Thiên Ngoại Khách Lai: Đại Diễn Sấm

Quyển 1: Quỷ Kiệu Nghênh Lang

Chương 9: Ma Sợ Người

Đăng: 07/10/2026 23:21 2,945 từ 5 lượt đọc

Trác Vương choàng tỉnh vì tiếng trống đầu tiên từ phía bắc lọt thẳng qua ô cửa song và chẳng nhớ mình đã thiếp đi từ lúc nào. Anh nằm nghiêng trên đống rơm phủ góc vách, bàn tay trái còn úp lên chỗ những nét khắc như sợ có ai lấy mất. Ô cửa trên đầu vẫn là một mảng trời đen, mấy ngôi sao sót lại đã nhạt. Tiếng trống thì cứ dồn về, lầu trống này vừa dứt, lầu trống kia đã tiếp lời, mỗi đợt một gần hơn, như có người đi dọc kinh thành mà đập cửa gọi từng khu phố dậy.

"Huynh đài ngủ từ lúc mõ còn gõ bốn tiếng một."

Bạch Tú Tài nói vọng sang từ vách bên kia, như thể nãy giờ vẫn ngồi chờ Trác Vương tỉnh dậy.

"Mõ sang năm tiếng mà huynh đài vẫn không cựa, ngủ được gần trọn một canh."

Trác Vương gỡ mấy cọng rơm dính trên má rồi ngồi dậy. Anh không ngờ mình ngủ được ngay trong cái đêm trước buổi tra khảo, lại càng không ngờ có người thức mà đếm canh hộ mình. Gió sớm lùa qua chỗ sườn áo hở, còn gấu áo bung chỉ thì lòa xòa quanh đầu gối. Trong buồng còn tối, Trác Vương chỉ thấy lờ mờ một bóng áo trắng ngồi tựa vách bên kia, mặt hướng về song cửa.

Tiếng trống dồn thêm mấy đợt nữa rồi dứt hẳn. Bên kia tường, mõ cũng thôi không gõ lại. "Trống sáng đấy."

Bạch Tú Tài nói, rồi nói thêm như người nhắc một lệ cả kinh thành ai cũng thuộc lòng:

"Trống dứt là cổng phường thị mở."

Trác Vương cất hai chữ trống sáng vào đầu, cạnh chữ trống chiều hắn nói cho anh nghe hồi đầu hôm. Anh nghe trong giọng Bạch Tú Tài có chút gì như người đang chờ khách, nhưng không đoán ra ở chốn này thì có ai để mà chờ.

Rồi Bạch Tú Tài hỏi, như người ngồi cùng một phía bàn chứ không phải người ra đề.

"Tối qua ta mới nói được một nửa. Sáu lần trước, quỷ kiệu đi rồi thì phố xá sạch trơn. Đêm hôm kia chúng vứt lại cả cái xác lẫn cỗ kiệu rồi suốt đêm không quay lại lấy. Nửa còn lại là câu hỏi: vì sao?"

"Vì chúng sợ tôi."

Trác Vương đáp. Câu ấy bật ra trước cả khi anh kịp nghĩ và nói xong anh mới thấy nó buồn cười. Một kẻ ngồi tù chờ tra khảo lại bảo cả một đám quỷ từng làm kinh thành khiếp vía đã phải sợ mình.

Bạch Tú Tài phá lên cười, lần này chẳng buồn nén, như người rốt cuộc cũng được tiêu đồng tiền lẻ đã giữ khư khư bấy lâu.

"Cả kinh thành sợ quỷ kiệu."

Hắn nói.

"Còn quỷ kiệu thì sợ huynh đài."

"Tôi là người."

Trác Vương cãi. Chưa đầy hai ngày mà anh đã bị gán đủ thứ nhãn, quỷ có, yêu nhân có, kẻ điên có, cả vương gia cũng có, nên cãi đã thành nếp rồi.

"Thế thì càng rõ."

Bạch Tú Tài tựa lưng vào vách, giọng vẫn còn vương ý cười.

"Ma mà sợ người thì ma ấy là người."

Trác Vương chợt nhớ vẻ mặt Bạch Tú Tài lúc anh kể tới tiếng kêu "quỷ từ trên trời xuống": khóe môi hắn giật lên một cái rồi mím chặt lại.

"Câu ấy anh nghĩ ra từ đêm qua."

Trác Vương nói.

"Sao khi ấy anh lại nuốt vào?"

Bạch Tú Tài nhún vai như chuyện ấy chẳng có gì đáng giấu.

"Đêm qua ta còn đang chấm bài."

Trác Vương hiểu bài thi đã chấm xong, chỉ có điều người chấm không định đọc điểm cho cả lớp nghe. Nhưng xưa nay anh chưa từng để đứa học trò nào chỉ nộp mỗi đáp số, kể cả khi đáp số ấy đúng.

"Ma ấy là người, tôi chứng minh được."

Trác Vương nói.

"Bảy lần ấy chỉ khác nhau đúng một chỗ: lần thứ bảy có một người rơi từ trên trời xuống ngay trước mũi kiệu, tay cầm một ngọn đèn. Đèn rọi vào gầm kiệu, mấy đôi mắt dưới ấy chói quá phải nheo lại mà ngoảnh đi. Mắt ma thì việc gì phải sợ đèn?"

"Còn gì nữa?"

Bạch Tú Tài hỏi. Trác Vương nghe ra hắn hỏi không phải để tra khảo mà vì muốn nghe cho trọn.

"Tiếng kèn đêm ấy vang ngay trước mặt tôi."

Trác Vương nói.

"Gần tới mức tôi nghe được cả tiếng hơi thở rít qua cái dăm kèn, tiếng của một người thổi mãi đã sắp hụt hơi. Ma mà cũng phải thở thì còn gì là ma."

Anh ngừng một nhịp rồi giơ hai bàn tay lên như đang đỡ một cái đòn kiệu.

"Còn cỗ kiệu, chúng vừa buông tay là nó đổ đánh rầm xuống mặt đá. Thứ biết tự trôi thì đâu cần vai người đỡ."

Trong lúc hai người nói, ô cửa trên đầu Trác Vương đã nhạt từ đen sang màu tro và cái bóng áo trắng bên vách kia dần dần có mặt mũi. Đây là lần đầu Trác Vương nhìn Bạch Tú Tài mà không nhờ ánh đèn hay ánh đuốc. Dưới thứ ánh sáng xám ấy, hắn trẻ hơn anh tưởng. Hai mắt thâm quầng vì thức suốt đêm, chiếc trâm gỗ vẫn xiêu về một bên, còn trên ống tay áo trắng có một vệt mực đã khô cứng, dấu vết cái vái quét đất.

Bạch Tú Tài im lặng một lúc, mắt nhìn ra hành lang vẫn còn tối.

"Huynh đài chứng minh được chúng là người."

Hắn nói.

"Ta chỉ thêm một điều là kẻ đêm nào cũng giả ma dọa người lại là kẻ tin có ma hơn ai hết, vì chúng biết rõ mình nợ ai."

Trác Vương cười, tiếng cười ngắn mà đắng.

"Vậy mà ma giả thì chạy thoát."

Anh nói.

"Còn người bị chúng tưởng là ma thì ngồi đây chờ tra khảo."

"Người thì có tên, có nhà, có chỗ để về, không như ma."

Bạch Tú Tài nói.

"Đã là người thì thế nào cũng tìm ra."

"Phải ra được khỏi đây đã."

Trác Vương nói. Anh vừa dứt lời thì chùm chìa khóa khua lên ở đầu dãy buồng và Bạch Tú Tài đổ người xuống rơm nhanh như một tấm áo tuột khỏi mắc.

Lão cai ngục xách đèn tới, ngọn lửa vẫn còn thắp dù trời đã xám, tay kia bưng một chiếc bát sành lành lặn, không mẻ góc nào. Lão ngồi xổm xuống, đẩy chiếc bát qua ô vuông dưới chân cửa. Từ đống rơm bên kia, Bạch Tú Tài lồm cồm bò ra, vừa bò vừa lầm bầm đòi nước, đòi rượu, rồi ngồi thụp xuống sát ô vuông, lưng quay về phía góc của Trác Vương.

Đúng lúc ấy, bên kia tường có một con gà cất tiếng gáy, rồi gà khắp phường thi nhau gáy theo. Trại lính cũng vừa đổi phiên, người gọi nhau í ới, ngựa hí, cổng trại kêu kèn kẹt, còn ở buồng xa có người tù vừa ho vừa gọi nước. Giữa mớ tiếng ồn ấy, Trác Vương thấy Bạch Tú Tài cúi sát xuống chiếc bát, đầu gần chạm song cửa và nghe giọng hắn cất lên. Anh không nghe ra được một chữ nào, chỉ nghe ra cái nhịp: giọng ấy đều và nhanh như một đứa học trò trả bài thuộc lòng, không vấp lấy một lần.

Lão cai ngục vẫn ngồi xổm bên kia song cửa, một tay đặt trên miệng bát và suốt lúc ấy bàn tay lão không nhúc nhích. Mắt lão nhìn chiếc bát, nhìn ổ khóa, nhưng chưa lần nào ngước lên gương mặt đang nói với mình, chỉ cách một lượt song gỗ. Lão không đáp, cũng không gật đầu. Khi giọng kia dứt, lão rụt tay về và đứng dậy xách đèn đi. Một lúc sau, ở tận đầu nhà ngục, then cổng kéo ra rồi đóng lại, chỉ một lần.

Trác Vương không đoán ra lão cai ngục là ai. Lão nhìn thẳng mặt ai cũng được, trừ đúng một người. Vậy mà người ấy vừa nói với lão cả một tràng và lão chẳng cần nhìn cũng nghe cho bằng hết. Trác Vương cất cảnh ấy vào cùng ngăn với cái tên thứ hai của Bạch Tú Tài, ngăn anh để dành những câu hỏi chưa tới lúc hỏi. Gà bên kia tường vẫn gáy và câu kẻ say nói khẽ lúc canh hai quay về trong đầu anh, lạnh hơn cả gió lùa qua sườn áo:

"Gà còn chưa gáy đâu."

Giờ gà gáy thật rồi và cái buổi sáng viên quan hẹn đã tới.

Bạch Tú Tài uống mấy ngụm nước rồi đi dọc chân vách sang góc của Trác Vương. Hắn ngồi xổm xuống mà chìa bát ra, y như tối qua anh đã bưng nửa bát nước sang cho hắn. Trác Vương đón lấy chiếc bát. Bạch Tú Tài vẫn chưa đứng dậy mà cứ thế nhìn anh như đang chờ một câu hỏi.

"Không hỏi gì à?"

Bạch Tú Tài hỏi.

"Đêm qua anh cũng không hỏi tôi."

Trác Vương đáp. Anh không nói là chuyện gì và Bạch Tú Tài cũng chẳng cần hỏi lại.

Bạch Tú Tài bật cười khẽ trong cổ họng rồi đứng dậy phủi hai đầu gối.

"Thế thì hòa. Huynh uống đi, sáng nay còn dài."

Trác Vương nâng bát lên uống, nước lạnh tới buốt cả chân răng. Phải tới ngụm thứ hai anh mới nhận ra tiếng gọi vừa rồi đã rơi mất một chữ.

Bạch Tú Tài về lại vách bên kia, nằm xuống rơm và chẳng bao lâu hơi thở của hắn đã đều đều như người ngủ say. Trác Vương nghe hơi thở ấy một lúc rồi thôi, vì không đoán nổi hắn ngủ thật hay giả vì chính nó đã lừa anh suốt mấy canh liền. Ô cửa trên đầu chuyển dần từ màu tro sang trắng đục, nhưng không một vệt nắng nào lọt xuống buồng.

Trác Vương ngồi chờ mà chẳng có gì để đếm giờ. Mõ đã thôi gõ từ lúc trống sáng dứt. Ban ngày không ai gõ mõ cầm canh, nên thời gian cứ trôi mà chẳng để lại một vạch chia nào. Trác Vương thử đếm tiếng nước nhỏ giọt ngoài hành lang, được mấy chục giọt thì bỏ, vì giọt lúc mau lúc thưa, chẳng làm nổi cái đồng hồ nước nào. Lúc còn nghe mõ, anh chỉ mong canh đổi cho mau. Giờ anh mới biết chờ mà không biết mình đã chờ bao lâu còn khó hơn nhiều. Anh nhìn xuống bàn tay phải, bàn tay mới mấy canh trước còn giơ lên đo trời, rồi úp nó xuống đầu gối.

Mặt trời hẳn đã lên quá mái nhà một quãng thì ngoài cổng nhà ngục vang lên ba tiếng gõ thong thả, thứ nhịp gõ Trác Vương mới nghe một lần mà đã thuộc. Ở vách bên kia, Bạch Tú Tài trở mình, rúc mặt vào khuỷu tay, lầm bầm mấy tiếng không ra chữ. Then cổng kéo ra, rồi tiếng người, tiếng chìa khóa dồn dần về phía buồng cuối dãy.

Lão cai ngục vẫn đi đầu, trời sáng nên chẳng cần đèn. Sau lão là tên lính cầm đuốc đêm trước và giờ không đuốc, hai tay lại ôm cái nghiên đá mà nép sát vách hành lang phía đối diện. Gã tránh thật xa chỗ Bạch Tú Tài nằm. Một tên lính nữa ôm một bọc vải dài đi kế, còn viên quan đi sau cùng.

Ánh ngày trong hành lang chỉ xám đục nhưng đủ cho Trác Vương thấy viên quan đã thay một bộ quan phục cùng kiểu, ống tay áo sạch trơn như chưa từng thấm giọt mực nào. Gã dừng trước song cửa, cặp mắt nhỏ nheo lại nhìn mảng mực đen giữa nền buồng, rồi dời sang đống rơm nơi kẻ say đang nằm.

Viên quan nhấc thanh kiếm còn nằm trong vỏ, gõ chuôi lên song cửa mấy tiếng cộc cộc.

"Thằng say, dậy mà nghe."

Gã nói, giọng vẫn khàn và chậm. Từ đống rơm chỉ vọng ra một tràng lầm bầm, lẫn trong đó có chữ rượu. Gã khịt mũi quay sang Trác Vương.

"Đêm qua nó đọc luật cho bản quan nghe. Sáng nay tới lượt bản quan đọc."

Gã đọc chậm, chữ cuối mỗi vế lại lê dài như người ta xướng bản án trước công đường.

"Luật chép rằng phàm tù đã hỏi, chứng cứ đã rõ mà lời lẽ vẫn quanh co, không chịu nhận, thì cho tra khảo."

Đọc xong, gã nhìn Trác Vương như sợ kẻ nói giọng lơ lớ chẳng hiểu nổi hai chữ chứng cứ.

"Chứng cứ thì có biên bản, có gương yêu, có cái xác."

Tên lính ôm bọc vải quỳ xuống nền hành lang sát song cửa, trải tấm vải ra. Bên trong là một bó gậy gỗ lên nước bóng loáng vì tay người và một vật trông như chiếc mành tre thu nhỏ: năm thanh gỗ nhỏ bằng ngón tay, xâu với nhau bằng hai sợi dây gai. Trác Vương đếm được năm thanh, bốn khe giữa chúng và anh hiểu ra trước cả khi kịp sợ. Bốn khe dành cho bốn ngón tay, còn ngón cái thì nằm ngoài.

"Đêm qua ngươi giấu ngón cái khéo lắm."

Viên quan nói, giọng ngọt như người dỗ trẻ con uống thuốc.

"Cái kẹp này chỉ cần bốn ngón kia. Còn ngón cái, bản quan để dành cho ngươi, lát nữa chính ngươi sẽ tự chìa nó ra."

Gã lấy trong tay áo ra tờ cung khai mới, vẫn gấp làm tư, nhưng chỉ cầm hờ trong tay, không khom lưng trải xuống đất.

"Tờ này ngươi khỏi đọc."

Gã nói.

"Tờ trước bị bới chỗ nào, bản quan sửa chỗ ấy cả rồi."

Viên quan quay sang lão cai ngục, chỉ vào cánh cửa song.

"Mở cửa."

Ổ khóa vừa kêu cạch một tiếng, tên lính bưng nghiên đá đã đặt nó xuống, xắn tay áo toan bước vào buồng. Trác Vương đứng dậy trước, tự cúi đầu bước qua khung cửa thấp. Vì anh không muốn một ai lại gần góc buồng dưới ô cửa, nơi lớp rơm đang phủ lên những nét chữ ma.

Viên quan hơi nhướng mày, liếc từ Trác Vương sang tên lính đang xắn dở tay áo.

"Ngươi tự ra à? Thế lại càng đỡ rầy rà."

Gã hất hàm về phía lão cai ngục, không buồn nhìn kẻ say trong buồng thêm lần nào.

"Khóa lại, rồi ngươi ra đầu hành lang mà đứng."

Lão cai ngục tra khóa, để Bạch Tú Tài lại một mình trong buồng, rồi lặng lẽ đi về phía đầu hành lang. Viên quan nhìn theo cho tới khi lão khuất hẳn, rồi mới quay lại phía Trác Vương.

"Ngươi điểm chỉ, hay để cái kẹp này hỏi thay bản quan?"

"Tôi vẫn trả lời như đêm qua."

Trác Vương nói.

Viên quan không nói thêm mà chỉ khẽ gật đầu với hai tên lính. Tên lính bưng nghiên đá nắm lấy cổ tay phải của Trác Vương, mắt không dám ngước lên mái tóc ngắn. Còn tên lính ôm bọc xỏ bốn ngón tay anh vào bốn khe giữa những thanh gỗ lạnh ngắt, rồi mỗi tên cầm lấy một đầu dây. Ba ngón giữa của bàn tay ấy, đêm qua còn là cây thước đo trời, giờ nằm kẹp trong mấy thanh gỗ nhẵn thín vì những bàn tay khác, còn ngón cái thì chơ vơ bên ngoài, như khoảng giấy trắng người ta chừa sẵn dưới tờ cung khai.

Trác Vương liếc vào trong buồng. Bạch Tú Tài vẫn nằm co trên rơm, mặt vùi trong khuỷu tay, hơi thở đều như chẳng hay biết gì. Trác Vương nhớ lúc tờ cung khai trước còn trải trên nền đất, kẻ say ấy đã đứng dậy nói thay mình. Giờ kẻ ấy nằm im, còn viên quan thì đã giơ tay lên.

Hai tên lính quấn đầu dây quanh cổ tay, chờ bàn tay kia phẩy xuống. Vừa lúc ấy, từ ngoài cổng nhà ngục vọng vào một tiếng hô dài, rồi tên lính gác cổng hô lại, lạc cả giọng:

"Tể tướng đại nhân giá lâm!"

Dây kẹp chùng xuống trong tay hai tên lính. Viên quan đứng sững, bàn tay giơ lên dừng lại giữa chừng. Rồi gã từ từ quay đầu về phía cổng, như người giữa chợ bỗng nghe ai gọi đúng tên mình.

Trong buồng, đống rơm khẽ động. Bạch Tú Tài vẫn nằm nguyên, mặt vẫn vùi trong khuỷu tay, nhưng từ chỗ ấy vọng ra một giọng lè nhè như kẻ say nói mê:

"Kê ký minh hĩ, triều ký doanh hĩ..."

Trác Vương lại chỉ nghe ra chữ gà và chữ triều, như đêm qua anh chỉ nghe ra chữ gà với chữ nhặng. Câu nói khẽ trong bóng tối lúc ấy trở về bên tai anh, cùng lúc với tiếng hô vẫn còn vang ở cổng.

Gà trong phường đã gáy từ lúc trời còn xám, vậy mà phải tới lúc này Trác Vương mới ngờ rằng con gà Bạch Tú Tài chờ suốt từ đêm qua chưa bao giờ là con gà gáy bên kia tường.

0