Thiên Ngoại Khách Lai: Đại Diễn Sấm

Quyển 1: Quỷ Kiệu Nghênh Lang

Chương 17: Quán Trà Đầu Phố

Đăng: 24/10/2026 23:44 3,081 từ 3 lượt đọc

"Ông lão mù thì phải quá trưa mới tới."

Cô bán trà nói, tay vẫn cời than dưới cái ấm.

"Khách muốn nghe thì vào trong này mà ngồi chờ."

Trác Vương chưa hề mở miệng hỏi. Cô gái chỉ ngẩng lên nhìn anh một thoáng rồi lại cúi xuống bếp, như người đã quen thấy khách đứng ở đầu ngõ mà ngó mãi mấy chiếc ghế đẩu bỏ trống. Cô còn trẻ, khăn vải quấn gọn trên tóc, ống tay áo xắn tới khuỷu, hai má ửng lên vì hơi than. Trác Vương gật đầu rồi lách vào dưới mái lều, ngồi xuống bên chiếc bàn thấp kê sát một cây cột tre.

Bát trà cô bưng tới còn bốc khói, nước đục màu hổ phách, trên mặt nổi mấy lát gừng thái mỏng. Trác Vương nhấp ngụm đầu tiên thì suýt sặc, vì gừng cay xè đầu lưỡi, lại lẫn vị muối lờ lợ. Lớn lên giữa những đồi cà phê, sáng nào cũng có một ly đen đặc nhỏ từng giọt, Trác Vương nào ngờ có ngày lạc vào một kinh thành chỉ biết tới trà, mà người ở đây lại nêm nếm trà như nêm một món ăn. Anh vẫn uống thêm vài ngụm cho ấm bụng, rồi tuốt mấy đồng khỏi dây tiền đặt lên mặt bàn. Mấy đồng ấy cũng rút từ hai trăm văn Bạch Tú Tài cho vay và Trác Vương nhẩm thấy món tiền ấy cứ vơi dần thành dầu đèn với bát nước này, còn con số trong sổ nợ thì vẫn đứng nguyên.

Mái lều vải đã ngả màu vì nắng, hễ có cơn gió nào lùa qua đầu phố là lại phập phồng. Từ chỗ ngồi, Trác Vương trông được cả khúc phố chạy ra cổng phường, nơi lầu canh nhô lên trên bức tường và xe lừa với người gánh hàng vẫn ra vào không ngớt. Ngoài kia là khúc đại lộ nơi cỗ kiệu dừng lại đêm ấy, có điều từ dưới mái lều nhìn ra, anh chỉ thấy một vệt nắng trắng loáng giữa hai cánh cổng gỗ mở toang.

Quá trưa, nắng bắt đầu xiên qua mép lều thì người kéo tới. Mấy đứa trẻ tới trước, ngồi xổm quây quanh cái bàn trống ở góc trong, rồi tới mấy sĩ tử áo vải bạc màu từ những dãy trọ trong phường. Rồi một gã gánh nước đặt đôi thùng sát chân tường, một bà bán rau hạ thúng xuống bậc cửa nhà bên. Người ta rì rầm chuyện dầu đắt, chuyện kỳ thi, chuyện dãy trọ nào đóng cửa sớm nhất. Chẳng mấy chốc ghế đẩu đã hết, người tới sau phải ngồi bệt xuống đất hoặc đứng tựa cột lều. Chiều qua, những sĩ tử này có lẽ cũng đã cài then từ lúc nắng còn trên mái, mà giờ họ lại chen nhau tới nghe kể đúng điều đã khiến họ phải làm thế.

Trong lúc chờ, mấy đứa trẻ bày trò rước dâu ma. Một đứa quàng mảnh vải đỏ lên vai làm tân nương, một đứa phồng má thổi kèn bằng miệng. Còn cả bọn thì bịt chặt tai mà la toáng lên rằng ai mở cửa là bị bắt về làm chồng, cho tới khi bà bán rau quát át đi. Trác Vương nhìn chúng mà suy nghĩ, một câu chuyện đã thành trò chơi của trẻ con thì nó đã ăn vào thành này sâu lắm rồi.

Một sĩ tử ghé ngồi xuống góc bàn của Trác Vương, liếc qua cái búi tóc quấn khăn đen trên đầu anh rồi quay đi, như liếc bất cứ người đi đường nào. Chen vai giữa người kinh thành như thế, Trác Vương chẳng khác gì một người trọ học nghèo ra quán chờ nghe chuyện. Trong ngục, anh khai thật tới đâu cũng ít ai tin anh là người, còn giờ chỉ một mớ tóc giả đã đủ để cả quán chẳng ai buồn nhìn anh tới lần thứ hai.

Tiếng gậy trúc gõ xuống mặt đường từ phía cổng phường, cộc một tiếng rồi lại một tiếng, đều như mõ cầm canh, và đám trẻ nhổm cả dậy. Người tới là một ông lão gầy, râu tóc bạc trắng, khoác tấm áo vải xám đã sờn vai, tay trái chống gậy, vai phải đeo một cái túi vải. Ngang mắt ông lão quấn một dải lụa mỏng, buộc gọn sau gáy, che kín cả hai mắt. Lão chẳng cần ai dắt, cứ thế dò theo lối quen mà tới chiếc bàn dành sẵn trong góc, đưa mấy đầu ngón tay lần dọc mép bàn một lượt rồi mới ngồi xuống chiếc ghế đẩu kê sau nó.

Cô bán trà bưng một bát trà tới, đặt vào hai bàn tay ông lão, chờ cho mấy ngón tay ấy khép quanh thành bát rồi mới buông ra. Một gã phu khuân vác đứng tựa cột lều gọi to:

"Lão Mạc, hôm nay kể chuyện quỷ kiệu đi!"

Lão Mạc nhấp một ngụm, đặt bát trà xuống mép bàn rồi mới cười.

"Chuyện ấy lão chỉ kể ban ngày."

Lão nói, giọng trầm và ấm, chậm như rót nước.

"Mắt lão thì sáng tối cũng như nhau, nhưng tai các vị thì khác."

Cả quán cười rộ lên, đám trẻ cười to nhất. Lão Mạc lần trong túi vải lấy ra một cây quạt tròn căng lụa cũ với một khúc gỗ vuông dài cỡ một gang tay. Lão đặt cả hai lên mặt bàn, rồi nhấc khúc gỗ gõ xuống một cái. Tiếng gỗ khô và gọn, quán trà im đi theo nó, im tới mức Trác Vương nghe rõ cả tiếng nước reo trên bếp than.

"Ba mươi năm trước, kinh thành này có một đám cưới không thành."

Lão Mạc bắt đầu.

"Nhà gái là một nhà nề nếp, đã nhận sính lễ gả cô con gái út cho một sĩ tử từ quê lên kinh trọ học. Thuở ấy cưới xin còn theo giờ hôn, mà giờ hôn là lúc mặt trời lặn, cũng là lúc trống chiều nổi lên. Nhà trai phải rước dâu về tới cửa trước khi trống dứt, chậm một tiếng trống là cổng phường đóng sập ngay trước mũi kiệu."

Lão Mạc kể không vội. Câu nào lão cũng ngừng đúng chỗ người nghe muốn hỏi tiếp, như một người thầy biết giữ cả lớp bằng những khoảng lặng. Trác Vương thấy ngay đó là tay nghề chứ chẳng phải may. Trong ngục, Bạch Tú Tài đã nhường phần gốc tích của tân nương cho mấy ông kể chuyện ngoài quán trà, bảo họ kể hay hơn hắn nhiều. Bây giờ Trác Vương mới biết hắn nói không ngoa.

"Chiều hôm ấy, nàng mặc áo đỏ ngồi chờ sau cánh cửa."

Lão nói tiếp.

"Nàng nhìn vệt nắng trên ngưỡng cửa co dần lại, nghe ngoài ngõ người qua kẻ lại, mà kiệu nhà trai thì mãi chưa tới. Rồi trống chiều nổi lên."

Lão Mạc vừa dứt lời thì một tiếng trống trầm và xa bỗng dội về từ phía bắc, rồi một tiếng nữa, rồi một lầu trống khác gần hơn đáp lại, như hai người gọi nhau qua mấy dãy phố. Gã gánh nước chộp lấy đòn gánh, hai sĩ tử đứng bật dậy, có người nhoài ra ngoài mép lều ngước nhìn trời. Trác Vương cũng giật mình, nhưng anh đang nhìn thẳng vào lão Mạc, nên anh thấy cổ họng lão khẽ động, còn đôi môi dưới chòm râu bạc thì hầu như không mấp máy.

Tiếng trống lịm đi trong cổ họng lão Mạc và lão bật cười.

"Còn sớm, còn sớm. Mặt trời còn treo trên đầu các vị kia mà."

Cả quán sững lại một chốc rồi cười ồ. Gã gánh nước chửi đổng một câu, đặt đòn gánh về chỗ cũ, còn hai sĩ tử thì ngượng ngùng ngồi xuống, phủi phủi vạt áo như thể vừa đứng dậy chỉ để làm việc ấy.

Lão Mạc đợi tiếng cười lắng hẳn mới kể tiếp, giọng hạ thấp xuống.

"Đêm ấy trống dứt thật và cổng phường khép lại giữa nàng với chàng."

Lão gõ khúc gỗ xuống bàn, nhẹ và khô như một cái then cài vội, và mấy đứa trẻ ngồi gần nhất giật thót.

"Nàng ngồi sau cánh cửa suốt đêm, áo đỏ chưa cởi, hễ nghe tiếng chân ngoài ngõ là lại đưa tay lên then. Sáng ra người nhà vào phòng thì thấy nàng vẫn ngồi đó, bàn tay còn đặt hờ chỗ cũ, người đã lạnh từ lúc nào."

Bà bán rau ngồi trên bậc cửa lầm rầm niệm Phật.

"Vì sao kiệu nhà trai không tới thì mỗi người kể một khác."

Lão Mạc nói.

"Lão kể chuyện đã lâu mà chưa dám chọn lời nào, vì chọn sai một lời là oan cho người đã khuất. Chuyện cũ truyền qua bao nhiêu lượt miệng thì tên người rụng mất cả, chỉ còn lại một cô dâu áo đỏ với một cỗ kiệu không bao giờ tới."

Ở chốn này, Trác Vương nghĩ, tên người dường như rụng đi rất dễ. Người theo tiếng kèn đi rồi thì chẳng ai dám gọi tên, còn người con gái năm ấy thì chỉ sống lại trong lời những người kể chuyện.

"Ba mươi năm nàng nằm yên dưới mộ."

Lão Mạc kể.

"Mùa xuân này nàng mới trở dậy. Vì sao lại là xuân này thì lão không biết, mà lão hỏi khắp kinh thành cũng chưa gặp ai biết."

"Mộ nàng ở đâu, lão Mạc?"

Một sĩ tử ngồi bệt dưới đất hỏi. Lão Mạc lắc đầu:

"Tên còn rụng mất, huống hồ là mộ."

Người hỏi rụt cổ lại, còn một sĩ tử gầy ngồi sát chân cột lều thì kéo vạt áo trùm lên đầu gối, mắt dán xuống đất. Trác Vương thấy cả quán co lại một chút, những đôi vai nhô lên dù nắng chiều dưới mái lều vẫn còn ấm.

"Có những đêm, cổng phường vừa đóng là kèn cất lên."

Lão Mạc nói tiếp.

"Ngày xưa người ta lẽ ra phải rước nàng mà không rước, nên giờ nàng tự đi rước lấy chồng. Kèn chỉ dừng trước cửa người đọc sách, vì người nàng chờ năm ấy cũng là một kẻ đèn sách. Ai được chọn thì nghe tiếng kèn như nghe có người đứng ngoài cửa mà gọi đúng tên mình."

Trác Vương nghe tới đó thì dừng tay trên bát trà. Từ chiều qua, lúc gọi khẽ bảy cái tên trong phòng cuối, anh đã mang theo câu hỏi vì sao những người thuộc lòng lời răn chớ mở cửa vẫn tự tay rút then. Giờ câu chuyện của lão Mạc trả lời gọn lỏn: tiếng kèn đã gọi tên họ. Lời đáp ấy khiến Trác Vương nhớ những bài làm mà tới đúng bước khó nhất, học trò chỉ ghi hai chữ hiển nhiên, thứ chữ chẳng ai bắt bẻ được mà cũng chẳng chứng minh được gì.

"Mà đã mở cửa ra là nhận lễ."

Lão Mạc nói.

"Nhận lễ rồi thì phải theo kiệu về làm rể. Người không được chọn mà dại mở cửa, nàng cũng chẳng chê."

"Thế người có vợ rồi thì sao, lão Mạc?"

Gã gánh nước hỏi vống lên từ chỗ chân tường. Lão Mạc thong thả đáp:

"Người có vợ thì vợ nó đã ngồi đè lên then cửa từ lúc trống chưa nổi."

Tiếng cười lại nổ ra khắp quán, bà bán rau phải lấy mu bàn tay quệt nước mắt, chỉ có mấy sĩ tử là cười không thành tiếng.

Lão Mạc để cho quán cười chán rồi mới kể tiếp, nhịp kể chậm hơn hẳn lúc nãy.

"Từ đầu xuân tới giờ, sáu người đã theo kiệu đi. Người đi rồi thì không ai thấy về, cũng chẳng ai tìm được lấy một nắm xương."

Lão ngừng một chút, và trong khoảng ngừng ấy có người rùng mình.

"Cho nên nhà ai có người đã đi thì đừng gọi tên. Cái tên là sợi dây buộc người đi với chỗ cũ, gọi một tiếng là kéo sợi dây ấy một cái, và nàng cứ lần theo mà tìm tới tận ngưỡng cửa."

Một đứa trẻ ngồi sát chân bàn bỗng đọc to như đọc bài:

"Nghe kèn thì đừng mở cửa!"

Lão Mạc gật gù:

"Phải, cháu ngoan."

Người lớn trong quán mỉm cười với nhau, riêng mấy sĩ tử thì đưa mắt nhìn ra khúc phố đã bắt đầu ngả bóng.

Cô bán trà xách ấm đi một vòng, rót thêm cho từng bàn. Lúc cô cúi qua vai Trác Vương mà rót vào bát của anh, từ ống tay áo cô thoảng ra một hơi hăng hắc mà mát. Chẳng cần nghĩ, anh biết đó là long não. Nó giống hệt mùi cái tủ áo cũ ở nhà, mỗi lần mở cánh tủ lấy tấm áo khoác cất từ mùa trước. Cô đã xách ấm sang bàn bên, mà Trác Vương vẫn ngồi lặng, để thứ hương của một căn phòng ở rất xa tan dần trong hơi gừng bốc lên từ bát trà.

Lão Mạc cầm khúc gỗ lên rồi lại đặt xuống, lần này không gõ.

"Đêm hai mươi chín vừa rồi, kèn của nàng đi tới khúc đại lộ ngay ngoài cổng phường này."

Lão nói và mấy người ngồi phía ngoài bất giác xích vào trong.

"Rồi nó đứt giữa một câu. Sáng ra, cỗ kiệu nằm chỏng chơ giữa đường, người ngồi bên trong đã tắt thở mà môi vẫn còn cười. Từ ngày nàng trở dậy, đó là lần đầu nàng bỏ chồng lại."

Trác Vương nhìn xuống mặt bàn. Hôm qua, trong gian kho thấp cuối sân nha môn huyện, anh đã hiểu nụ cười kia sinh ra từ đâu, vậy mà giữa quán trà này, cái cười ấy vẫn thuộc về ma.

"Còn cái gã từ trên trời rơi xuống đêm ấy thì sao?"

Một người ngồi cuối quán hỏi. Trác Vương ngồi im, không động lấy một ngón tay, nhưng anh nghe máu dồn lên hai bên thái dương, ngay dưới vành khăn đen.

Lão Mạc không quay về phía người hỏi.

"Chuyện người sống thì đã có quan lo."

Lão nói.

"Lão chỉ kể chuyện người chết."

Nắng đã ngả hẳn, bóng mái nhà bên kia phố đổ dài tới tận chân bàn.

"Các vị còn phải về cài then."

Lão Mạc nói.

"Trước khi ai nấy về, lão cho các vị nghe lại tiếng kèn đêm ấy một lần, nghe giữa ban ngày cho đỡ sợ. Các vị nhắm mắt lại cho bằng lão."

Quán trà lao xao một thoáng rồi im bặt. Từng người một nhắm mắt lại, mấy đứa trẻ thì úp cả hai bàn tay lên mặt. Trác Vương thì không nhắm. Cái nếp của người đứng lớp, hễ có ai bày trò trước cả lớp là phải nhìn cho rõ đôi tay người ấy, giữ mắt anh mở. Anh thấy lão Mạc cầm cây quạt tròn lên che ngang miệng rồi xoay người về phía cổng phường.

Thoạt tiên chỉ là một sợi tiếng rất mỏng, nghe như vọng từ đâu đó bên kia tường phường, sau mấy lớp vách. Chỉ một lát sau, Trác Vương nghe ra làn điệu và gáy anh lạnh đi ngay từ những nốt đầu: ba câu nhạc quay vòng mãi không thôi, câu cuối mỗi vòng lại vút lên, lảnh lót như một tiếng cười cố nén. Tiếng kèn ấy đục và nhỏ, đúng thứ người ta rúc trong chăn mà vẫn nghe lọt tai, rồi to dần, rõ dần, men theo khúc đại lộ mà đi về phía cổng. Trong quán, những người đang nhắm nghiền mắt cứ từ từ hướng cả về phía ấy.

Trác Vương biết tai người đoán xa gần phần lớn nhờ độ to và độ đục, nên thứ gì đã bị tường vách mài cho đục đi thì tai người nghe tự đặt nó ra bên kia tường. Anh biết thế mà da gà vẫn nổi dọc hai cánh tay. Tiếng ấy giống thật tới nỗi trong chớp mắt anh quên mất mình đang ngồi giữa ban ngày. Tới quãng đại lộ trước cổng, tiếng kèn bỗng lặng đi một nhịp, như đang đứng lại bên ngoài mà nghe ngóng. Một sĩ tử rên lên trong cổ họng, bà bán rau ôm ghì cái thúng vào lòng.

Tiếng kèn lại cất lên, to và tươi tới mức tưởng như cả một đám rước đã kéo tới sát bức tường phường. Vậy mà, gần tới thế, Trác Vương vẫn không bắt được thứ anh đã nghe đêm nọ, khi người thổi ở ngay trước mặt anh: hơi thở rít qua dăm kèn. Thứ lão Mạc nhại thì sạch trơn, không lẫn lấy một hơi người. Đó đúng là cái âm thanh phần đông người trong quán này đã nằm nghe qua khe cửa chẳng rõ bao nhiêu lần, vì nửa đêm vắng lặng, nó vọng đi rất xa. Trác Vương nghĩ, một người sống bằng nghề nhại tiếng mà cũng nằm nghe ngần ấy lần như người trong phường thì không thuộc mới là chuyện lạ và anh chỉ còn biết phục tài ông lão. Anh đếm được bốn vòng thì tiếng kèn rít lên xé tai khi câu nhạc mới đi được nửa chừng, rồi đứt phựt, như có ai cầm dao chặt ngang một sợi dây đang căng.

Cả quán trà lặng ngắt. Không thấy ai mở mắt, không thấy ai cựa mình và Trác Vương đoán mọi người đang chờ tiếng kèn cất lên lần nữa. Đêm hai mươi chín, sau những cánh cửa quanh đây, chắc cũng có bao người đã nằm im như vậy tới sáng. Đêm ấy kèn không trở lại, và trong cả quán chỉ có Trác Vương biết vì sao: thứ làm nó đứt là ngọn đèn trong tay anh, rọi thẳng vào đám người đang đội lốt ma dưới gầm kiệu. Trác Vương thả ra một hơi, dài và nhẹ, thứ hơi thở của người đã biết trước đoạn kết.

Giữa lúc cả quán còn nín thở, lão Mạc, từ đầu buổi chưa một lần quay mặt đi đâu ngoài hướng cổng phường, khẽ nghiêng đầu về phía bàn Trác Vương, như vừa nghe ra một hơi thở lạ.

0