Thiên Ngoại Khách Lai: Đại Diễn Sấm

Quyển 1: Quỷ Kiệu Nghênh Lang

Chương 14: Nụ Cười Của Người Chết

Đăng: 16/10/2026 00:07 3,564 từ 3 lượt đọc

"Người ấy giờ nằm ở đâu?"

Trác Vương hỏi.

Trác Vương đáp một câu hỏi bằng một câu hỏi khác, vì muốn biết cái cười ấy từ đâu ra thì phải tới nhìn tận mặt người đã cười. Suốt ba hôm nay, anh chưa lần nào dừng lại cho lâu ở gương mặt ấy. Thay cho câu trả lời, Bạch Tú Tài thò tay vào ống tay áo trắng và rút ra một tờ giấy đã gấp nhỏ. Hắn đặt lên án thư, sát bên đồng tiền vẫn còn nằm cạnh túi tiền.

Tờ giấy chỉ có mấy dòng mà Trác Vương vẫn phải dò từng chữ nhiều nét như mọi lần: sai đưa nhân chứng vụ quỷ kiệu tới nha môn huyện nhận mặt người chết, cuối tờ đóng một dấu son. Trác Vương vừa ngẩng lên thì Bạch Tú Tài đã nói, giọng còn hạ thấp hơn lúc nãy, vì phòng bên giờ đã im hẳn.

"Giấy của tể tướng."

Bạch Tú Tài nói.

"Ta vốn định rủ huynh đi gặp người ấy một chuyến. Đêm ấy huynh đã ngồi với người ta tới sáng, giờ tới thăm cũng là phải đạo."

"Người ta đã khám xác chưa?"

Trác Vương hỏi.

Hai tay đan trên đầu gối, Bạch Tú Tài dựa hẳn người vào góc tường như người sắp kể một chuyện chẳng lấy gì làm vui.

"Chiều qua, việc vặt của ta là khuân một chồng giấy từ chỗ này sang chỗ khác."

Hắn nói.

"Ôm giấy thì mắt nằm ngay trên mặt giấy, không muốn đọc cũng phải thấy. Tờ trên cùng là tờ khám xác của ngỗ tác nha môn huyện, khám từ sáng mùng một."

Trác Vương không hỏi chồng giấy ấy khuân từ đâu sang đâu, vì chỗ Bạch Tú Tài phải tới làm việc vặt thì anh đã đoán ra từ chiều qua, lúc cánh cửa vừa khép.

"Tờ ấy ghi gì?"

Trác Vương hỏi.

"Toàn thân không có lấy một vết thương."

Bạch Tú Tài đọc thuộc lòng, giọng phẳng lặng như người đọc sổ sách.

"Thân cứng, lưng ưỡn, hai tay nắm chặt, miệng toác, cả người nồng hơi rượu. Kết lại thì say rượu ra gió, trúng phong phát kinh mà chết. Cái dáng ưỡn ấy thì ghi bằng bốn chữ: giác cung phản trương."

Trác Vương nhẩm lại bốn chữ ấy và nghe ra trong đó có chữ cung: một cây cung sừng bị bẻ ngược chiều. Đêm ấy, đứng trước cỗ kiệu, anh cũng chỉ tìm ra đúng một thứ để so với dáng người bên trong. Những người khám xác ở chốn này hẳn đã gặp cái dáng ấy từ lâu, lâu tới mức đặt cho nó cả một cái tên, có điều là cái tên của một chứng bệnh.

Bạch Tú Tài đứng dậy, cầm tờ giấy trên án thư nhét trở vào ống tay áo, xách bầu rượu dưới chân ghế lên, rồi vò nhàu vạt áo trắng.

"Ra khỏi cửa này thì ta lại say."

Hắn nói.

"Còn huynh là nhân chứng tới nhận mặt, người ta hỏi gì thì cứ nói điều mắt mình thấy."

Bước qua ngưỡng cửa là kẻ say lại xiêu đi như cây sậy trước gió, ôm bầu rượu lẩm nhẩm một khúc hát chẳng ra lời. Còn Trác Vương đi sát bên, chốc chốc lại phải đưa tay đỡ Bạch Tú Tài. Hai người ra khỏi cổng phường, băng qua đại lộ đã đông người và xe ngựa, rồi rẽ vào một phường bên kia đường. Nha môn huyện nằm cuối một con ngõ rộng, cổng gỗ sơn đen, bậc đá mòn vẹt và một tên nha dịch đang ngồi trên bậc mà ngáp.

Bạch Tú Tài rút tờ giấy trong ống tay áo ra, chìa cho tên nha dịch mà cầm ngược. Tên nha dịch xoay lại cho đúng chiều, vừa thấy dấu son thì đứng bật dậy, quay vào trong mà gọi to:

"Lão Củng! Có người bên tể tướng tới xem cái xác trong kho!"

Người bước ra là một ông lão gầy ngoài năm mươi, lưng hơi còng như cả đời chỉ quen cúi xuống những tấm ván. Hai bàn tay lão to và sạch tới lạ, móng cắt sát tận thịt, da đỏ ửng như vừa ngâm lâu trong nước lạnh. Lão nhận tờ giấy từ tên nha dịch, đỡ bằng hai đầu ngón tay mà đọc rất chậm. Rồi lão đưa mắt từ Bạch Tú Tài đang ôm bầu rượu sang Trác Vương và nhìn khuôn mặt dưới vành khăn đen lâu hơn cần thiết.

"Tể tướng sai người tới nhận mặt xác."

Lão nói với giọng đều mà lạnh.

"Vậy mà người được sai lại là một kẻ say với chính cái kẻ bị bắt ngồi cạnh xác."

Lão gập tờ giấy lại.

"Ngươi phỏng là yêu nhân đấy?"

"Tôi là nhân chứng."

Trác Vương đáp.

"Nhân chứng hay hung thủ thì để quan xét."

Lão Củng hất hàm về phía sân sau.

"Xác ấy ta khám từ sáng mùng một, đã khám xong, ghi xong, giấy đã lên tận chỗ tể tướng. Nhận mặt thì đứng ở cửa kho mà nhận, không ai được đụng vào người chết."

Bạch Tú Tài chộp lấy tờ giấy từ tay lão, giơ sát tận mũi, dò từng chữ mà đọc to giọng lè nhè:

"Nhận... mặt... người chết."

Hắn ngẩng lên, chớp chớp mắt.

"Đứng tít ngoài cửa thì nhận mặt bằng gì? Đại nhân sai nhận mặt, có sai đứng ngoài cửa mà đoán đâu."

Lão ngỗ tác ngó hắn như ngó một vũng rượu ai đánh đổ trên bậc thềm nhà mình, rồi giằng tờ giấy về, nhét vào ống tay áo.

"Thì vào."

Lão nói.

"Nhưng nhìn bằng mắt, không nhìn bằng tay."

Gian để xác là một gian kho thấp ở cuối sân sau, vách đất, cửa gỗ dày gài then sắt, khuất trong bóng một dãy nhà nên chưa có lấy một vệt nắng chạm tới. Lão ngỗ tác rút then, đẩy mạnh hai cánh. Hơi lạnh ùa ra như từ miệng giếng, lẫn một mùi ngai ngái mà Trác Vương ngửi một lần là biết mình sẽ còn nhớ rất lâu. Ở giữa, trên hai cái mễ gỗ kê một tấm ván cửa, trên ván là một hình người phủ chiếu cói. Ngay cả dưới lớp chiếu, cái hình ấy cũng không nằm như người ta vẫn nằm.

Lão ngỗ tác nhấc chiếc chiếu khỏi người chết rồi gấp đôi và đặt xuống cuối ván.

"Cứng như sắt."

Lão nói như than phiền về một món đồ khó sửa.

"Ta muốn lột bộ đồ ra mà khám cũng không lột nổi, đành nới cổ áo, vén vạt áo lên mà xem từ đầu tới chân."

Người trên ván vẫn mặc bộ đồ cưới đỏ, cổ áo nới rộng, vạt áo vén lệch sang một bên. Đóa hoa lụa và chiếc mũ chú rể đã được tháo ra, đặt ở đầu ván. Đầu người ấy ngửa hẳn về sau mà tì xuống mặt gỗ, hai gót chân cũng tì xuống mặt gỗ. Còn cả quãng thân ở giữa thì vồng lên như một nhịp cầu, hai chân duỗi thẳng đơ. Hai nắm tay siết chặt bên sườn. Đôi môi bị kéo dạt về phía mang tai, phơi cả hai hàng răng, còn đôi mắt thì mở, trống rỗng, hướng lên xà nhà.

Trác Vương đứng lặng bên tấm ván. Lần trước anh thấy gương mặt này là dưới ánh đèn điện thoại giữa đêm, khi da thịt người ấy còn ấm và anh còn chưa hiểu mình đã rơi xuống chốn nào. Đêm ấy anh đã hứa sẽ ngồi lại tới sáng cho người ấy khỏi trơ trọi giữa đường và anh đã giữ lời. Vậy mà từ sáng ấy tới giờ, người ấy vẫn chưa được nằm xuống cho yên, chỉ vồng mình trên một tấm ván lạnh, chờ người ta tìm cho mình một cái cớ để chết.

"Người say mà chết thì lúc vừa tắt thở, người mềm hay cứng?"

Trác Vương hỏi.

"Xác nào chẳng mềm ra trước."

Lão ngỗ tác đáp, giọng của người đã giảng câu ấy cho không biết bao nhiêu đứa học việc.

"Phải mấy canh giờ sau mới cứng dần, trời rét thì còn lâu hơn. Người say lại càng mềm, ngã đâu nằm đấy."

Lão vừa nói vừa kéo lại vạt áo đỏ trên người chết cho ngay, như thể nói xong thì việc cũng xong.

"Vậy người ngồi chết trong kiệu mà mềm ra thì phải gục về phía trước, như người ngủ gật trên ghế."

Trác Vương nói.

"Đêm ấy tôi vén rèm, thấy người này ưỡn ngửa, đầu ngả ra sau. Tôi áp hai ngón tay vào cổ người này lúc da còn ấm, vậy mà cổ đã cứng như gỗ."

"Lời ấy là lời của yêu nhân."

Lão ngỗ tác nói, chẳng buồn ngẩng lên.

"Đêm ấy ngoài ngươi ra thì còn ai đứng đó mà làm chứng?"

"Thì đừng nghe tôi."

Trác Vương nói.

"Cứ hỏi người này."

Chưa đợi lão ngỗ tác kịp ngăn, Trác Vương đã bước sát tới tấm ván, cúi người, luồn bàn tay phải vào khoảng trống giữa lưng người chết với mặt gỗ. Bàn tay anh lọt ngang qua từ bên này sang bên kia mà không chạm vào đâu cả.

Đúng lúc ấy, trang sách Trác Vương lần mãi suốt ba hôm nay bỗng mở ra trong đầu anh, rõ tới từng nét mực. Đó là một trang trong cuốn sách pháp y Trác Vương từng đọc mòn, thuộc chương về những chất độc gây co giật. Một hình vẽ người nằm ngửa trên giường bệnh, chỉ còn đầu và gót chạm nệm, cả thân mình cong vồng lên. Bên dưới hình là mấy dòng về strychnin, thứ lấy từ hạt một loài cây, in kèm tấm ảnh chụp mấy hạt ấy. Phía dưới cùng có một bảng nhỏ so nó với bệnh uốn ván: uốn ván đến từ từ, thường sau một vết thương nhiều ngày. Còn strychnin phát chỉ mười lăm tới ba mươi phút sau khi uống, người trúng độc tỉnh cho tới lúc tắt thở và xác cứng lại rất sớm.

"Hai ngày nay người này nằm ngửa trên tấm ván này."

Trác Vương nói, tay vẫn để nguyên dưới lưng người chết.

"Xác mà mềm ra trước thì có cứng cũng chỉ cứng theo cái dáng rũ xuống của nó, chẳng xác nào tự ưỡn lên được. Đằng này chỉ có đầu với gót chạm ván. Người này cứng lại ngay giữa cơn giật, chưa kịp mềm ra lấy một khắc."

Lão ngỗ tác gạt tay Trác Vương ra, đặt hai bàn tay to bè lên ngực người chết mà ấn xuống, ấn mạnh tới mức tấm ván kêu lên trên hai cái mễ. Khoảng vồng giữa đầu và gót không xẹp lấy một đốt ngón tay. Lão buông ra, đứng thẳng dậy. Lần đầu từ lúc mở cửa kho, lão nhìn cái xác của mình như nhìn một thứ lão chưa gặp bao giờ.

"Thì phát kinh."

Lão nói, nhưng giọng đã chậm hẳn lại.

"Giật tới chết, chết giữa cơn giật thì cứng giữa cơn giật. Cái mặt nhe răng kia cũng do gân rút mà ra, chẳng phải cười, chỉ người ngoài đồn nhảm mới bảo nó cười."

"Người ngoài đồn thế vì chỉ nhìn cái miệng."

Trác Vương nói. Anh quay sang Bạch Tú Tài đang ngồi bệt trên bậc cửa kho, bầu rượu ôm trong lòng.

"Phiền anh cười một cái."

Bạch Tú Tài ngẩn ra một thoáng, rồi cười hì hì tới mức nheo cả mặt. Trác Vương trỏ vào đuôi mắt hắn, nơi mấy nếp nhăn nhỏ xòe ra như chân chim, vào hai gò má đang đội lên, rồi chuyển tay xuống gương mặt trên tấm ván. Mắt người chết trợn lồi, quanh đó phẳng lì không một nếp, riêng hai khóe miệng toác về hai bên như có ai căng hai sợi dây vô hình.

"Người cười thật thì mắt cười trước."

Trác Vương nói.

"Người này thì chỉ có thịt quanh miệng co rút."

"Ta cười suốt ngày, sao tới nay mới có người đem ra dùng vào việc?"

Bạch Tú Tài lè nhè, mặt vẫn còn toe toét. Lão ngỗ tác lườm hắn một cái, vậy mà khóe miệng lão cũng nhếch lên rất khẽ.

Trác Vương cúi xuống, ghé sát mặt mình vào gương mặt người chết, gần tới mức chỉ còn cách một bàn tay. Qua kẽ hai hàng răng có một hơi lạnh bốc lên, nhạt và chua, lẫn trong mùi ngai ngái của gian kho. Nhưng anh nhận ra ngay, vì suốt ba hôm nay mũi anh đã quá quen thứ mùi ấy.

"Hơi rượu ở trong miệng."

Trác Vương nói khi đã rời khỏi gương mặt ấy, mắt liếc sang vạt áo của kẻ say.

"Rượu vẩy lên áo thì mấy ngày đã bay sạch, còn thứ đã nuốt vào bụng thì hơi nó ở lại lâu hơn nhiều."

Bạch Tú Tài đưa vạt áo lên mũi mà ngửi, ngửi rất lâu, rồi nấc lên một tiếng rõ to.

"Thì ta đã ghi là say rượu."

Lão ngỗ tác nói.

"Người say thì ngã đâu nằm đấy."

Trác Vương đáp, nhắc lại lời lão ngỗ tác ban nãy.

"Rượu chỉ là thứ cuối cùng người này nuốt vào bụng trước khi chết."

Lão ngỗ tác mở miệng định cãi rồi lại thôi. Trác Vương hỏi sang chính cái nghề của lão:

"Những xác chết vì bệnh kinh từng nằm trên tấm ván này, người ta ốm bao lâu thì chết?"

"Người dăm ngày, người nửa tháng."

Lão ngỗ tác đáp sau một lúc suy ngẫm, như đếm lại từng cái xác trong trí nhớ.

"Phần nhiều bắt đầu từ một vết thương, ốm dần ốm mòn rồi mới tới lúc giật."

"Người này không có vết thương nào, tờ khám xác ghi thế."

Trác Vương nói.

"Tối ấy người này còn mặc áo cưới ngồi kiệu, còn uống được rượu, rồi chết ngay trong đêm."

Lão ngỗ tác không nói thêm về bệnh kinh. Lão rút từ ống tay áo ra một gói lụa nhỏ và mở ra, cầm lên một cây kim bạc dài chừng một gang tay, bóng loáng. Rồi lão giơ trước mặt Trác Vương như giơ một tấm thẻ bài.

"Không phải bệnh thì là độc."

Lão nói.

"Mà sáng mùng một ta thăm họng hắn bằng cây kim này, giữ thật lâu, rút ra vẫn sáng như cũ."

"Cây kim ấy chỉ trả lời đúng câu người ta hỏi nó."

Trác Vương nói.

"Nó cho biết trong họng người này không có thứ làm đen được bạc. Còn người chết vì đâu thì nó không biết."

Lão ngỗ tác siết cây kim trong tay.

"Ba mươi năm nay nó chưa sai lần nào."

"Nó không sai."

Trác Vương đáp.

"Chỉ là chưa ai hỏi nó câu ấy."

Trác Vương lặng đi thêm một lúc rồi mới nói tiếp, chậm rãi như đọc lại từng dòng dưới hình vẽ trong đầu.

"Có một thứ hạt, nghiền ra hòa vào rượu thì người uống chỉ thấy đắng gắt. Chừng một, hai khắc sau, gân cốt bắt đầu co giật từng cơn, chỉ một tiếng động hay một cái chạm khẽ cũng đủ gọi cơn sau tới. Người trúng nó chết vì không thở nổi, tắt thở rồi thì cứng ngay đúng cái thế đang giật."

Trác Vương khum mấy ngón tay lại, chừa một khoảng tròn nhỏ giữa lòng bàn tay.

"Hạt ấy dẹt và tròn như một đồng tiền không đục lỗ, một mặt lõm, màu xám tro."

"Mã tiền tử."

Lão ngỗ tác buột miệng rồi im bặt, như chính lão cũng không ngờ mình nói ra. Lão nhìn xuống đôi chân duỗi thẳng của người chết, nhìn cái cổ ngửa hẳn về sau và giọng lão trầm hẳn xuống.

"Ngoài chợ người ta mua thứ hạt ấy về làm bả chó. Chó ăn phải thì chẳng bao lâu đã giật, bốn chân duỗi thẳng đơ, cổ ngoặt ngược ra sau, y như thế này. Chó chết như thế ta thấy không biết bao nhiêu lần, còn người thì đây là lần đầu."

Rồi lão ngỗ tác ngẩng lên và ánh mắt lão nhìn Trác Vương lại sắc như lúc ở cổng.

"Nếu là độc."

Lão nói.

"Thì kẻ ngồi cạnh xác suốt đêm ấy lại càng khó gỡ."

"Thứ thuốc ấy cần chừng ấy thời gian mới phát, rồi còn giật một hồi mới chết."

Trác Vương đáp.

"Lúc tôi rơi xuống thì người này đã tắt thở. Rạng sáng ấy người ta lục soát khắp người tôi, chẳng thấy lấy một giọt rượu."

Nói câu ấy cho lão ngỗ tác nghe, Trác Vương lại nhớ tới tờ cung khai soạn lại mà hôm qua chính miệng anh phải đọc to, chỗ chép anh giơ gương yêu lên yểm khiến người trong kiệu chết ngay tại chỗ. Cái xác trên ván vừa tự cãi lại mấy chữ ấy, bằng chính thứ người ta đã cho nó uống.

Lão ngỗ tác không đáp. Lão gói cây kim vào mảnh lụa và cất đi, rồi bước tới cái chậu gỗ kê ở góc kho. Lão nhúng hai bàn tay vào nước lạnh mà rửa, kỳ từng kẽ ngón tay thật kỹ, như người vừa khám xong một cái xác mới. Rửa xong, lão lau tay vào vạt áo, quay lại nhìn Trác Vương.

"Tờ khám xác của ta sai."

Lão nói.

"Sai cái cớ, không sai cái dáng. Ta sẽ viết lại, trình lên đúng nơi đã phát ra tờ giấy ấy."

Trác Vương chưa kịp nói gì thì lão ngỗ tác đã hỏi thêm. Lần này lão không gọi anh là yêu nhân nữa.

"Ngươi học khám xác ở đâu?"

"Tôi chỉ đọc sách."

Trác Vương đáp.

Bạch Tú Tài nãy giờ ngồi gà gật trên bậc cửa bỗng cười sằng sặc, cười tới chảy cả nước mắt.

"Ta cược cả bầu rượu này."

Hắn lè nhè.

"Người này đọc nhiều tới mức từ trên trời rơi xuống."

Trác Vương không cười theo. Anh nhìn xuống người trên ván, nhìn cái miệng còn phơi răng dưới thứ ánh sáng mờ của gian kho.

"Đắng gắt như thế mà người này vẫn uống cho tới khi đủ chết."

Trác Vương nói, nửa như hỏi lão ngỗ tác, nửa như tự hỏi.

"Hoặc người này không nếm ra, hoặc người này đã chờ sẵn một chén đắng."

Từ bậc cửa, Bạch Tú Tài ngửa cổ ngâm nghêu ngao, kéo giọng như người đứng bên bờ sông gọi đò:

"Bào hữu khổ diệp, tế hữu thâm thiệp..."

Trác Vương chỉ bắt được hai chữ khổ diệp, lá đắng, còn nửa câu sau thì trôi qua tai anh như nước.

"Lễ chép: hợp cẩn nhi dận."

Bạch Tú Tài quay sang lão ngỗ tác, giơ một ngón tay lên trời, giọng vẫn nhừa nhựa.

"Cẩn là quả bầu đắng, ăn không được, bổ đôi ra làm hai cái gáo, rót rượu vào rồi vợ chồng mới mỗi người cầm một nửa mà uống. Người ta bảo uống chén ấy là chia nhau ngụm đắng đầu tiên của đời vợ chồng. Đêm thành thân, chú rể nào dám từ chối chén ấy?"

Lão ngỗ tác phẩy tay như phẩy một con ruồi.

"Kẻ say lại giảng lễ."

Lão càu nhàu rồi bảo hai người đứng đó mà chờ, lão đi lấy giấy bút. Trác Vương thì vẫn đứng nguyên chỗ cũ, nghe từng chữ Bạch Tú Tài vừa nói rơi đúng vào chỗ còn trống trong bài giải của mình.

Ngoài kia nắng đã lên quá mái nha môn, hắt một vệt vàng xiên qua khung cửa mở, dừng lại ngay mép tấm ván. Bóng lão ngỗ tác vừa khuất sau góc sân, Bạch Tú Tài đã đặt bầu rượu xuống bậc cửa rồi bước vào đứng cạnh Trác Vương. Hắn không còn nấc, cũng không còn ngâm.

"Anh hỏi lính học cái cười ấy ở đâu."

Trác Vương nói khẽ, chỉ đủ cho một người nghe.

"Chúng chẳng cần học. Cái cười ấy nằm sẵn trong chén rượu."

Bạch Tú Tài không đáp. Hắn nhìn người nằm trên ván rất lâu và trên gương mặt hắn lúc ấy, ý cười của kẻ say đã rút đi đâu mất. Trác Vương nhặt chiếc chiếu cói ở cuối ván lên, kéo phủ lại từ chân tới đầu người chết, nhẹ tay như người ta đắp chăn cho một đứa trẻ đã ngủ. Trang sách ban nãy còn một dòng anh chưa kịp nhớ: người trúng thứ độc ấy, giữa những cơn giật, tai mắt còn tinh hơn thường. Vậy đêm ấy, suốt quãng đường kiệu đi, người ấy đã tỉnh mà giật từng cơn trong lòng kiệu chật và đã nghe trọn tiếng kèn rước mình, câu nào cũng vui như một đám cưới thật.

Truyền thuyết bảo tân nương bắt người về làm chồng, vậy mà chén rượu giết người ấy lại do chính tay người ấy nâng lên, vì người ta chỉ uống rượu hợp cẩn khi tin rằng mình đang cưới vợ.

0