Quyển 1: Quỷ Kiệu Nghênh Lang
Chương 4: Kẻ Tự Vào Ngục
Thiên Ngoại Khách Lai: Đại Diễn Sấm
Mục lục
6 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 6/6 chương
Ánh đuốc chỉ dừng lại trên gương mặt ấy thêm một nhịp thở rồi giật lùi khỏi song cửa. Cậu lính trẻ ngoài hành lang như vừa sực nhớ ra mình còn phải đi, bước chân vội vã xa dần về phía gian đầu kéo theo cả vầng lửa đỏ. Thế là bóng tối lập tức tràn về lấp kín gian buồng giam. Trác Vương vẫn ngồi nguyên trong góc, hai tay ôm gối, mắt mở to nhìn về phía vách bên kia, nơi vừa nãy còn có một đôi mắt đang nhìn anh.
Trác Vương đã gặp đủ kiểu người say nhưng chưa kẻ nào nhìn người khác bằng đôi mắt tỉnh táo tới thế. Trong buồng giờ chỉ còn mùi rơm ẩm, mùi đất lạnh và hơi rượu nồng mà người mới vào mang theo. Đâu đó ngoài hành lang có tiếng nước nhỏ giọt, xa hơn là tiếng ngáy, tiếng xích sắt khua khẽ. Sau bức tường, mõ cầm canh vẫn gõ những tiếng một thưa thớt. Phía vách bên kia thì không có tiếng ngáy, chỉ có một hơi thở đều và khẽ của người đang thức.
"Anh không say."
Trác Vương nói vào bóng tối.
Không ai đáp lại anh. Tiếng nước vẫn nhỏ đều ngoài hành lang, từng giọt một, như có ai đang đếm hộ anh khoảng lặng ấy.
"Tôi nói là anh không say."
Lần này anh nói chậm hơn, nói rõ từng chữ, không to tiếng cũng không nài nỉ, bằng cái giọng anh vẫn dùng mỗi khi gọi một đứa học trò giả điếc ở cuối lớp.
"Ngoài kia người ta gọi huynh đài là yêu nhân."
Giọng nói từ vách bên kia không còn chút lè nhè nào mà thay vào đó là vẻ thong thả, rành rọt như có ý cười.
"Trong này huynh đài lại bảo ta tỉnh. Hai cái tiếng ấy, tiếng nào nghe cũng oan cả."
"Anh là ai?"
"Huynh đài đoán thử xem."
Trác Vương chưa kịp đáp thì đầu hành lang đã vang lên tiếng chìa khóa lách cách, rồi một quầng sáng vàng đục lắc lư tiến lại. Ở vách bên kia, tiếng rơm sột soạt nổi lên. Khi quầng sáng ấy tới được song cửa thì người thư sinh đã gục hẳn sang một bên như một bao thóc đổ, miệng lầm bầm:
"Rượu của ta... lão già giữ bầu thì giữ... nhớ để lại cho ta chỗ rượu..."
Lão cai ngục vẫn mặc áo bông sẫm, đầu quấn khăn, một tay bưng chiếc bát, một tay xách ngọn đèn dầu nhỏ có quai sắt. Lão treo ngọn đèn lên cái móc đóng trên cột cửa ở phía ngoài song cửa, hẳn vì trong buồng toàn rơm. Treo đèn xong, lão cúi xuống đặt chiếc bát vào cái ô vuông dưới chân cửa, chỗ lúc trưa người ta đẩy cháo vào cho Trác Vương. Đó là một chiếc bát sành thô, miệng mẻ một góc. Đĩa dầu thì nông choẹt, dầu chỉ còn lưng lửng. Cái tật ước lượng của nghề dạy toán bảo anh rằng ngọn lửa bằng hạt đỗ ấy chẳng cháy nổi tới sáng.
"Nó mà nôn thì gọi."
Lão nói.
Lão nói câu ấy với Trác Vương, nói tới "nó" mà mắt chỉ đặt trên mặt anh, bằng cái nhìn đều đều và dửng dưng anh đã gặp sáng nay. Mắt lão đi từ ngọn đèn xuống chiếc bát, từ chiếc bát lên mặt anh, rồi sang ổ khóa. Lần nào cũng lượn vòng qua góc buồng bên kia như nước lượn quanh một hòn đá giữa dòng.
"Cảm ơn anh."
Trác Vương nói.
Lão cai ngục khựng lại nửa nhịp, y như sáng nay lúc nghe anh gọi lão bằng chữ ấy. Rồi lão quay đi, không nói thêm câu nào. Tiếng chìa khóa vừa lịm hẳn ở phía gian đầu thì lời lầm bầm ở vách bên kia cũng tắt ngấm, gọn như có ai vừa đặt tay lên một sợi dây đàn. Người thư sinh ngồi thẳng dậy, lưng tựa vách, mặt lại quay đúng về phía cửa, không lệch lấy một gang.
Giờ Trác Vương mới nhìn rõ người bạn tù của mình, một người còn trẻ, có lẽ kém anh vài tuổi, mặc áo trắng trơn khoác ngoài mấy lớp áo bông, búi tóc lệch với chiếc trâm gỗ cắm xiêu xiêu. Ánh đèn lọt qua song cửa thành từng dải nằm vắt ngang nền rơm. Một dải rơi ngang gương mặt kia, một gương mặt thanh và sắc như nét bút vừa hạ xuống giấy.
Cổ họng Trác Vương khô rát vì từ trưa tới giờ anh chưa được hớp nước nào. Anh chống tay đứng dậy, hai đầu gối cứng đờ vì cái rét đầu xuân luồn qua lớp vải gai. Anh liền kéo vạt áo cho kín ngực, thắt lại dây buộc bên sườn trái rồi lê ra phía cửa nhặt chiếc bát lên. Nước lạnh buốt, thoảng vị đất nung. Dẫu vậy anh vẫn uống liền mấy ngụm mới sực nhớ ra lão cai ngục mang nó tới cho ai. Anh bưng nửa bát nước còn lại sang phía vách bên kia, ngồi xổm xuống và chìa bát ra.
Người thư sinh không đưa tay ra ngay. Hắn nhìn anh một lúc như vừa thấy một điều mình không ngờ tới. Mắt hắn rơi xuống hai bàn tay anh đang đỡ dưới đáy bát, dừng ở mấy đầu ngón tay phải, trượt sang cổ tay trái. Hắn nhìn nhanh và kỹ như cách anh vẫn lướt qua một bài làm để tìm chỗ sai. Chỉ khi ấy hắn mới đưa tay ra đón lấy chiếc bát.
Trác Vương cũng nhìn bàn tay hắn. Đó là bàn tay của người đọc sách, ngón tay dài và sạch, chỗ ngón tay tì cán bút có một vết chai nhỏ. Nhưng lúc những ngón tay ấy ôm lấy thành bát, ngón cái tì lên miệng bát, anh thấy ở hổ khẩu một lớp da dày và cứng, thứ da mà bàn tay chỉ biết cầm bút không bao giờ có. Uống xong ngụm đầu, hắn ngẩng lên. Hơi thở phả sát mặt anh chỉ thoang thoảng mùi rượu, trong khi vạt áo trắng thì nồng như vừa ngâm trong vò rượu. Trong nếp ống tay áo còn một vệt xám xanh bám lì mà anh không đoán ra là thứ gì nên đành để đó.
Người thư sinh uống thêm mấy ngụm rồi đặt chiếc bát xuống nền đất sát chân vách. Trác Vương về lại góc cũ và hai người ngồi hai bên buồng, cách nhau chưa đầy ba bước chân.
"Huynh đài hỏi ta là ai."
Người thư sinh nói.
"Câu ấy ta cũng muốn hỏi lại, có điều ta không quen hỏi."
"Vậy anh quen làm gì?"
"Ta quen nhìn."
Hắn hất cằm về phía ngực áo anh.
"Chẳng hạn, huynh đài cài vạt áo sang trái."
Trác Vương cúi nhìn hai vạt áo gai bắt chéo trước ngực, chỗ dây buộc anh vừa thắt lại bên sườn trái. Anh chẳng thấy có gì sai.
"Cài thế thì làm sao?"
"Người ở đây, từ lúc biết mặc áo đã biết vạt nào đè vạt nào, như biết tay nào là tay cầm đũa."
Người thư sinh đưa một ngón tay chạm lên cổ áo trắng của mình, nơi hai vạt áo bắt chéo theo chiều ngược lại.
"Chỉ có hai hạng người cài vạt áo sang trái. Một là người chết, vì lúc khâm liệm người sống cài cho họ như thế."
"Còn hạng thứ hai là ai?"
"Hai là người ngoài giáo hóa."
Hắn nhìn anh từ đầu tới chân.
"Huynh đài thì còn thở."
Trác Vương nhìn lại vạt áo mình, lần này như nhìn một tấm vải liệm. Cả ngày hôm nay, anh đã ngồi đây trong bộ áo của người chết mà không hề hay biết.
"Phu Tử khen Quản Trọng."
Người thư sinh nói tiếp.
"Rằng không có ông ấy thì người mình đã phải xõa tóc, cài vạt áo sang trái như người ngoài giáo hóa rồi."
Mắt hắn dời lên đầu anh.
"Vạt áo ấy cài trái thật, còn tóc thì muốn xõa cũng chẳng có mà xõa."
Trác Vương đưa tay lên sờ mái tóc của mình. Hai chữ Phu Tử còn vẳng bên tai anh quen như một gương mặt người nhà lẫn giữa đám đông xa lạ.
"Ở đây, đàn ông đã lớn thì ai cũng để tóc dài búi lên, giữ tới lúc xuống mồ."
Người thư sinh nói.
"Tóc tù bị cạo mọc lại thì lởm chởm, tóc sư thì trọc, còn tóc huynh đài ngắn mà đều. Trước sau có lớp có lối, tức là có người cầm kéo cắt cho theo một kiểu đã quen tay."
Hắn ngừng lại một chút.
"Ở nơi nào thì đàn ông cắt tóc ngắn như chuyện thường ngày?"
Câu hỏi ấy chạm vào chỗ Trác Vương đã tránh nghĩ tới suốt cả ngày. Anh nhớ lại ngôi sao Bắc Cực đêm qua, lẽ ra phải nằm sát chân trời mà lại treo cao vượt mái tường, nhớ những bức tường đất bao kín từng khu phố.
"Nơi ấy xa lắm."
Anh nói.
"Xa tới mức chính tôi cũng chưa biết là bao xa."
Người thư sinh nhìn anh khá lâu như cân xem câu ấy nặng nhẹ ra sao, rồi không hỏi thêm. Hắn chỉ vào cổ tay trái của anh.
"Cổ tay ấy có một vệt da nhạt vòng quanh, bản rộng chừng một đốt ngón tay."
"Người ta trói tôi đúng chỗ ấy."
"Vết thừng còn đỏ, chỉ là vết của một đêm. Vệt da nhạt thì phải đeo một vật gì đó nhiều năm liền mới có, mà đàn ông Đại Diễn không đeo gì ở cổ tay."
Hắn nghiêng đầu.
"Vật ấy đâu rồi?"
"Tôi để quên nó ở nhà."
Trác Vương nói và nghe giọng mình nghẹn lại. Chiếc đồng hồ ấy vẫn đang nằm trên mặt bàn, ở một nơi anh không biết đường về.
Người thư sinh không để khoảng lặng ấy kéo dài.
"Người ta đồn huynh đài nói lơ lớ như người Hồ. Nhưng người Hồ mới học nói thì trệch lung tung, chữ này đúng chữ kia sai. Còn giọng huynh đài thì chữ nào cũng trệch đi một chút, mà trệch đều như nhau như giọng của một nơi khác hẳn. Huynh đài lại còn gọi người ta theo lối cả thiên hạ không ai gọi: lão cai ngục là anh, một kẻ say trong ngục cũng là anh."
Mắt hắn hạ xuống bàn tay phải của anh.
"Ba ngón tay kia còn bột trắng trong kẽ móng. Bột ấy mịn, ăn sâu vào kẽ móng, cả ngày trong ngục vẫn chưa sạch, tức là ngày nào nó cũng bám vào đấy, mà chỉ bám ở ba ngón cầm bút."
Trác Vương nhìn mấy đầu ngón tay của mình. Dưới ánh đèn, trong kẽ móng vẫn còn một lớp trắng mờ, bụi phấn của buổi dạy cuối cùng, ở một buổi chiều mới cách đây hơn một ngày mà xa như đã mấy đời.
"Ngày nào huynh đài cũng cầm một thứ bột trắng mà viết."
Người thư sinh nói.
"Viết bằng thứ gì thì ta chịu không đoán ra. Nhưng lúc nãy trong tối, không ai đáp mà huynh đài chẳng gắt lên như quan, cũng chẳng van như kẻ dưới. Huynh đài chỉ nói lại cho chậm hơn, rõ hơn, như biết chắc người kia nghe thấy mà giả điếc."
"Người kia giả điếc thật."
Trác Vương nói.
Người thư sinh khẽ nhếch môi cười.
"Giọng ấy là giọng của người quen nói cho cả một gian phòng đầy học trò cùng nghe."
Hắn đặt hai bàn tay lên đầu gối.
"Vậy thì ta đoán thế này: một tiên sinh dạy học, tới từ một nơi xa tới mức chính mình cũng chưa biết là bao xa và không phải người Đại Diễn."
Suốt từ đêm qua tới giờ, người ta đã gọi anh là quỷ, là yêu nhân, là kẻ mang gương yêu mà chưa ai gọi đúng anh là gì.
"Anh nói đúng cả."
Trác Vương nói. Rồi anh ngồi thẳng lưng lên.
"Lúc nãy anh bảo tôi đoán thử xem anh là ai. Giờ tới lượt tôi."
Người thư sinh ngửa một bàn tay về phía anh như chủ nhà mời khách bước vào. Rồi hắn không nói gì thêm, chỉ chờ đợi.
"Người anh nồng mùi rượu tới mức cả buồng này nồng theo."
Trác Vương nói.
"Vậy mà lúc anh uống nước sát mặt tôi, hơi thở anh chỉ thoang thoảng. Người uống thật thì hơi rượu theo hơi thở ra suốt mấy canh giờ, càng ghé gần càng nồng."
"Biết đâu ta uống từ lúc chiều, giờ rượu đã tan."
"Rượu tan thì anh tỉnh từ lâu rồi, việc gì lão cai ngục tới anh lại gục xuống, lão đi anh lại ngồi dậy?"
Trác Vương không chờ hắn đáp.
"Anh chỉ ngậm một ngụm cho có hơi men rồi nhổ đi, còn bao nhiêu thì vẩy lên áo. Mặt anh không đỏ, mắt anh không đục."
Người thư sinh không cãi nữa mà chỉ khẽ nhướn mày, như người nghe kể lại một chuyện mình đã biết đoạn kết. Trác Vương từng đọc mòn một cuốn sách pháp y có cả một chương về vết chai của từng nghề, nhưng anh không ngờ có ngày đem nó ra đọc tay người sống.
"Tay anh có hai thứ chai."
Anh nói tiếp.
"Vết chai chỗ ngón tay tì cán bút là chai bút; học trò tôi đứa nào chép bài nhiều cũng có."
"Người đọc sách có chai bút thì có gì lạ."
"Lạ ở thứ chai kia. Cuốc với chèo làm chai khắp lòng bàn tay, mà lòng bàn tay anh thì mềm. Anh chỉ chai ở hổ khẩu với mặt trong mấy đốt ngón, đúng chỗ một bàn tay khép chặt quanh chuôi kiếm và ngày nào cũng khép."
Người thư sinh lật bàn tay lên và nhìn vào lòng bàn tay mình như lần đầu thấy nó, rồi lại đặt hờ lên đầu gối. Hắn không chối cũng không nhận.
"Lúc người ta đưa anh vào đây, tôi nghe anh loạng choạng vấp một cái rồi ngã phịch xuống rơm."
Trác Vương nói.
"Vậy mà lúc ngẩng lên, tôi thấy anh ngồi đúng chỗ nhìn thẳng ra cửa."
"Say thì ngã đâu ngồi đấy, ngã trúng chỗ tốt thì không được sao?"
"Được, nếu chỉ ngã một lần. Nhưng lúc nãy diễn say xong, ngồi dậy anh vẫn quay đúng về phía cửa, không lệch một gang. Người tỉnh mới chọn chỗ ngồi và chọn chỗ thấy được ai đang tới."
"Còn gì nữa không?"
"Sáng nay bị giải vào đây, tôi đã đếm."
Trác Vương nói.
"Dãy này mười hai buồng, sáu buồng bỏ trống. Tối nay tôi nghe lão dẫn anh qua ngần ấy buồng trống, tới đúng buồng này, đúng chỗ có tôi. Cậu lính giải anh tới còn hỏi sao lại nhốt chung với yêu nhân, lão không đáp."
"Cai ngục thì cần gì nói nhiều."
"Lão kiệm lời chứ không kiệm mắt. Sáng nay lão nhìn thẳng mặt tôi lúc đưa cho tôi bộ áo này. Lúc nãy lão nhìn thẳng mặt tôi mà dặn tôi trông anh. Chỉ có anh là lão không nhìn lấy một lần, mà người ta thì chẳng ai tránh ánh mắt một kẻ say."
Người thư sinh không đáp. Ngọn đèn ngoài song cửa khẽ lay, dải sáng trên mặt hắn run lên một chút.
"Còn người tỉnh mà giả say giữa giờ giới nghiêm."
Trác Vương nói.
"Thì biết chắc đêm nay mình sẽ ngủ ở đâu."
Anh nhìn vào mắt hắn.
"Anh không bị bắt. Anh tự vào đây."
Buồng giam lặng đi. Ngoài hành lang, giọt nước lại rơi xuống một tiếng. Rồi người thư sinh bật cười, tiếng cười không lớn mà giòn. Trác Vương chợt nhận ra hôm nay người ta đã cười anh không ít lần nhưng đây là lần đầu có tiếng cười không nhắm vào anh. Hai người nhìn nhau qua mấy dải sáng vắt ngang nền rơm, như hai người giải một bài toán từ hai đầu mà gặp nhau ở giữa. Và người nào cũng biết người kia đã giải đúng.
Người thư sinh chắp tay vái một vái đúng lễ của người đọc sách, dù đang ngồi trên một đống rơm trong buồng giam.
"Bạch Tú Tài."
Hắn nói.
"Xin ra mắt vương gia."
Trác Vương nhẩm lại cái tên ấy một lần trong đầu, như ngày đầu nhận lớp anh vẫn nhẩm tên từng đứa học trò cho khỏi quên. Kể từ khi rơi xuống nơi này, anh chỉ biết người ta qua việc họ làm với anh: gã cầm đầu đọc tội, gã thư lại chép biên bản, lão cai ngục khóa cửa. Bạch Tú Tài là người đầu tiên tự nói tên mình với anh.
"Người ta từ trên trời rơi xuống thì lo kêu trời."
Bạch Tú Tài nói tiếp, ý cười vẫn còn đọng nơi khóe mắt.
"Vương gia vừa chạm đất đã lo xưng vương."
"Tôi không xưng vương."
Trác Vương nói.
"Tôi khai tên."
"Thì ta đang nói cái tên."
Bạch Tú Tài ngả lưng vào vách.
"Họ Trác thì có thật. Nhưng nhà họ Trác nào dám đặt tên con là Vương? Ở Đại Diễn, đặt chữ vương vào tên con là rước tội vào nhà, cha mẹ nào cũng biết."
Trác Vương nhớ tới gã thư lại ở trạm gác sáng nay, ngọn bút dừng giữa chừng. Rồi câu gã nói: tên mà dám đặt chữ vương thì lại càng to gan. Lúc ấy anh tưởng gã bắt bẻ cho có cớ; hóa ra ở nơi này, đó là lẽ thường.
"Vậy Trác không phải họ."
Bạch Tú Tài nói.
"Trác là giỏi hơn người, Vương là vua, ghép lại thành ông vua giỏi hơn người. Cái tên ấy không phải cha mẹ đặt. Đó là tên người ta gọi."
"Học trò gọi thế."
Trác Vương thở hắt ra, nghe giống tiếng cười hơn là tiếng thở dài.
"Sáng nay ở trạm gác, tôi mới nói được nửa câu: tên này ..."
"Thế còn nửa sau?"
"Nửa sau là thế này: mỗi chữ Vương thôi, chữ Trác là học trò gắn vào."
Anh ngừng một nhịp.
"Tôi họ Vương, tên Dương."
Bạch Tú Tài gật đầu chậm rãi.
"Họ Vương thì đầy đường, khai tên thật là bớt ngay được tội tiếm xưng vương hiệu."
Hắn nói.
"Sắp bị chém tới nơi mà huynh đài vẫn không chịu khai?"
"Biên bản đã ghi tên Trác Vương."
Trác Vương nói.
"Giờ tôi khai thêm một tên nữa thì thành kẻ có hai tên, mà kẻ có hai tên thì ở đâu người ta cũng nghĩ ngay tới gian tế, tội chỉ nặng thêm."
"Còn tội gương yêu thì tự nó đã đủ bị chém."
Hắn nói nốt.
Bạch Tú Tài nói câu ấy nhẹ tênh như người ta nhắc nhau giờ giới nghiêm chứ không phải để dọa. Chính vì thế mà gáy Trác Vương lạnh đi. Cả ngày nay anh cứ tự nhủ rồi sẽ có người chịu nghe anh giải thích. Giờ có người chịu nghe rồi, người ấy lại bình thản nhắc anh rằng cái đầu anh vẫn đang treo trên một sợi chỉ.
"Tôi khai tên thật rồi đấy."
Anh nói.
"Còn tên thật của anh?"
"Tiên sinh vừa dạy ta đấy thôi: kẻ mang hai tên thì như gian tế."
Bạch Tú Tài dang hai tay ra như người vô tội.
"Ta vào đây mới dính mỗi một tội phạm dạ, dại gì khai thêm một tên cho nặng tội."
Trác Vương nghe ra không chữ nào trong câu ấy sai, mà cũng chẳng chữ nào trả lời câu anh hỏi, y như đứa học trò làm trôi chảy một đề bài khác với đề thầy ra. Nhưng câu ấy vẫn để lộ một điều: Bạch Tú Tài còn một cái tên thứ hai.
"Còn đám học trò kia."
Bạch Tú Tài hỏi.
"Cớ sao lại gọi người dạy mình là vua?"
"Chuyện ấy để hôm khác."
Bạch Tú Tài không hỏi thêm mà chỉ gật đầu như người chơi cờ thấy đối thủ giữ lại một quân. Ngọn đèn ngoài song cửa đã lụn xuống một chút, bóng tối trong các góc buồng dày thêm. Hắn ngồi thẳng lên và ý cười trong mắt tắt đi như một cuốn sách vừa gập lại.
Từ sáng tới giờ, người ta đã hỏi Trác Vương tên gì, quê đâu, nửa đêm ra đường làm gì rồi cười ồ lên khi nghe anh đáp. Chưa một ai hỏi anh điều mà Bạch Tú Tài đang hỏi, bằng một giọng thấp hẳn xuống.
"Đêm ấy, huynh đài đã thấy gì?"
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.