Thiên Ngoại Khách Lai: Đại Diễn Sấm

Quyển 1: Quỷ Kiệu Nghênh Lang

Chương 11: Những Thứ Được Trả Lại

Đăng: 12/10/2026 00:57 3,311 từ 4 lượt đọc

Tới khúc ngõ ngoặt, khi mép tường bên trại lính đã khuất sau lưng, Bạch Tú Tài mới dừng lại. Hắn nhấc chiếc áo trắng khỏi đầu Trác Vương rồi trùm lại cho ngay. Lần này hắn gấp cổ áo thành một vành ôm sát trán, kéo hai vạt xuống phủ kín thái dương với gáy mà chừa trọn khuôn mặt. Rồi hắn lùi nửa bước ngắm lại như người thợ may ngắm đường khâu cuối.

"Ngẩng lên được rồi."

Bạch Tú Tài bảo.

Trác Vương ngẩng lên. Sáng hôm qua anh cũng đã đi giữa phố xá ban ngày, nhưng hai tay bị trói quặt sau lưng, người qua đường dạt ra hai bên mà trố mắt như xem một con thú lạ. Sáng nay không sợi dây nào trói anh, trong tay chỉ có bầu rượu gần đầy của một kẻ say. Lần đầu Trác Vương được đi giữa kinh thành như mọi người đi đường khác.

Con ngõ đổ ra một con phố hẹp kẹp giữa hai dãy tường phường. Vừa ra khỏi ngõ, Bạch Tú Tài đã giằng lại bầu rượu, bước chân xiêu ngay đi như cũ. Thỉnh thoảng hắn lại ngửa cổ dốc bầu mà chẳng thấy nuốt. Vậy mà lần nào Trác Vương liếc sang, vạt áo bông ấy vẫn đi ngang với anh, không lệch lên trước lấy nửa bước.

Cổng phường nào dọc phố cũng mở toang, người ra người vào như nước chảy qua cửa cống, có cả một đứa bé cưỡi trên vai cha mà ngoái cổ nhìn con lừa chở than. Đêm ấy Trác Vương đã gõ vào một cánh cổng y như thế mà không ai dám mở, còn ban ngày thì chẳng ai buồn khép nó.

Phố hẹp đưa hai người ra đại lộ và Trác Vương bất giác dừng chân. Lúc nửa đêm, anh đã ước chừng con đường này rộng hơn trăm mét. Giờ nhìn dưới nắng, anh thấy mình còn ước hụt. Bụi vàng bốc lên dưới bánh xe, móng lừa và gót dòng người đi sát hai bên mép đường, còn quãng giữa để cho xe ngựa và một đoàn lạc đà lắc lư theo tiếng lục lạc.

Mỗi lần đi ngang một ngả rẽ, Trác Vương lại nhìn vào và thấy con đường ngang nào cũng gặp đại lộ đúng một góc vuông. Đêm qua trong ngục, anh đã xếp các dữ kiện cạnh nhau mà ra chỗ này là Trường An, một Trường An không có nhà Đường. Sách sử vẽ kinh thành ấy như một bàn cờ và giờ anh đang đi trên một đường kẻ của bàn cờ ấy.

"Thành này tên là gì?"

Trác Vương hỏi khẽ.

Bạch Tú Tài không hỏi vì sao một người đang đi giữa kinh thành lại không biết tên nó. Hắn kề bầu rượu lên môi làm như uống, rồi đáp qua miệng bầu:

"Trường Minh. Tên đặt cho sáng mãi, vậy mà mùa này trống chiều vừa dứt là nhà nhà đã thổi đèn."

Trác Vương nhắc thầm cái tên và nghe ra Trường Minh chỉ khác Trường An đúng một chữ, như một đề bài chép lại mà sai đi một con số. Rồi anh nhận ra chỗ mình rơi xuống trước cả khi kịp nghĩ: phía trước là chính cánh cổng có lầu canh anh đã gõ, còn cái cây cao anh lấy làm mốc vẫn nhô ngọn qua dãy tường phía bắc, giờ chỉ là một chùm cành khô trên nền trời. Chỗ cỗ kiệu dừng, chỗ Trác Vương ngồi tựa lưng bên người chết tới rạng sáng, giờ là mặt đá quét sạch cho xe cộ đi lại. Chẳng còn dấu gì của cái xác mặc áo chú rể với nụ cười cứng trên mặt. Trác Vương bước qua quãng ấy cùng dòng người và không một ai ngoái lại.

Người thư lại già rẽ vào đúng cánh cổng ấy, hai tay vẫn ôm chiếc hòm. Cạnh cổng, một ông lão ngồi trên ghế đẩu giữa mấy người hàng phố, đang kể chuyện đêm hôm kia bằng cái giọng run run mà Trác Vương chỉ nghe một lần trong đêm đã nhớ.

"Nó gõ chín lượt, lượt nào cũng ba tiếng, gõ tới gà gáy mới thôi."

Ông lão kể, tay vỗ đùi đánh đét.

"Rồi nó cất giọng lơ lớ như người dưới âm phủ mới lên, bảo lão đi báo quan. A di đà Phật, có con ma nào lại đi báo quan bao giờ!"

Mấy người hàng phố xuýt xoa rồi phá ra cười. Trác Vương thì đếm lại: đêm ấy anh gõ ba tiếng, ba tiếng nữa, rồi thêm một lượt, cả thảy ba lượt, mới hai đêm mà đã mọc thêm sáu lượt rồi. Anh cúi đầu đi qua mà không hé môi, vì chỉ cần mở miệng là ông lão sẽ nhận ra cái giọng lơ lớ đêm nọ. Bên cạnh Trác Vương, vai Bạch Tú Tài rung lên từng chặp, nhưng hắn vẫn đi thẳng, không quay đầu.

Qua khỏi cổng, con phố trong phường hẹp hẳn lại, nhà cửa hai bên san sát. Đầu phố có một quán trà căng mái lều vải, hơi nước bốc nghi ngút từ chiếc ấm trên bếp than. Người thư lại không hỏi đường ai mà rẽ thẳng vào con ngõ bên cạnh, tới một dãy phòng thấp mái vây quanh khoảnh sân có giếng. Sau mấy ô cửa sổ vọng ra tiếng đọc sách ê a.

Bà chủ trọ đang giặt bên giếng, ống tay áo xắn cao, tóc búi gọn, cắm một cây trâm tre. Bà đã ngoài năm mươi mà đôi vai vẫn vững như vai người quen gánh nước. Thấy tấm áo tù dưới lớp áo trắng trùm đầu, bà nhìn lâu hơn một chút nhưng không hỏi. Người thư lại đặt chiếc hòm xuống bậc thềm rồi nói nhỏ với bà mấy câu. Sau đó thư lại trao cho bà một túi tiền con và bà cầm nó hồi lâu mới gật đầu. Còn Bạch Tú Tài thì ngồi phịch xuống cạnh đó, ôm bầu rượu mà lim dim.

"Cả dãy chỉ còn phòng cuối."

Bà nói.

"Mùa thi, phòng nào cũng có người rồi."

Phòng cuối dãy chỉ đủ kê một chiếc giường tre, một án thư với cái ghế đẩu và một chum nước sau cánh cửa, trên nắp úp một chậu gỗ. Một cây đèn dầu đặt sẵn ở đầu bàn, còn trong góc là một tay nải với một tráp sách phủ bụi mỏng. Bà chủ trọ đứng ở ngưỡng cửa mà không bước vào, mắt cứ dừng mãi ở góc ấy.

"Đồ của người ở trước."

Bà nói.

"Chưa ai tới nhận."

Rồi bà quay ra giếng.

Người thư lại già bưng chiếc hòm vào đặt lên án thư, nhấc chồng quần áo trên nắp sang mép giường, để hộp bút nghiên vẫn cắp bên nách xuống một góc. Ông móc từ tay áo ra một chìa khóa nhỏ, xé giấy niêm, mở khóa, rồi đọc theo một mảnh giấy, giọng khô như người kiểm kho:

"Gương yêu, một chiếc. Sổ, một cuốn. Áo quần, một bộ."

Trác Vương chưa kịp hỏi vì sao người ta trả đồ cho một kẻ còn mang tội, người thư lại đã nói tiếp:

"Đại nhân dặn, người đã giữ trong tầm tay thì đồ của người ấy cũng để trong tầm tay. Tang vật thì biên bản đã chép đủ."

Dưới đáy hòm là cuốn sổ tay nằm cạnh một cái bọc nhỏ, gói bằng chính chiếc khăn rạng sáng hôm ấy gã cầm đầu đã trùm lên điện thoại. Người thư lại lấy cuốn sổ ra để sang một bên trước. Tới lúc ông nhấc cái bọc lên, lớp khăn sáng lên ngay trong tay ông một vầng trắng nhạt. Hai bàn tay ông dừng giữa chừng, nhưng ông không quẳng nó đi như tên lính nọ, chỉ đặt nó xuống thật chậm như người ta đặt một bát nước đầy.

Trác Vương gỡ lớp khăn ra. Màn hình còn sáng và anh chỉ nhìn vào góc trên cùng. Máy vẫn không bắt được sóng, pin còn hai mươi ba phần trăm, nghĩa là chỉ vì nằm trong hòm dò tìm một thứ sóng không có ở nơi này, nó đã hao gần hai phần ba chỗ pin còn lại đêm anh rơi xuống. Trác Vương đè ngón tay lên nút bên hông, chờ máy hỏi có tắt hay không rồi vuốt một đường và vầng sáng tắt hẳn.

Mỗi lần mở máy sẽ ngốn chừng một phần trăm, Trác Vương tính vậy là còn độ hai chục lần và lần nào cũng phải đáng dùng mới mở. Người thư lại nhìn cái gọi là gương yêu tối lại dưới ngón tay Trác Vương, mặt không đổi, rồi chỉ buông một câu:

"Thứ ấy thì đừng giơ ra giữa phố."

Người thư lại mài ít mực, viết mấy dòng lên một tờ giấy mới, rồi xoay nó về phía Trác Vương, chìa luôn cây bút.

"Biết chữ thì ký tên. Không thì điểm chỉ."

Trác Vương cầm lấy cây bút rồi lại đặt xuống. Tên anh trong biên bản là Trác Vương, mà tự tay viết hai chữ ấy khi tội tiếm xưng vương hiệu còn treo trên đầu thì chẳng khác gì tự khai thêm một lần. Tên cha mẹ đặt thì chỉ Bạch Tú Tài biết, khai ra lúc này là thành kẻ có hai tên. Còn chữ phồn thể của anh, sáng nay tể tướng đã nghe anh đọc ngắc ngứ, viết ra hẳn còn khó coi hơn.

Trác Vương chìa ngón cái ra. Đêm qua anh đã giấu ngón tay ấy trong nắm tay, sáng nay nó lại nằm ngoài cái kẹp. Viên quan quân tuần đã bảo lát nữa chính anh sẽ tự chìa nó ra. Gã nói không sai, chỉ đoán sai tờ giấy. Trác Vương chấm đầu ngón ấy vào nghiên mực và ấn xuống cuối tờ nhận. Dấu điểm chỉ đầu tiên của anh ở chốn này lại là để nhận về đồ của chính mình.

Người thư lại thổi cho khô mực, gấp tờ giấy cất vào tay áo, cắp hộp bút nghiên lên nách mà đi, để lại chiếc hòm không trên án thư. Ra tới cửa, ông bước qua Bạch Tú Tài đang gà gật trên bậc thềm như bước qua một hòn đá kê chân, không liếc xuống lấy một lần.

Tiếng chân người thư lại vừa khuất sau góc ngõ, Bạch Tú Tài đã đứng dậy bước vào khép cửa, đôi mắt lờ đờ lúc nãy giờ sáng và tỉnh. Hắn đặt bầu rượu lên án thư, gỡ tấm áo trắng trên đầu Trác Vương xuống khoác lại lên người mình, rồi mới cầm bầu lên.

"Ta ra phố mua cho huynh một mái tóc. Huynh cứ ngồi yên đây, đừng ló đầu ra cửa."

Cánh cửa khép lại và gian phòng lạnh như đáy giếng. Trác Vương ngồi co ro một lúc trong bộ áo tù mỏng, rồi với lấy chiếc áo khoác của mình trên mép giường mà mặc chồng lên, kéo khóa lên tận cổ. Hai hàng răng khóa kéo từng làm lão cai ngục giật lùi một bước giờ cắn kín lại, giữ cho anh chút hơi ấm mà từ sáng hôm qua anh chưa có. Trác Vương biết cái áo này không mặc ra phố được vì khoác nó ra ngoài thì chẳng khác gì để lộ mái tóc ngắn cho thiên hạ nhìn.

Quá trưa, Bạch Tú Tài mới quay về, tay xách một cái bọc vải căng phồng. Thấy Trác Vương ngồi trong chiếc áo có khóa kéo, hắn đứng sững ở ngưỡng cửa một thoáng rồi bật cười:

"Ngoài phố người ta đồn cái áo ấy có răng, ta cứ tưởng nó cắn người."

Bạch Tú Tài mở bọc, bày lên án thư gồm một búi tóc dày quấn trên chiếc cốt nhỏ bằng sa đen quét hồ cứng, một cây trâm gỗ, một cái lược thưa, một dải khăn vải đen, một hũ sành con và một bộ áo vải nâu xám gấp vuông. Hắn bắt Trác Vương cởi áo khoác, ngồi xuống ghế đẩu, rồi mở nút cái hũ. Bên trong là thứ nước sền sệt không có mùi gì.

"Nước ngâm dăm bào."

Hắn nói.

"Các bà các cô vẫn dùng để chải tóc cho óng."

Bạch Tú Tài vuốt thứ nước ấy lên tóc Trác Vương, lấy lược dồn ngược từng lớp lên đỉnh đầu cho nằm rạp, rồi úp chiếc cốt lên trên. Mớ tóc ấy vốn là thứ đàn bà vẫn mua về độn cho búi cao thêm. Hẳn hắn đã quấn lại và khâu chặt nó vào cốt ngay tại chỗ mua, thành một búi của đàn ông. Cây trâm gỗ xuyên qua búi, qua cốt, qua cả chân tóc thật và Trác Vương nghe da đầu căng lên một cái. Sau cùng, Bạch Tú Tài quấn dải khăn đen quanh đầu Trác Vương hai vòng, che kín mép tóc ngắn ở thái dương và sau gáy, chỉ chừa phần búi nhô lên trên đỉnh, rồi thắt nút phía sau.

Bạch Tú Tài múc một chậu nước đặt lên án thư. Trác Vương cúi xuống và trong mặt nước còn lăn tăn có một người đàn ông Đại Diễn đang nhìn lên. Búi tóc trên đỉnh, khăn đen quấn ngang trán, chỉ có khuôn mặt là của anh.

Tháo ra rồi đội lại, Bạch Tú Tài bắt Trác Vương tự làm đủ hai lượt mới thôi: gỡ khăn, rút trâm, nhấc cốt, rồi làm ngược lại.

"Lời đồn đi tìm một cái đầu tóc ngắn."

Hắn nói.

"Kinh thành này thì chẳng thiếu những cái đầu quấn khăn."

Trác Vương đặt tay lên búi tóc.

"Tóc này của ai?"

"Của một người đàn bà nào đó cắt bán cho hàng tóc."

Bạch Tú Tài đáp.

"Mái tóc dài tới thắt lưng, chắc cũng đổi được mấy đấu gạo."

Trác Vương rút tay về. Anh đang đội trên đầu mấy đấu gạo của một người đàn bà không quen, để khỏi bị những người không quen nhận ra.

Phần còn lại thì Trác Vương tự lo lấy là anh gấp chiếc áo khoác cùng mấy món đồ của mình cất vào hòm, rồi thay áo tù bằng bộ đồ nâu xám. Nhớ bài học trong ngục, anh ngẩng lên nhìn cổ áo Bạch Tú Tài đứng trước mặt, bắt chéo hai vạt của mình y như thế, rồi thắt dây thật chặt.

"Huynh định khâm liệm mình lần nữa đấy à?"

Bạch Tú Tài hỏi.

"Tay nào là tay cầm đũa?"

Trác Vương nhìn xuống, thấy dây buộc lại nằm bên sườn trái. Anh đã làm đúng y như điều mắt thấy mà chép dáng người đứng đối diện lên chính mình thì bao giờ cũng ra hình trong gương, trái hóa phải, phải hóa trái. Anh dạy hình học ngần ấy năm mà anh vẫn để một phép đối xứng lừa mình. Trác Vương cởi dây, cài lại cho vạt ngoài chạy về phía tay cầm đũa và lần này Bạch Tú Tài gật đầu.

Bạch Tú Tài lấy nốt từ đáy bọc ra một cây bút lông, một thỏi mực và một cái nghiên nhỏ bằng lòng bàn tay. Hắn đặt cả lên án thư cạnh cuốn sổ, chẳng nói gì thêm. Đêm qua lúc Trác Vương cặm cụi khắc lên vách, hắn nằm ngay bên kia buồng mà không hề trở mình. Hẳn hắn đã thấy cả, vậy mà không hỏi, chỉ đưa cho anh thứ để viết.

Rồi Bạch Tú Tài dúi vào tay Trác Vương một cái túi vải nằng nặng. Trác Vương mở ra đếm: tiền đồng lỗ vuông đúc bốn chữ Đại Diễn thông bảo, xỏ thành hai dây, mỗi dây một trăm văn.

"Tôi sẽ trả."

Trác Vương nói.

"Được, huynh nhớ tính cả lãi."

Bạch Tú Tài đáp như nói đùa, còn Trác Vương thì gật đầu mà không cười.

Bạch Tú Tài nhét bầu rượu vào lòng, kéo lệch vạt áo trắng cho ra dáng kẻ say, rồi quay ra cửa.

"Giờ ta đi làm việc vặt đây."

"Chẳng phải từ giờ tôi làm việc cùng anh sao?"

Trác Vương hỏi.

Bạch Tú Tài đặt tay lên then cửa.

"Việc vặt là án phạt của ta, huynh có bị xử đâu mà làm cùng. Mai ta tới."

Cửa vừa khép, Trác Vương mới sực nhớ ra là sáng nay, trước khi quay đi, tể tướng đã dặn viên quan quân tuần chiều nay mang hết giấy tờ vụ án sang cho ông, mà bóng nắng ngoài sân giờ đã xiên. Việc vặt của Bạch Tú Tài nằm ở đâu, Trác Vương đoán được mà chẳng cần ai nói.

Trác Vương nhúng đầu ngón tay vào chậu nước, nhỏ mấy giọt lên nghiên, cầm thỏi mực mài từng vòng như mấy ông đồ ngày Tết anh từng đứng xem. Anh mài mãi mới thấy mực sánh lại, thơm mùi khói thông. Anh lật cuốn sổ tới trang cuối cùng có chữ, một bài giải còn dang dở của lớp mười một, đúng trang thư lại quân tuần đã chép vào biên bản. Sang trang sau thì giấy còn trắng.

Trác Vương chấm bút vào mực và trang giấy đầu tiên anh viết ở nơi này mở ra bằng một vòng tròn méo xệch. Cây bút lông chẳng chịu theo bàn tay quen cầm phấn: đè mạnh thì nét phình, nhấc lên thì nét run. Nên hai cái chấm thành hai đốm mực, còn số ba với số năm béo nung núc hai bên nét phẩy. Trác Vương vẫn chép đủ từ dây cung, bán kính tới cái tam giác có ngôi sao nhỏ ở đầu cạnh huyền, các con số viết theo lối quen tay như mọi trang khác. Rồi anh đóng khung số ba mươi tư ở dòng cộng dưới cùng, đúng như trên vách ngục.

Dưới lời giải, Trác Vương kẻ một đường ngang rồi mở một sổ nợ. Dòng đầu là hai trăm văn tiền đồng. Các dòng sau là mái tóc, dải khăn, cây trâm, cái lược, hũ nước chải tóc, bộ áo, cây bút, thỏi mực và cái nghiên. Món nào cũng chưa biết giá, nên cạnh món nào anh cũng viết một chữ x hai nét cong, đúng cái lối anh viết từ hồi mới cầm bút. Cộng cả lại, món nợ của Trác Vương thành một phương trình mà chỉ Bạch Tú Tài biết đáp số.

Nắng trên bậu cửa sổ ngả sang màu mật ong thì tiếng trống chiều vọng tới từ phía xa. Rồi mỗi lúc một gần, từng hồi nện xuống đều đặn như ai đang đếm ngược. Ngoài sân rộn lên tiếng người gọi nhau, tiếng gầu va thành giếng, rồi tới tiếng then gỗ dập xuống dọc cả dãy trọ. Bà chủ trọ đi dọc hàng hiên gõ từng cánh cửa và tới phòng cuối, bà gõ ba tiếng.

Trác Vương hé cửa. Bà không nhìn cái búi tóc mới trên đầu anh, cũng không hỏi bộ áo tù đâu rồi mà chỉ nói:

"Cài then cho chặt vào. Đêm nay nghe kèn thì đừng mở cửa."

Trác Vương gật đầu. Bà vẫn đứng đó, mắt nhìn qua vai anh vào góc phòng đã tối.

"Người ở phòng này trước cũng không nghe lời ta."

Nói rồi bà quay đi, bước chân lẫn vào tiếng trống. Trác Vương đóng cửa, cài then và tiếng then phòng cuối dãy là tiếng dập xuống sau cùng.

Trong góc phòng, tay nải và chiếc tráp sách vẫn nằm yên, chúng chờ một người chẳng ai trả lại.

0