấy lưng thầy, còn thư sinh thì lặng lẽ rời bậc đá tới ngồi xuống phía bên kia.
Tiếng chuông thứ nhất trầm và dày rơi xuống sân như một vật nặng, dội vào ngực chú tiểu rồi loang ra khắp phường thị. Lão trụ trì bắt đầu tụng bằng giọng khàn mà đều, mỗi câu kinh vừa vặn lấp khoảng lặng giữa hai tiếng chuông. Chuông chiều của chùa chỉ có mười tám tiếng và chú tiểu đếm từng tiếng như người ta đếm bước chân của một kẻ đang tới gần, vì chú biết thứ gì sẽ tới sau tiếng cuối cùng.
"Đừng nghe tiếng chuông."
Thư sinh ghé sát tai chú tiểu nói khẽ.
"Nghe cái tiếng nằm dưới nó."
Chú tiểu không hiểu nhưng vẫn làm theo. Tiếng chuông thứ năm vừa đổ xuống, chú dỏng tai vào lớp ngân ù ù đang trùm kín cả sân. Lần đầu tiên chú nghe thấy nó: một tiếng rất mảnh, rất cao, lẫn trong tiếng chuông như sợi tóc lẫn trong bát cơm, nổi lên theo mỗi tiếng chuông rồi chìm đi khi tiếng kế tiếp đè lên. Tiếng thứ sáu, thứ bảy rồi thứ tám, lần nào nó cũng nổi lên như thế, chỉ vì lẫn dưới tiếng chuông nên bấy lâu nay không ai nghe ra.
Tiếng thứ mười tám dứt. Tiếng chuông loãng dần như nước rút khỏi một cái ao. Khi nó chỉ còn là một làn ù ù mỏng như hơi thở thì cái tiếng mảnh kia mới trồi hẳn lên trên đầu mọi người, cao và trong như tiếng ngón tay ướt miết quanh miệng chén, run run như có người đàn bà đang cố nén khóc. Dưới mái hiên trai đường, có ai đánh rơi chiếc mõ. Lão trụ trì im bặt giữa chừng một câu kinh, chuỗi hạt tuột khỏi tay, người lả dần vào vòng tay chú tiểu. Còn chú tiểu nghe tim mình đập loạn lên, vì lần trước sư phụ ngất cũng bắt đầu y như thế.
Thư sinh đặt một bàn tay lên lưng lão trụ trì.
"Lão hòa thượng, nó không đáp lời hòa thượng đâu."
Hắn nói, giọng chậm và ấm, không lớn mà rõ từng chữ.
"Nó đáp lời quả chuông. Người đáp lời thì phải đợi người gọi nói xong, còn nó thì chuông vừa chạm tiếng đã kêu theo, tiếng nào theo tiếng nấy, nhanh hơn cả một lời dạ. Đồng thanh tương ứng."
Đôi mắt nhắm nghiền của lão trụ trì hé ra. Lão thở một hơi dài run rẩy, rồi môi lão mấp máy nối nốt vế sau, thuộc lòng như một câu kinh:
"Đồng khí... tương cầu."
Chú tiểu vội nhặt chuỗi hạt đặt lại vào tay thầy và hơi thở lão chậm dần. Cái tiếng mảnh trên gác lịm đi rồi tắt hẳn. Sau bao nhiêu chiều khiếp sợ, chú tiểu chợt nhận ra đó cũng chỉ là một thứ tiếng.
Cửa gác kẹt mở. Sư coi chuông bước xuống, mặt tái như mọi chiều, nhưng vừa thấy lão trụ trì vẫn ngồi vững trên bồ đoàn thì bước chân vị sư khựng lại ở bậc thang cuối.
"Phiền đại sư cho ta lên gác."
Thư sinh nói.
"Xem mặt con ma một lần."
"Không được."
Vị sư coi chuông đáp ngay.
"Gác chuông là chỗ thiêng, người ngoài không được lên. Thí chủ đọc sách thánh hiền thì giỏi chữ, chứ chuyện âm dương thì biết gì mà xem. Oan hồn còn đó, thí chủ lên mà có mệnh hệ gì thì nhà chùa không gánh nổi."
"Không sao."
Thư sinh nói.
"Ta gầy, có phải gánh thì cũng nhẹ."
"Đưa chìa khóa cho Tịnh An."
Lão trụ trì nói.
Vị sư coi chuông tháo chùm chìa khóa khỏi thắt lưng mà chưa buông tay.
"Để bần tăng lên cùng thí chủ, kẻo người lạ động vào khánh thiêng."
"Con ở lại đỡ ta."
Lão trụ trì nói, rồi đặt bàn tay xương xẩu lên vai người đệ tử. Vị sư coi chuông đành trao chùm chìa khóa cho chú tiểu rồi quỳ xuống bên bồ đoàn, để thầy tựa vào vai mình.
Chú tiểu thắp một ngọn đèn dầu trên bàn thờ chánh điện rồi đi trước dẫn đường. Cầu thang gác dựng đứng, ván gỗ kêu cót két dưới mỗi bước chân chú tiểu, còn người đi sau thì nhẹ tới mức hai lần chú phải ngoái lại xem hắn còn đi theo không. Tầng trên lạnh như trong hầm, thoang thoảng mùi tro hương lẫn mùi đồng nguội, bốn phía trổ bốn ô cửa song trông vượt cả đầu tường phường thị. Quả chuông lớn lặng im giữa gác, lòng chuông tối om, cây chày kình treo ngang bằng hai sợi thừng. Sát vách phía tây, cách quả chuông chừng hai sải tay là chiếc khánh đá trên giá gỗ của nó.
Đây là lần đầu chú nhìn tận mặt thứ đã ba lần làm sư phụ mình ngất lịm. Khánh dài cỡ một cánh tay người lớn, mang hình chiếc thước thợ gập thành một góc tù, treo bằng sợi dây da xỏ qua lỗ ở chỗ gập. Đá màu xanh đen, mấy chục năm khói hương ám lên thân thành một lớp bóng như mai rùa. Chú đứng cách nó ba bước, không dám tới gần hơn.
"Đưa đèn lại đây."
Thư sinh nói.
"Soi vào hai đầu nó."
Dưới ánh đèn, chú tiểu thấy điều mà đứng dưới sân không ai có thể thấy. Hai đầu khánh, chỗ mép đá cắt ngang, không đen bóng như phần còn lại mà xám xanh, màu ruột của một hòn đá vừa đập vỡ, trên đó còn hằn những vệt xước song song mịn như vân móng tay. Những vết ấy còn mới tinh, khói hương chưa kịp ám lên lấy một lớp. Chẳng cần ai giảng giải, chú tiểu cũng hiểu chúng mới có chưa lâu.
"Sách xưa dạy thợ làm khánh."
Thư sinh nói khẽ.
"Tiếng cao thì mài hai mặt cho mỏng, tiếng trầm thì mài hai đầu cho ngắn."
Chú tiểu nhìn hai đầu khánh sáng lên dưới ngọn đèn, nhớ lời sư phụ bảo tiếng nó xưa kia trầm đục, lạc dưới tiếng chuông. Chú tiểu thấy cổ họng mình khô khốc.
"Vậy là có người mài cho nó cao lên... cho khớp tiếng chuông?"
"Khớp rồi thì chuông gọi một tiếng, khánh dạ một tiếng."
Chú tiểu nghĩ tới chùm chìa khóa đang nằm trong tay mình, nghĩ tới bờ vai đang cho sư phụ tựa dưới sân, rồi vội gạt ý nghĩ ấy đi như gạt một con sâu khỏi vạt áo.
"Vậy... người mài nó là ai?"
"Chưa vội."
Thư sinh đưa mắt nhìn quanh gác.
"Mài cho khớp phải mất nhiều buổi, mà kẻ ấy thì không thể ôm hòn đá mài lên xuống trước mắt cả chùa."
Hắn đưa tay lên mặt cây xà ngang ngay trên giá khánh, lần dọc theo lớp bụi. Khi rút tay xuống thì trong tay đã có một bọc vải nâu nhỏ. Bên trong là một hòn đá mài màu xám sứt một góc, mặt đá còn bám một lớp bột xám xanh.
"Đá mài nhà bếp!"
Chú tiểu kêu lên rồi vội bịt miệng.
"Nó sứt một góc, con nhận ra ngay. Vậy mà sư coi bếp bắt con quỳ..."
"Vậy là chiều nay tiểu sư phụ được minh oan một việc rồi."
Thư sinh nói.
Hắn một tay giữ cho khánh khỏi đung đưa, tay kia áp hòn đá mài lên một mặt khánh mà miết. Tiếng đá nghiến vào đá rin rít nghe ghê cả chân răng. Một làn bột mịn rơi lả tả xuống ống tay áo trắng của hắn, bám vào từng nếp vải thành những vệt xám. Chừng vài chục lượt, hắn dừng tay, gõ nhẹ móng tay vào thân khánh, nghiêng đầu nghe ngóng rồi lại mài tiếp.
"Thí chủ cũng thuộc tiếng chuông sao?"
Chú tiểu hỏi.
"Ta mới nghe nó có một lần."
Hắn không ngẩng lên.
"Nhưng làm cho hai tiếng lệch nhau thì dễ hơn làm cho chúng khớp nhau nhiều. Người ta mài đầu cho nó cao lên, ta mài mặt cho nó trầm xuống."
Mài xong, hắn phủi tay và dắt chú tiểu tới bên cây chày kình rồi dúi hai sợi thừng vào tay chú. Chú tiểu rụt phắt tay lại, để hai sợi thừng đung đưa trước mặt.
"Con không được thỉnh đại hồng chung."
Chú tiểu lắp bắp.
"Chú tiểu thì không được..."
"Hôm nay thì được."
Thư sinh nói.
"Muốn biết con ma đã đi hẳn chưa, phải để người sợ nó nhất gọi nó một tiếng."
Chú tiểu để ngọn đèn xuống sàn, nắm chặt hai sợi thừng, kéo cây chày lùi lại hết sức mình. Thư sinh áp tay lên trên tay chú, cùng kéo thêm một gang nữa rồi buông. Cây chày lao tới và tiếng chuông nổ ra ngay sát bên người, to tới mức chú không còn nghe bằng tai mà nghe bằng cả xương sườn, bằng hai đầu gối, bằng hai hàm răng đang va vào nhau lập cập. Rồi tiếng chuông loang ra tràn qua tường phường thị và loãng dần. Chú tiểu nín thở, dỏng tai về phía chiếc khánh, chờ cái tiếng mảnh quen thuộc nổi lên như mười chiều qua.
Lần này, hòn đá không đáp. Tiếng chuông rút đi hết, trả lại cho gác chuông một khoảng lặng dày đặc, trong đó chú nghe rõ cả tiếng bấc đèn nổ lép bép dưới chân mình. Chiếc khánh vẫn treo im lìm bên vách, im như mọi hòn đá khác trên đời. Dưới sân, sau một hồi lặng ngắt, có tiếng ai run run kêu lên "Không kêu nữa! Không kêu nữa rồi!". Rồi những tiếng niệm Phật vỡ ra từ khắp mái hiên, lẫn cả tiếng khóc.
Khi hai người cầm đèn xuống tới chân gác, các sư đã vây quanh gốc ngân hạnh, người chắp tay niệm Phật, người quỳ lạy về phía gác chuông. Lão trụ trì vẫn tựa vào vai người đệ tử, nước mắt chảy dài trên hai gò má hóp, còn sư coi chuông thì quỳ im lặng không nhúc nhích, sắc mặt trong bóng chiều xám như tro nguội.
Sư đỡ thầy ngồi vững rồi đứng lên, chắp tay vái thư sinh một vái thật sâu.
"A Di Đà Phật. Thì ra chỉ là hòn đá hợp tiếng chuông, trời xui đất khiến, chẳng phải lỗi ai. Bần tăng thay sư phụ đa tạ thí chủ."
Rồi sư ngẩng nhìn khoảng trời phía tây đã đỏ ối như than hồng.
"Trống thành sắp nổi rồi, thí chủ nên về kẻo phạm dạ."
"Trống chưa nổi thì ta còn kịp nói mấy câu."
Thư sinh không nhìn sư mà nhìn khắp lượt những gương mặt trong sân.
"Hòn đá treo mấy chục năm lạc giọng với chuông, tới tháng này tự dưng hợp giọng. Trời xui đất khiến thì trời đất cũng khéo chọn ngày."
Không ai đáp. Hắn đưa tay phủi ống tay áo, nhưng những vệt bột xám vẫn bám lì trong nếp vải trắng. Khi hắn cất tiếng lại thì trong giọng không còn chút ý cười nào, chữ nào rơi xuống cũng gọn như một nhát dao chẻ lạt.
"Quỷ thần có hay không, ta không bàn. Nhưng dao thì phải có tay người cầm."
Chú tiểu nhìn người thư sinh đứng giữa sân chùa đang tối dần và tới lúc ấy mới nhận ra rằng từ chiều tới giờ, người này chưa hề sợ con ma lấy một khắc. Hắn giơ hòn đá mài sứt góc lên.
"Còn đây là con dao."
"Đá mài của bếp chùa!"
Vị sư coi bếp buột miệng.
"Nó nằm trên xà gác chuông ngay phía trên giá khánh. Hai đầu khánh có vết mài mới, tiểu sư phụ đã tận mắt thấy."
Thư sinh nói chậm rãi, rành mạch như thầy học giảng sách.
"Muốn mài một hòn đá cho khớp tiếng chuông thì phải thuộc tiếng chuông ấy như thuộc giọng nói của mình, lại phải lên gác mỗi ngày mà không ai hỏi han. Chùa này ai giữ chìa khóa gác? Ai chiều nào cũng thỉnh chuông suốt hai mươi năm nay? Mười hôm trước, khi cả chùa chưa ai nghe thấy gì, ai là người đầu tiên bảo khánh tự rên?"
Không ai trả lời, nhưng mọi gương mặt trong sân cùng quay về một phía. Sư coi chuông lùi lại một bước:
"Thí chủ ngậm máu phun người! Chìa khóa bần tăng đeo bên hông, đêm nằm ngủ thì ai lấy trộm mà chẳng được!"
"Lấy trộm chìa khóa thì dễ."
Thư sinh nói.
"Nhưng con ma này ngày nào cũng luyện giọng, mà từ ngày có ma thì chẳng ai dám lên gác. Nó khéo thật, đứng giữ cửa gác cho chính kẻ mài nó."
Rồi hắn quay sang chú tiểu, giọng dịu xuống.
"Mài đá thì có bụi. Bụi dưới sàn thì quét được, bụi trong nếp áo mình thì khó quét cho sạch. Chú giặt áo cho cả chùa, dạo này áo ai giặt xong đáy chậu lắng bùn xám?"
Chú tiểu mở miệng mà không nói được gì. Chú nhìn xuống vạt áo nâu của sư coi chuông, nơi những nếp gấp dưới gấu áo xám đi một cách lạ lùng và nhớ ra lớp bùn lạo xạo dưới đáy chậu mà chú vẫn tưởng là tro hương. Chú nhớ cả những chiều mình đứng dưới chân gác, ngửa cổ nhìn sư coi chuông bước lên từng bậc thang mà thầm phục. Trước khi vị sư kịp lùi thêm bước nữa, thư sinh đã cúi xuống nhón lấy một nếp vạt áo, miết giữa hai ngón tay rồi giơ lên dưới ánh đèn. Đầu ngón tay hắn dính một lớp bột xám xanh, cùng màu với những vệt bột vẫn còn bám trên tay áo hắn.
"Tro hương thì trắng và nhẹ, thổi một hơi là bay."
Hắn nói.
"Còn thứ này nặng, lạo xạo dưới móng tay, cùng màu với ruột khánh."
Lão trụ trì nhìn người đệ tử vừa mới đây còn cho mình tựa vai và chú tiểu thấy đôi môi tím tái của lão run lên mà không thành tiếng. Thư sinh bước tới bên bồ đoàn, lần này nói với lão, giọng thấp hẳn đi.
"Thầy thuốc dặn thêm một lần kinh hãi nữa là hòa thượng không qua khỏi, mà kẻ bày ra con ma này thì biết chắc hòa thượng sẽ không bỏ chạy."
Hắn ngừng lại một thoáng.
"Hòa thượng nằm xuống thì ai thay chân trụ trì và ai sẽ bán đất chùa cho hàng lụa đầu phường?"
"Hôm qua..."
Vị sư coi bếp lẩm bẩm, mặt tái đi.
"Hôm qua sư huynh còn dặn chúng tôi, sư phụ mà có mệnh hệ gì thì phải bán đất ngay, kẻo oan hồn đòi thêm mạng."
Sân chùa lặng đi. Chuỗi hạt trong tay sư coi chuông khua lách cách một hồi rồi thôi. Vị sư cứ đứng trơ ra đó, không chối thêm cũng không nhận, mắt nhìn trừng trừng xuống mặt gạch.
Lão trụ trì nhìn người đệ tử ấy rất lâu. Khi lão cất tiếng, giọng lão không giận mà chỉ mệt, như giọng người vừa đi hết một quãng đường rất dài.
"Tịnh Thuần."
Lão gọi.
"Hai mươi năm nay, chiều nào lão nạp cũng nghe con thỉnh chuông."
Chỉ một câu ấy thôi mà hai đầu gối vị sư coi chuông sụm xuống, đập lên mặt gạch một tiếng khô khốc. Gã chống hai tay xuống nền gạch lạnh, đầu cúi gập và cả sân chùa chỉ còn nghe tiếng gã thở dốc.
"Lòng hòa thượng tha được cho người này nhưng tội toan giết người thì phải để quan xét."
Thư sinh nói.
"Sáng mai trống sáng mở cổng phường thị, các sư giải người này lên quan."
Lão trụ trì nhắm mắt, lần qua một hạt chuỗi, rồi khẽ gật đầu.
Đúng lúc ấy, từ phía bắc vọng tới một tiếng trống, rồi những lầu trống gần hơn nối nhau đánh theo, dồn về phía chùa như từng lớp sóng. Thư sinh ngẩng lên nghe như nghe một người quen gọi tên mình.
"Trống thành không đợi ai."
Hắn nói rồi vái lão trụ trì một vái và đi thẳng ra cổng.
Chú tiểu chạy theo, đôi giày vải đập lạch bạch trên mặt gạch, tới cổng mới nhớ ra từ chiều tới giờ mình vẫn chưa biết người ấy là ai.
"Thí chủ!"
Chú tiểu gọi.
"Thí chủ tên họ là gì, để sư phụ con còn biết mà cầu phúc?"
Thư sinh dừng lại dưới bậc cổng, đúng chỗ đứng lúc chiều.
"Ta họ Bạch."
"Còn tên?"
"Tên là Tú Tài."
Chú tiểu nhíu mày.
"Tú tài là học vị, đâu phải tên."
"Ta đỗ tú tài rồi thôi, chẳng buồn thi tiếp, nên giữ nó lại làm tên cho đỡ phí mấy năm đèn sách."
Hắn cười, lại là nụ cười nửa miệng lúc chiều, như thể nãy giờ chưa hề có chuyện gì.
"Có ai hỏi thì chú cứ bảo sư phụ chú tự tìm ra con ma. Người ta tin một ông sư già hơn tin một gã tú tài lười."
Nói rồi hắn quay lưng bước đi, nhanh mà không vội, vạt áo trắng khuất dần trong con ngõ dài hun hút dẫn ra cổng phường. Chú tiểu lẩm nhẩm cái tên kỳ quặc ấy mấy lần cho khỏi quên: Bạch Tú Tài. Rồi chẳng kịp nghĩ vì sao, chú ôm chùm chìa khóa chạy thẳng lên gác chuông, lần này quên cả sợ.
Từ ô cửa song trên gác, chú trông qua được đầu tường phường, xuống tận đại lộ đang chìm dần vào bóng tối. Những người đi đường cuối cùng hối hả chạy về các cổng phường thị, đòn gánh chao đảo, xe lừa lọc cọc và giữa họ chỉ có một bóng áo trắng là không chạy. Hắn ra khỏi phường, đi đều bước băng qua đại lộ rộng mênh mông như một cánh hạc lội qua dòng sông xám, trong khi tiếng trống cứ dồn lên từng đợt, mỗi lúc một gấp.
Bên kia đại lộ, cổng phường thị đối diện vẫn còn mở nhưng trống đã sang những hồi cuối. Chú tiểu nín thở bám chặt song cửa và cái chấm trắng ấy lọt qua ngưỡng cổng khi trống chỉ còn dăm tiếng. Tiếng trống cuối cùng vừa rơi xuống thì hai cánh cổng đóng sầm lại và cả kinh thành Trường Minh im bặt như bị ai úp một chiếc chuông đồng khổng lồ lên trên. Chú tiểu đứng ngay cạnh một quả chuông thật, vậy mà thấy cái im lặng ngoài kia còn nặng hơn cái im lặng dưới lòng chuông. Trên đại lộ không còn lấy một bóng người, cả con chó hoang chiều nào cũng lảng vảng quanh cổng phường cũng chẳng biết đã chui đi đâu mất.
Rồi từ rất xa, ở đâu đó phía cuối đại lộ, một tiếng kèn cất lên. Đó là tiếng kèn rước dâu, réo rắt và vui vẻ tới lạ lùng, ba câu lặp đi lặp lại, câu cuối vút lên như một tràng cười. Từ những dãy nhà quanh chùa vọng lại tiếng then cửa sập xuống liên hồi và câu mà mùa xuân này trẻ con kinh thành đứa nào cũng thuộc tự bật ra trong đầu chú: nghe kèn thì đừng mở cửa. Chú không bịt tai. Chú đứng lặng bên quả chuông lớn, nghiêng đầu như người thư sinh đã dạy lúc chiều, cố nghe cho ra cái tiếng nằm dưới tiếng kèn. Và chú tiểu chỉ nghe thấy cả kinh thành Trường Minh đang nín thở.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.