Thiên Ngoại Khách Lai: Đại Diễn Sấm

Quyển 1: Quỷ Kiệu Nghênh Lang

Chương 15: Bảy Cái Tên

Đăng: 18/10/2026 10:47 2,820 từ 7 lượt đọc

Lão ngỗ tác quay lại với tờ giấy kẹp dưới nách, tay bưng cái nghiên đá nhỏ đã mài sẵn mực, cây bút lông gác ngang bên trên. Vừa nghe tiếng chân lão từ ngoài sân vọng vào, Bạch Tú Tài đã lùi ra ngồi lại trên bậc cửa. Hắn nhặt bầu rượu lên mà gật gù như chưa từng rời đi. Lão ngỗ tác ngồi xuống đầu kia bậc cửa ngay trong vệt nắng và trải tờ giấy lên mặt đá. Viết xong mấy chữ đầu dòng, lão dừng bút ngẩng lên nhìn Trác Vương còn đứng bên tấm ván.

"Hắn tên gì?"

Lão hỏi.

Trác Vương không trả lời được. Anh đã ngồi cạnh người ấy từ nửa đêm tới sáng, đã luồn tay dưới lưng xác, đã ghé sát tới mức ngửi ra hơi rượu trong miệng, nhưng chưa từng biết tên người ấy.

"Tờ khám xác nào cũng mở đầu bằng tên họ người chết."

Lão ngỗ tác nói rồi lại cúi xuống tờ giấy.

"Không ai biết thì ta ghi là không rõ tên họ."

Ngọn bút trong tay lão đã chấm mực, chỉ còn cách mặt giấy chừng một đốt ngón tay. Hai ngày nay người nằm trên ván chỉ chờ một cái cớ thật cho cái chết của mình. Giờ cái cớ ấy đã có, vậy mà trên tờ giấy sắp trình lên tể tướng, người ấy lại chỉ còn là mấy chữ không rõ tên họ như một gói đồ bỏ quên chẳng ai đứng ra nhận. Trác Vương thấy mấy chữ ấy còn khó nuốt hơn cả lời kết say rượu trúng phong lúc trước.

"Khoan đã."

Trác Vương nói.

"Cho tôi xem lại cổ tay áo người này một lần nữa."

Lão ngỗ tác nhướng mày nhìn Trác Vương rồi nhìn sang bàn tay phải của anh, bàn tay lúc nãy đã dám chạm vào cái xác lão vẫn giữ.

"Ngươi thò cả tay vào rồi, giờ ta còn cấm nỗi gì."

Lão nói, giọng vẫn lạnh mà không còn gắt.

Trác Vương bước tới tấm ván, chỉ lật mép chiếu ở phía bên phải người chết lên tới khuỷu tay. Nắm tay vẫn siết chặt bên sườn, cứng như đúc nên anh không dám xê nó đi lấy một chút. Anh chỉ vén ống tay áo cưới đỏ rồi dùng hai ngón tay lật cổ tay áo lót lên. Đêm ấy, dưới ánh đèn điện thoại, anh chỉ kịp thấy chỗ vải sờn chỉ với dăm vệt mực. Giờ dưới nắng xiên qua cửa kho, anh thấy mực không loang bừa mà đóng thành lớp ở đúng mặt dưới cổ tay áo, lớp cũ đã ngả màu tro nằm dưới những lớp đậm hơn. Mép vải chỗ ấy mòn tưa ra thành sợi, mỏng tới mức anh nhìn thấu được cả thớ dệt.

Vòng sang bên kia tấm ván, Trác Vương vén chiếu phía tay trái, thấy cổ tay áo trái cũng sờn nhưng sạch, không vương lấy một chấm mực. Xem xong, anh phủ chiếu lại cả hai phía như cũ.

Chữ ở chốn này viết dọc từ trên xuống, cột sau nằm bên trái cột trước. Người cầm bút bằng tay phải mà chép chữ nhỏ thì thường tì cổ tay xuống mặt giấy cho nét khỏi run. Chỗ tì xuống ấy lại đè đúng lên mấy cột vừa viết, mực còn chưa ráo. Chiều qua Trác Vương mới cầm bút lông có một buổi mà đầu ngón tay đã đen. Còn người này hẳn đã ngồi chép như thế hết ngày này sang ngày khác, tới mức nước giặt chẳng còn trả lại được màu vải cho cổ tay áo.

"Người này viết bằng tay phải, chép chữ nhỏ và đã chép như thế lâu lắm rồi."

Trác Vương nói.

"Người này để tấm áo lót mỏng tới mức ấy, mòn cả mép mà vẫn chưa thay, thì hẳn nhà nghèo lắm. Bộ áo cưới mới tinh thì ai mặc vào cũng được, còn áo lót là áo của chính người mặc."

"Lúc nới cổ áo, ta cũng đã thấy."

Lão ngỗ tác nói, ngọn bút vẫn treo trên tờ giấy.

"Áo lót sờn thì xác nghèo nào chẳng thế."

"Sờn thì xác nghèo nào cũng thế."

Trác Vương đáp.

"Còn mực thì không."

Ngồi ở bậc cửa, Bạch Tú Tài ngáp một cái thật dài, mắt vẫn lim dim như người đang nói mê.

"Mùa thi, sĩ tử nghèo ở kinh thành hay nhận chép kinh thuê cho nhà chùa."

Hắn lè nhè.

"Chữ phải nhỏ, phải đều, chép trọn một quyển thì chùa mới trả tiền."

Trác Vương thấy hai nửa ấy ghép vào nhau khít như hai mép của một tờ giấy xé đôi. Người chết trong kiệu hẳn cũng là một sĩ tử như thế, cổ tay đè lên những trang kinh chép thuê cho tới tận những đêm cuối cùng còn được ngồi bên án thư.

"Sĩ tử thì đã đành."

Lão ngỗ tác nói.

"Mùa này kinh thành chỗ nào chẳng đầy sĩ tử."

"Từ sáng mùng một tới giờ, đã có ai tới hỏi người này chưa?"

Trác Vương hỏi.

"Chưa một ai."

Lão ngỗ tác đặt bút xuống mép nghiên mực, im lặng đi giây lát rồi mới nói tiếp, giọng trầm hẳn xuống.

"Mấy lần trước mất người, sáng hôm sau là có chủ trọ tới cổng nha môn mà trình. Lần này có hẳn cái xác nằm đây, lại chẳng ai tới."

Trác Vương nhìn lại tấm chiếu cói. Một sĩ tử ở trọ giữa mùa thi mà đêm hai mươi chín mở cửa rồi không về, thì ở đâu đó trong kinh thành này phải có một căn phòng bỏ trống từ sáng hôm ấy. Và một chủ trọ biết rõ ai đã đi mà sợ tới mức ngậm miệng suốt hai ngày. Cái im lặng ấy cũng là một lời khai, chỉ có điều chưa ai chịu đọc nó.

Ngoài sân vang lên tiếng chân. Tên nha dịch dẫn vào một người kẹp hộp bút nghiên dưới nách, và Trác Vương nhận ra ngay người thư lại già của tể tướng. Người hôm qua đã trả đồ cho mình, vẫn gương mặt không đổi sắc ấy, vẫn cái dáng đi không ngó ngang. Theo sau ông là một người đàn bà chừng ngoài ba mươi, ống tay áo còn xắn cao, vạt áo ướt sẫm một mảng như người ta vừa gọi bà đi giữa lúc đang giặt dở. Tới chân bậc cửa, bà dừng lại, hai bàn tay bấu chặt lấy nhau, mắt cứ nhìn xuống đất.

Người thư lại già bước vòng qua kẻ say đang ngồi chắn nửa bậc cửa, dừng lại ở ngưỡng cửa kho.

"Theo lời đại nhân, từ chiều qua các phường quanh đại lộ đã soát lại người trọ."

Ông nói, giọng ngắn và khô như đọc một dòng trong sổ.

"Một phường thị gần đây thiếu một người từ đêm hai mươi chín mà không ai trình."

Ông hất hàm về phía người đàn bà dưới sân.

"Chủ trọ của hắn."

Trác Vương đoán tờ lệnh sáng nay chẳng phải chỉ để anh tới nhận mặt, mà tể tướng đã tính sẵn cho nhân chứng và người đàn bà kia cùng đứng trước một tấm ván.

"Lên đây mà nhận mặt."

Lão ngỗ tác bảo người đàn bà rồi đứng dậy bước tới đầu tấm ván và nhấc mép chiếu khỏi mặt người chết.

Người đàn bà rón rén bước qua ngưỡng cửa như sợ nền đất trong kho sụt xuống dưới chân mình. Bà nhìn vào gương mặt trên ván chỉ một thoáng thôi, rồi giật lùi lại tới sát khung cửa.

"Không phải."

Bà thốt lên.

"Cậu ấy có bao giờ cười như thế."

Trác Vương phủ chiếu lên gương mặt ấy rồi kéo mép chiếu chỗ cổ tay phải ở phía gần cửa xuống, lật ngửa cổ tay áo lót cho bà thấy.

"Không cần nhìn mặt."

Anh nói.

"Chỉ cần nhìn chỗ này thôi."

Người đàn bà nhìn chỗ cổ tay áo ấy rất lâu rồi đưa tay lên che miệng.

"Vệt mực ấy dân phụ giặt mãi không ra."

Bà nói qua mấy ngón tay, giọng lạc hẳn đi.

"Xát bồ kết, ngâm nước tro, nó cũng chỉ nhạt được ngần ấy. Cả mùa đông cậu ấy chỉ có mỗi tấm áo lót này, đêm nào cũng ngồi chép kinh cho nhà chùa tới khuya để lấy tiền trọ, tay áo cứ thế mà quệt lên chữ."

Cái miệng cười kia đủ cho cả kinh thành tin người ấy đã theo ma, còn vệt mực nơi cổ tay áo thì chỉ kể người ấy là ai. Trên bậc cửa, Bạch Tú Tài đã thôi gật gù.

"Người trọ nhà ngươi đi từ đêm hai mươi chín, sao không trình?"

Lão ngỗ tác hỏi.

"Người ta đồn khắp phường rằng có yêu nhân từ trên trời rơi xuống, làm phép giết người trong kiệu."

Người đàn bà nói, mắt vẫn cúi gằm xuống.

"Ai tới nhận xác thì bị lôi ra chỗ quân tuần mà hỏi, mà đã vào chỗ ấy thì mấy ai còn lành lặn trở ra."

Cái kẻ mà người ta đồn từ trên trời rơi xuống đang đứng cách bà chưa tới một sải tay và xem chừng bà không hề biết. Trác Vương không nói gì, chỉ nghĩ nếu bà biết, chắc bà đã chạy một mạch ra tới cổng nha môn.

"Tên hắn là gì?"

Lão ngỗ tác hỏi.

"Quê ở đâu?"

Người đàn bà lắc đầu, môi mím chặt.

"Người ta bảo gọi tên người đã theo tiếng kèn đi thì tân nương nghe thấy, lần theo tiếng gọi mà tìm về tận nhà."

Bà lí nhí.

"Từ hôm ấy tới nay, cả nhà dân phụ không ai dám nhắc tới tên cậu ấy."

Bạch Tú Tài nhấc bầu rượu lên ngang mặt như mời ai cạn chén, rồi cất giọng lè nhè mà rõ ràng:

"Thiên Đàn Cung có câu rằng tốt khốc nhi húy, sinh sự tất nhi quỷ sự thủy dĩ."

Trong cả câu ấy, tai Trác Vương chỉ giữ lại được ba chữ: khốc, húy và quỷ. Bạch Tú Tài đã quay sang người đàn bà, giảng chậm từng tiếng như để bà nghe kịp.

"Chôn người ta rồi, khóc cho trọn lễ rồi, bấy giờ mới kiêng tên."

Bạch Tú Tài nói.

"Lo xong việc của người sống thì mới tới việc của người đã khuất."

Hắn nheo mắt nhìn tấm chiếu trên ván.

"Người này đã có ai chôn chưa? Đã có ai khóc cho người này lấy một tiếng chưa?"

Người đàn bà bật khóc. Bà khóc nghẹn trong cổ, chỉ có hai vai run lên từng chặp. Trác Vương nghĩ từ đêm hai mươi chín tới giờ, trước bà chưa từng có ai rơi một giọt nước mắt cho người nằm trên ván. Một hồi lâu bà mới nói được, giọng đứt quãng giữa những tiếng nấc.

"Cậu ấy tên là Dữu Phác. Quê tận trên núi, cậu ấy bảo phải đi bộ hơn một tháng mới tới được kinh thành."

Lão ngỗ tác trở lại bậc cửa, nhờ người thư lại già chỉ cho đúng cách viết rồi ghi hai chữ ấy vào khoảng còn để trống, đúng nơi lúc nãy suýt nữa đã thành bốn chữ không rõ tên họ. Lão hỏi bà thêm huyện nào, làng nào mà ghi cho đủ. Dữu Phác đã có lời giải cho cái chết của mình từ lúc nắng còn chưa lên quá mái, giờ thì có thêm cả cái tên.

Người thư lại già còn mang theo một tờ giấy khác gấp nhỏ và ông đợi Trác Vương bước ra tới ngưỡng cửa rồi mới chìa cho anh.

"Sáu tờ trình mất người trong sổ nha môn."

Ông nói.

"Đại nhân cho chép lại, dặn đưa người giúp việc."

Tờ giấy có sáu dòng chữ dọc, mỗi dòng mở đầu bằng một cái tên, kế đó là quê, là chỗ trọ, cuối cùng là đêm mất tích. Trác Vương đứng trong vệt nắng mà đọc chậm, chữ nào nhiều nét thì phải ngừng lại mà dò. Quê của ai cũng là một địa danh anh chưa từng nghe. Những đêm ghi ở cuối thì anh để đó cho lúc khác, vì lúc này anh chỉ muốn đọc cho hết những cái tên.

Ngón tay người thư lại già đặt lên dòng thứ năm.

"Người ở trước phòng cuối."

Dòng ấy ghi Vưu Kiệm. Trác Vương nhìn hai chữ ấy rất lâu. Đêm qua, bên ngọn đèn sắp cạn dầu, anh đã nói với góc phòng rằng mình chỉ đi tìm tên người ấy và giờ cái tên nằm ngay dưới ngón tay một người thư lại chắc chẳng biết gì về câu nói ấy. Trác Vương không đọc nó thành tiếng.

Bạch Tú Tài lảo đảo đứng dậy, ghé đầu sát bên Trác Vương mà nhìn, hơi rượu phả sang nồng nặc.

"Toàn những chỗ đất xấu người nghèo."

Hắn nói, lưỡi líu lại.

"Chỗ gần nhất cũng nửa tháng đường."

Lão ngỗ tác viết nốt mấy dòng, hong cho ráo mực rồi trao tờ khám xác cho người thư lại già. Ông gấp nó làm tư rồi quay ra đi trước, người đàn bà lẽo đẽo theo sau, vừa đi vừa ngoái nhìn tấm chiếu trên ván. Bạch Tú Tài loạng choạng đi sau cùng như kẻ đang chịu phạt phải theo hầu việc vặt. Lúc đi ngang Trác Vương, hắn một tay ôm bầu rượu, tay kia vịn lên vai anh, dồn cả người xuống mà đứng cho vững. Giọng hắn chỉ đủ lọt vào một bên tai:

"Huynh giữ lấy bảy cái tên ấy. Mai ta tới."

Trác Vương gồng vai đỡ lấy sức nặng ấy, đáp cũng khẽ như thế:

"Anh dựa nhẹ thôi. Vai tôi chứ có phải cột hiên đâu."

Bạch Tú Tài cười khì trong cổ họng.

"Say thì phải dựa cho thật."

Hắn nói rồi buông vai Trác Vương, xiêu vẹo bước theo hai người phía trước.

Chiều ấy, mái ngói bên kia sân còn ngập nắng mà phòng sát vách đã im tiếng đọc sách, rồi then gỗ bên ấy dập xuống. Ngồi cạnh ô cửa sổ phòng cuối, Trác Vương nhìn mấy sĩ tử xách dầu, ôm gạo đi vội về chỗ mình. Không ai ghé giếng mà nói với ai câu nào, như sợ chậm một bước thì trời sẽ sập tối ngay giữa sân. Rồi từng cánh cửa đóng lại dọc hàng hiên, trong khi trống chiều còn chưa nổi lấy một tiếng.

Trác Vương rời cửa sổ, ngồi xuống án thư, lật cuốn sổ tay tới trang có sổ nợ, kẻ một đường ngang dưới dòng nợ cuối cùng rồi chép lại bảy cái tên. Anh viết bằng thứ chữ người ở đây gọi là chữ ma, vì viết chữ nhiều nét thì anh còn phải dò từng nét, mà bảy cái tên này anh không muốn sai lấy một dấu. Sáu người đầu anh ghi đúng thứ tự trên tờ giấy của người thư lại: Nhuế Đôn, Ngỗi Thao, Hiệt Sùng, Giản Bân, Vưu Kiệm, Uẩn Lập. Dòng thứ bảy là Dữu Phác.

Viết xong, Trác Vương gọi khẽ từng người một, như mỗi đầu giờ học anh vẫn điểm danh cả lớp. Ở trường, gọi tới ai là có tiếng dạ tới đó, có đứa còn dạ trước khi anh gọi hết họ tên. Trong căn phòng này, sau mỗi cái tên chỉ có một khoảng lặng. Anh để khoảng lặng ấy dài đúng bằng một tiếng dạ rồi mới gọi sang người kế tiếp. Tới người thứ năm, anh ngừng lâu hơn. Tay nải với tráp sách nằm trong góc như ngày người ấy để lại, còn lá thư viết dở gửi mẹ vẫn kẹp trong cuốn sách cuối cùng. Lá thư chưa ký nhưng từ sáng nay đã có tên người viết.

Trong bảy người ấy, Trác Vương mới biết đôi chút về hai người: một người để lại mấy vệt mực trên cổ tay áo, một người để lại mấy cuốn sách tự tay chép lấy. Khi họ không về, hẳn người ta cũng chỉ còn gọi cả bảy là người ở trước là cậu ấy, như thể chỉ một cái tên gọi ra cũng đủ mở cửa cho ma vào nhà. Bên ngoài chẳng còn nghe một tiếng chân và cả dãy trọ lặng như tờ dưới nắng xế.

Người ở đây cài then từ lúc trời còn nắng, đến tên những người đi theo tiếng kèn cũng chẳng ai dám gọi, vậy mà bảy người trong cuốn sổ này, ai cũng thuộc câu nghe kèn thì đừng mở cửa, lại tự tay rút then và Trác Vương muốn biết vì sao.

0