Quyển 1: Quỷ Kiệu Nghênh Lang
Chương 3: Thư Sinh Say Rượu
Thiên Ngoại Khách Lai: Đại Diễn Sấm
Mục lục
6 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 6/6 chương
"Tóc nó ngắn tới chừng này thôi."
Tiết Thông nói, rồi đưa hai ngón tay kẹp lấy một nhúm tóc sát chân búi của mình cho cả bọn xem.
"Ngắn như tóc thằng tù bị cạo đầu mới mọc lại, mà cũng chẳng phải sư. Sáng nay ta gác cổng nhà ngục, tận mắt thấy toán lính tuần rạng sáng giải nó tới."
Giờ Mùi, nắng đầu xuân nhạt như nước trà pha lại lần thứ ba, trải trên khoảnh sân đất nện của trại. Mấy đứa trong toán lính tuần của lão Quách ngồi quây quanh chum nước, kẻ vá áo, kẻ mài giáo, kẻ nhai nốt mẩu bánh nướng rắc vừng. Điền Căn ngồi hơi xa một chút trên bậc gạch trước cửa kho, tay đang quấn lại mớ giẻ tẩm dầu cho cây đuốc đêm nay. Cậu vào quân Kim Ngô chưa trọn một mùa, vẫn chưa quen cái lối chụm đầu kể chuyện của lính kinh thành. Nhưng hễ Tiết Thông mở miệng là tai cậu tự dỏng lên, y như hồi còn ở quê nghe ông lão cuối thôn kể chuyện ma bên đống rơm. Bên kia bức tường đất thấp là nhà ngục của quân tuần. Mái xám, cổng nhỏ, cách trại chỉ một con ngõ mà lúc nào trông cũng lạnh hơn trong trại mấy phần.
"Rồi sao nữa?"
Có đứa giục.
"Rồi toán ấy giao người, gã cầm đầu đứng ngay cổng đọc tội danh cho lão Khương ghi vào sổ."
Tiết Thông hắng giọng, bắt chước cái giọng đều đều của kẻ đã đọc cả trăm tờ giấy giống nhau.
"Phạm dạ, đứng cạnh xác người chết, mang gương yêu tự phát sáng, lại tiếm xưng vương hiệu. Bốn tội, đứa nào nghe xong cũng rụt cổ."
"Gương yêu là cái gì?"
Điền Căn buột miệng.
Cả bọn quay lại nhìn cậu như nhìn một đứa trẻ hỏi mặt trời mọc đằng nào. Tiết Thông được dịp kể lại từ đầu. Toán lính tuần rạng sáng bắt gặp kẻ ấy giữa đại lộ, cạnh một cỗ kiệu hoa đỏ, tay cầm một vật dẹt, láng như mặt gương mà chỉ to bằng bàn tay. Kẻ ấy vừa đặt nó xuống đất thì một thằng trong toán cúi nhặt lên và cái gương liền sáng rực ngay trong tay tên lính. Trên mặt gương còn hiện mấy nét chữ ma trắng toát khiến tên ấy rú lên, quẳng xuống đất như quẳng một con rắn. Giờ thì cái gương ấy đã bị trùm khăn, khóa trong một chiếc hòm gỗ dán giấy niêm cùng một cuốn sổ đầy bùa, cất trong kho của nhà ngục. Chẳng ai dám bén mảng lại gần cái kho ấy nữa.
"Còn cái xác?"
Lại có đứa hỏi, giọng nhỏ hẳn đi.
"Chú rể."
Tiết Thông cũng hạ giọng theo.
"Áo cưới đỏ còn mới tinh, chết ngồi trong kiệu mà miệng vẫn cười. Dưới đường có một chiếc hài thêu của tân nương, mà tân nương thì chẳng thấy đâu. Gã cầm đầu toán ấy bảo trước giờ quỷ kiệu đi qua chỉ nghe mất người, lần này nó để lại xác."
"Thế yêu nhân khai gì?"
Tiết Thông chỉ chờ có thế liền đứng bật dậy chống nạnh, ngửa mặt lên trời, rồi nói bằng một thứ giọng lơ lớ, chữ nào cũng trệch đi một chút như người Hồ mới học nói:
"Tôi từ trên trời rơi xuống."
Cả bọn cười rộ lên, có kẻ sặc cả nước.
"Thề với các ngươi, nó khai y như thế, toán lính tuần rạng sáng kể lại mà còn cười chảy nước mắt. Nó còn gọi lão Khương là 'anh' nữa kia. Lão Khương ngần ấy tuổi đầu, bị một thằng tù gọi là 'anh', đứng đực ra như bị ai tạt gáo nước lạnh."
"Tên nó là gì?"
Điền Căn hỏi.
"Trác Vương."
Tiết Thông nhấn mạnh chữ sau cùng.
"Vương, chữ vương của vương gia. Một thằng tóc ngắn, nói giọng lơ lớ, lại dám mang chữ vương trong tên, nên mới dính thêm cái tội tiếm xưng. Bây giờ cả dãy phố ngoài kia gọi nó là yêu nhân, có kẻ còn gọi đùa là vương gia trên trời rơi xuống."
Điền Căn chưa kịp hỏi thêm thì Tiết Thông đã chuyển sang đoạn hay nhất, đoạn bộ áo. Lúc nhập ngục, lão Khương cởi trói cho yêu nhân rồi xắn tay lột đồ để thay áo tù và mấy đứa gác cổng mới được thấy tận mắt thứ áo lạ lùng nhất kinh thành. Một cái áo khoác mỏng dính, không dải buộc, không nút thắt, giữa ngực cài bằng một hàng răng li ti cắn chặt lấy nhau từ bụng lên tận cằm. Lão Khương xoay đi xoay lại mãi mà không tìm ra chỗ cởi. Rồi Trác Vương tự đưa tay cầm cái núm nhỏ dưới cằm kéo xuống, hai hàng răng nhả nhau ra kêu rẹt một tiếng khiến lão Khương giật lùi một bước. Kể đến đây Tiết Thông thì nắm chặt cán giáo, tưởng cái áo sắp há miệng ra cắn người.
"Cái áo ấy giờ cũng nằm trong kho với cái hòm, coi như tang vật."
Tiết Thông kết lại.
"Còn yêu nhân mặc bộ áo tù vải gai mỏng tang, run lập cập suốt buổi sáng. Nói thật, trông nó chẳng giống yêu quái gì cả, giống một thằng học trò bị thầy bắt quỳ thì đúng hơn."
Điền Căn cúi xuống mớ giẻ trong tay, bỗng thấy tội cho cái người tên Trác Vương mà mình chưa từng gặp mặt. Hồi mới vào trại, cậu cũng bị cả bọn cười vì cái giọng quê, cũng bị gọi là thằng từ dưới ruộng ngoi lên. Đêm đầu tiên nằm trong trại lạnh, cậu cũng run y như thế. Cậu định bảo biết đâu người ta chỉ là kẻ lạc đường từ phương xa tới, nhưng nhớ tới cái xác mặt cười và chiếc hài đỏ nằm trơ trọi giữa đường, cậu lại thôi.
"Kể đủ chưa?"
Giọng lão Quách ồm ồm vang lên sau lưng cả bọn, nặng như tiếng cối đá nghiến kê. Quách Mãnh cầm đầu toán lính tuần đã mười mấy năm, mặt rỗ, đầu hói một mảng và cả trại đồn rằng trên đời lão chẳng sợ gì ngoài cái đói.
"Ma quỷ thì để các sư tụng kinh. Việc của bọn ngươi là giới nghiêm. Trống chiều nổi thì ra đường, đứa nào còn run thì ôm giáo mà run."
Trống chiều nổi lên khi mặt trời vừa chạm đầu tường phường phía tây. Tiếng trống dồn từ lầu trống phía bắc về, lầu này nối lầu kia, tám trăm tiếng mỗi lúc một gấp như những bước chân lớn đang chạy qua các mái nhà. Khi tiếng cuối cùng dứt thì cổng phường khắp kinh thành cũng đóng sập gần như cùng một lúc, để lại những con phố vắng tanh kẹp giữa các bức tường đất. Toán lính tuần của lão Quách ra khỏi trại với đuốc trên tay, giáo trên vai, tiếng chân rầm rập trên mặt đá. Đêm đầu xuân mà vẫn lạnh cắt da, hơi thở cả toán bốc thành khói trắng quanh những ngọn đuốc. Mỗi lần gió lùa qua đầu ngõ, lửa đuốc lại rạp xuống như có ai ghé miệng thổi.
Đoạn đường của toán lính là mấy con phố hẹp giữa các dãy tường phường, hai bên chỉ có tường đất cao quá đầu người và những cánh cổng đóng im ỉm. Thỉnh thoảng mới có một lầu canh treo ngọn đèn lồng vàng vọt. Cả thành đều biết đêm qua quỷ kiệu lại đi, nên đêm nay cả toán bước mà ai cũng nghe ngóng, không đứa nào nói với đứa nào. Sau các bức tường, tiếng mõ cầm canh vừa gõ những tiếng một đầu tiên của canh một, rời rạc như tiếng người gõ cửa rồi ngập ngừng không dám gõ nữa. Tiết Thông đi sát bên Điền Căn, lâu lâu lại huých vai cậu hỏi có nghe thấy gì không, dù chính Tiết Thông mới là kẻ căng tai ra nhất.
Họ vừa rẽ vào con phố thứ ba thì nghe thấy tiếng hát. Tiếng ấy mảnh và lè nhè, lúc lên lúc xuống, vọng ra từ đầu kia con phố, nơi ngọn đèn lồng trên một lầu canh chỉ đủ soi một khoảng vàng nhợt dưới chân tường. Cả toán khựng lại giữa đường. Điền Căn nghe rõ từng chữ mà không hiểu lấy một chữ nào:
"Phiếm bỉ bách chu, diệc phiếm kỳ lưu..."
Giọng hát ngân dài run run, tới câu sau thì chùng hẳn xuống như người đang cố nén khóc:
"Cảnh cảnh bất mị, như hữu ẩn ưu..."
"Ma."
Tiết Thông thì thào và ngọn đuốc trong tay chao đi một cái.
"Hồn sĩ tử. Sáu đứa mất tích đều là sĩ tử cả, đêm nay chúng nó về ngâm thơ đòi mạng."
Lão Quách không nói gì, chỉ giằng lấy cây đuốc trong tay Tiết Thông rồi sải bước lên trước. Cả toán đành lục tục theo sau, vì chẳng ai muốn đứng lại một mình giữa phố. Càng tới gần, tiếng hát càng rõ, lại lẫn cả tiếng nấc cụt và tiếng ai đó tặc lưỡi khen rượu ngon. Dưới chân tường, ngay bên dưới ngọn đèn lồng, có một người ngồi dựa lưng vào vách đất, hai chân duỗi dài ra giữa đường. Áo trắng trơn khoác ngoài mấy lớp áo bông, tóc búi lệch sang một bên với chiếc trâm gỗ cắm xiêu xiêu, một tay ôm khư khư bầu rượu, tay kia đánh nhịp lên đầu gối.
"Người."
Một tên lính phía sau thở phào.
"Người sống hẳn hoi."
Người ấy nheo mắt nhìn lên những ngọn đuốc đang chĩa vào mặt mình như nhìn nắng trưa, rồi cất giọng ngâm tiếp, lần này thong thả và sang sảng:
"Dạ như hà kỳ? Dạ vị ương, đình liệu chi quang."
Hắn giơ bầu rượu về phía lão Quách như mời.
"Quân tử chí chỉ! Kinh Thi có câu ấy, các vị biết không? Đêm đã tới đâu rồi? Đêm chưa tới nửa, đuốc sáng rực cả sân, mà các vị quân tử cũng đã tới rồi."
Tiết Thông ngẩn ra một lúc rồi ghé tai Điền Căn hỏi nhỏ:
"Nó chửi mình đấy à?"
"Hình như nó khen."
Điền Căn đáp, cậu cũng chẳng chắc lắm.
"Khen hay chửi thì cũng phạm dạ."
Lão Quách cắm cây đuốc vào khe tường, cúi xuống túm cổ áo kẻ say mà xách lên. Thư sinh rũ ra như một tấm chăn ướt, đứng dậy được nửa chừng thì ngả hẳn vào ngực lão, phả ra một hơi rượu nồng tới mức Điền Căn đứng cách hai bước cũng phải nhăn mặt.
"Tên họ là gì, người phường nào, giờ này còn ngồi giữa đường làm gì?"
"Ta họ Bạch."
Thư sinh đáp, trịnh trọng như đang ra mắt quan chủ khảo.
"Tên là Tú Tài. Còn phường nào thì ta quên mất rồi, cổng phường thị đóng trước khi ta kịp nhớ ra."
Tiết Thông bật cười thành tiếng.
"Sáng nay có đứa từ trên trời rơi xuống xưng vương, tối nay có đứa ngồi bệt giữa đường xưng tú tài. Lão Quách này, mai chắc có đứa xưng trạng nguyên."
"Thì nhốt chung cho chúng nó bàn việc triều chính."
Lão Quách gắt nhưng khóe miệng lão cũng giật giật như đang cố nín cười.
Một người trong toán vừa rút dây thừng, Bạch Tú Tài đã ngoan ngoãn chìa hai tay ra trước ngực cho trói, chẳng chống cự gì. Người kia chỉ buộc lỏng, vì trói chặt một kẻ say thì chẳng khác gì trói một con cá đã chết. Bạch Tú Tài lim dim như sắp ngủ, rồi đưa mắt nhìn quanh một lượt những ngọn đuốc, những mũi giáo, những tấm áo lính nâu sẫm đứng chắn kín con phố hẹp. Rồi hắn buông một tiếng thở dài nghe thật lòng tới lạ.
"Tuần tra kỹ thế này."
Hắn lè nhè.
"Mà đêm qua cả kinh thành không ai bắt nổi một cỗ kiệu đi giữa giờ giới nghiêm."
Cả toán im phăng phắc. Tiết Thông là người lên tiếng trước, giọng to mà gượng:
"Kiệu ma thì ai mà bắt được! Ngươi giỏi thì đêm nay ra mà bắt."
Mấy người khác cười theo nhưng tiếng cười loãng đi rất nhanh, vì câu nói của kẻ say chạm đúng vào nỗi sợ cả trại giấu suốt buổi chiều. Quỷ kiệu đi được giữa giờ giới nghiêm, tức là nó chẳng coi quân tuần ra gì. Lão Quách nhổ toẹt một bãi xuống mặt đá, rồi quay sang gọi:
"A Căn."
Điền Căn giật mình bước lên.
"Dạ."
"Nhà ngục ở ngay sau trại, đi hai con phố là tới. Ngươi giải nó về, giao cho lão Khương, rồi quay lại tìm bọn ta ở cái ngã tư có cây hòe."
Lão Quách phẩy tay về phía những con ngõ tối om phía trước.
"Còn bọn ngươi theo ta, đêm còn dài."
Thế là Điền Căn một mình giải Bạch Tú Tài về, tay trái cầm đuốc, tay phải xốc nách cái thân người cứ chực đổ về phía trước như bông lúa mạch trĩu hạt. Hắn chẳng chịu đi cho tử tế, lúc thì dừng lại ngắm một viên ngói lung lay trên đầu tường, lúc lại ngả đầu vào vai cậu, gọi cậu là tiểu huynh đệ, rồi hỏi quê cậu ở đâu, ruộng nhà cậu trồng gì, mùa này đã gieo hạt chưa. Điền Căn vốn định không trả lời kẻ phạm dạ nhưng đã lâu lắm mới có người hỏi tới ruộng nhà mình. Nên chẳng mấy chốc cậu đã kể tới mấy luống kê sau nhà, con bò cái già của cha và cái mùa đông năm ngoái tuyết đè sập cả mái chuồng.
Tới khúc ngoặt cuối cùng, Bạch Tú Tài bỗng ngửa cổ ngâm một câu mới, giọng kéo dài như người gọi bò về chuồng lúc chiều:
"Yêm yêm dạ ẩm, bất túy vô quy."
Rồi hắn quay sang giảng cho Điền Căn, nghiêm trang như thầy dạy chữ:
"Uống thâu đêm, chưa say thì chưa về. Người xưa dạy thế đấy, tiểu huynh đệ nhớ lấy."
"Công tử say rồi."
Điền Căn nói.
"Mà cũng chẳng về được đâu. Công tử phải vào ngục."
Bạch Tú Tài ngẫm nghĩ câu ấy một lúc lâu rồi phá lên cười, cười tới mức phải vịn vào vai cậu mới đứng vững.
"Phải, phải. Chưa say thì chưa về, say rồi thì vào ngục. Tiểu huynh đệ nói còn đúng hơn cả người xưa."
Nhà ngục của quân tuần nằm lọt giữa hai bức tường đất, cổng thấp, trên cổng treo một ngọn đèn lồng đã cháy gần cạn dầu. Người ra mở cổng là Khương Bình, cả trại quen gọi là lão Khương. Lão mặc áo bông sẫm màu, khăn quấn đầu, bên hông lủng lẳng chùm chìa khóa sắt, gương mặt tầm thường tới mức Điền Căn gặp lão đã hai tháng mà lần nào gặp lại vẫn phải nhìn kỹ mới nhận ra. Lão nhìn thẳng vào mặt cậu như mọi lần, cái nhìn đều đều của người gác cửa đã quen đếm mặt kẻ ra người vào, rồi hất hàm về phía kẻ đang treo nửa người trên vai cậu.
"Lại thêm một đứa?"
"Phạm dạ, say rượu."
Điền Căn đáp.
"Lão Quách bảo nhốt lại, rồi giải lên quan. Người này xưng họ Bạch, tên Tú Tài."
Lão Khương không hỏi thêm câu nào. Lão dẫn hai người vào gian đầu, lật cuốn sổ của nhà ngục ra ghi mấy dòng dưới ngọn đèn dầu, rồi chìa tay đòi bầu rượu mà mắt vẫn không rời trang sổ. Bạch Tú Tài ôm bầu rượu vào ngực như ôm con mình, lắc đầu nguầy nguậy, mãi sau mới thở dài đưa ra, miệng còn dặn với theo:
"Cầm bầu thì cầm, nhớ để lại cho ta chỗ rượu."
Lão Khương chẳng buồn đáp, dúi luôn bầu rượu cho Điền Căn treo lên cái móc gỗ trên vách. Bầu rượu nặng trĩu trong tay cậu, lắc lên nghe óc ách gần như còn đầy. Điền Căn thầm nghĩ thư sinh kinh thành đúng là tửu lượng kém, uống chưa hết nửa bầu đã say tới quên cả đường về phường mình.
Kẻ phạm dạ chỉ bị nhốt tạm chờ giải lên quan nên lão Khương chẳng bắt Bạch Tú Tài thay áo tù như yêu nhân sáng nay. Dưới ngọn đèn trong gian đầu, Điền Căn mới để ý trong nếp ống tay áo trắng của hắn có một vệt xám xanh bám lì, chắc là bụi đường quệt phải lúc hắn ngồi bệt dưới chân tường.
Lão Khương cầm ngọn đèn dầu dẫn đường vào dãy buồng phía trong, còn Điền Căn vẫn cầm đuốc đi sau, xốc nách Bạch Tú Tài. Hành lang hẹp và tối, sàn đất lạnh ngắt, hai bên là những cánh cửa song gỗ đen bóng vì tay người bám. Sau song gỗ có buồng trống trơn, có buồng vọng ra tiếng ngáy, tiếng xích sắt khua khẽ. Điền Căn cứ tưởng lão sẽ mở đại một buồng trống ở đầu dãy cho xong chuyện, nhưng lão đi thẳng tới buồng cuối cùng mới dừng lại, tra chìa vào ổ khóa. Qua song cửa, cậu thấy một người ngồi thu lu trong góc trên đống rơm, lưng tựa vách đất, hai tay ôm gối, đầu úp lên gối, mình chỉ khoác một bộ áo tù vải gai mỏng. Phía trên đầu người ấy, ô cửa song nhỏ trên cao chỉ để lọt vào một mảng trời đen. Chẳng cần ai bảo, Điền Căn cũng biết đó là Trác Vương, vì cả kinh thành này chắc chẳng có cái đầu thứ hai nào tóc ngắn được như thế.
"Nhốt chung với yêu nhân à?"
Điền Căn ngạc nhiên hỏi.
Lão Khương không đáp. Điền Căn chợt nhớ câu đùa của lão Quách lúc nãy.
"Nhốt chung cho chúng nó bàn việc triều chính."
Mà giữa hành lang lạnh ngắt này cậu chẳng thấy nó buồn cười chút nào. Lão Khương cởi sợi thừng trên tay Bạch Tú Tài, kéo cánh cửa song ra kêu một tiếng kẹt dài, rồi đứng tránh sang một bên mà chờ. Điền Căn đành đỡ hắn bước qua ngưỡng cửa. Hắn loạng choạng mấy bước, vấp phải chính chân mình, rồi ngồi phịch xuống đống rơm sát vách bên kia. Lưng hắn tựa vào tường, mặt quay ra phía cửa song, miệng vẫn còn lầm bầm nốt câu hát dở:
"Cảnh cảnh bất mị, như hữu ẩn ưu..."
Lão Khương khóa cửa lại, giật thử ổ khóa hai lần, rồi quay lưng đi mà không nhìn vào trong buồng lấy một lần. Lão dặn cậu đi cho nhanh kẻo lão Quách chờ lâu lại mắng, rồi cầm ngọn đèn dầu đi ngược ra gian đầu, để lại hành lang chỉ còn ánh đuốc trong tay Điền Căn. Điền Căn dạ một tiếng mà chân chưa chịu nhấc, cứ đứng lại bên song cửa, tự nhủ chỉ nhìn thêm một chút thôi, để còn có chuyện kể lại với Tiết Thông rằng chính mắt cậu cũng đã thấy mặt yêu nhân.
Trong buồng, Bạch Tú Tài đã thôi lầm bầm. Hắn ngồi gục đầu xuống ngực, hai tay đặt hờ trên đầu gối, dáng như kẻ say đã thiếp đi. Còn Trác Vương vẫn úp mặt lên gối, chẳng buồn nhìn kẻ vừa bị đưa vào buồng mình. Điền Căn giơ cao cây đuốc cho sáng thêm, định bụng nhìn cho rõ mặt Trác Vương một lần rồi đi. Ánh lửa hắt qua song cửa, lướt qua đống rơm, qua bờ vai gầy trong bộ áo tù, rồi dừng lại trên mặt Bạch Tú Tài, đúng lúc hắn từ từ ngẩng đầu lên và nhìn thẳng về phía góc buồng.
Kẻ từ trên trời rơi xuống ngẩng lên nhìn người thư sinh say rượu. Lúc này trong mắt Bạch Tú Tài chẳng còn chút men say nào.
Được yêu thích bởi: Lôi Hi
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.