Quyển 1: Quỷ Kiệu Nghênh Lang
Chương 16: Dãy Trọ Sĩ Tử
Thiên Ngoại Khách Lai: Đại Diễn Sấm
Mục lục
16 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 16/16 chương
"Đêm hôm kia, bên phòng ấy có người đánh lửa, lách cách mãi không thôi."
Câu ấy vọng ra từ sau cánh cửa phòng sát vách khi Trác Vương vừa gõ lần thứ hai, lúc trời đã sáng rõ mà nắng còn chưa xuống tới sân. Bên trong, người đọc sách đã im bặt từ lúc nghe gõ lần đầu, rồi cánh cửa hé ra một khe chỉ rộng hơn bàn tay một chút. Qua khe hở hiện ra nửa gương mặt của một người đàn ông chưa tới bốn mươi, má hóp, râu lún phún chưa cạo, hai mắt đỏ vằn như đã thức trắng mấy đêm liền.
"Chín lần."
Trác Vương đáp.
Người hàng xóm nhìn Trác Vương rất lâu như đang so người đứng trước cửa với một người khác mình còn nhớ.
"Cậu ấy thì đánh một lần là cháy."
Gã nói khẽ.
"Đêm ấy nghe tiếng thép cạ vào đá ở phòng bên, ta cứ ngỡ cậu ấy về."
Nói rồi người hàng xóm kéo cánh cửa mở rộng thêm, không mời vào mà cũng không đóng lại. Căn phòng bên trong hẹp hơn phòng cuối, giường tre với án thư đã choán gần hết chỗ, còn sách chép tay xếp thành chồng sát vách. Đĩa đèn ở góc án thư khô trơ đáy, sợi bấc đã rút ra cuộn tròn để bên cạnh. Trên giường chỉ có một tấm chăn mỏng gấp vuông, không thấy áo bông đâu, còn người hàng xóm thì mặc chồng hai lớp áo vải, cổ tay lớp trong thò ra dài hơn lớp ngoài như hai tấm áo vốn chẳng may cho cùng một người.
"Có người đưa tôi tới ở phòng ấy."
Trác Vương nói.
"Đồ đạc vẫn nằm cả trong góc, nên tôi muốn biết người ở trước là người thế nào."
Người hàng xóm lặng đi một lúc rồi lùi vào ngồi xuống mép giường, để trống khoảng ngưỡng cửa.
"Cậu ấy tằn tiện nhất dãy này."
Gã nói.
"Tối nào cậu ấy cũng giở sổ ra tính tiền dầu tiền gạo tới từng đồng, tính xong mới chịu mở sách. Dầu thì tiếc từng giọt, thế mà hễ thấy ta ngồi đọc trong tối là bưng đèn sang rót cho ta một ít."
Trác Vương nhìn lại cái đĩa đèn khô. Đêm đầu tiên ở phòng bên, lúc anh nằm xuống trong bóng tối, tiếng đọc thuộc lòng vọng sang từ đúng chỗ này là của một người không có lấy một giọt dầu.
"Còn ta lên kinh lần này là lần thứ ba."
Người hàng xóm nói tiếp như đoán được Trác Vương đang nhìn gì.
"Áo bông đã nằm ở hiệu cầm đồ từ tháng Chạp, dầu thì hết tiền mua từ lâu, nên đêm đến cứ thế mà đọc trong tối. Người ta vẫn bảo năm mươi tuổi mà đỗ tiến sĩ thì đã là trẻ. Ta mới ngoài ba mươi tính ra non chán."
Người hàng xóm cười nhưng tiếng cười tắt ngay trong cổ họng. Trác Vương đợi một nhịp rồi mới hỏi điều mình định hỏi từ lúc gõ cửa là dạo trước khi đi, người ở trước có gì khác thường không.
"Khác lắm."
Người hàng xóm đáp.
"Mấy hôm cuối cậu ấy vui ra mặt như người vừa gặp vận may. Ngồi đọc sách ngoài hiên, cậu ấy cũng ngẩng lên cười một mình. Sổ sách thì gác sang một bên, bấc đèn khêu to gấp đôi, ta hỏi sao không tiếc dầu nữa thì cậu ấy bảo sắp tới chẳng còn phải đếm từng giọt."
Ngón tay cái của người hàng xóm miết mãi lên mép chăn, như muốn miết cho phẳng một nếp nhăn không có.
"Ta đoán đủ đường, nào nhặt được của rơi, nào nhà dưới quê gửi tiền lên, nào gặp quý nhân chịu nâng đỡ."
Gã nói.
"Đoán kiểu gì cậu ấy cũng chỉ cười, nhất định không chịu nói là vận gì. Gặng mãi, cậu ấy mới bảo người ta dặn chưa được hé với ai, đợi tới hôm ấy thì huynh khắc biết."
Lá thư gửi mẹ nằm trong tráp ở phòng bên cũng có một câu mở đầu bằng ba chữ người ta dặn và nét bút đã dừng ngay giữa câu ấy. Trác Vương mở lá thư ấy chỉ để tìm một cái tên, nên những dòng ấy anh giữ lại cho riêng mình.
"Có ai lạ hay tới tìm người ở trước không?"
Trác Vương hỏi.
"Dãy này, mùa thi người ra kẻ vào suốt ngày."
Người hàng xóm đáp.
"Người gánh nước thuê, kẻ bán than, mấy bà nhận đồ về giặt, ai mà nhớ cho xuể."
"Trong phường này còn ai đi như thế nữa không?"
"Cậu ấy là người thứ hai."
Người đọc sách liếc về phía cuối dãy như sợ cái vách có tai.
"Trước cậu ấy có một người trọ dãy chái trong cái ngõ hẹp phía sau phố. Sau cậu ấy thì tới người ở trọ trên gác lò bánh cuối phố."
Chưa đợi Trác Vương hỏi tiếp, người hàng xóm đã kể thêm, nhỏ tới mức anh phải nghiêng đầu mới nghe rõ.
"Đêm cậu ấy đi, kèn vừa tới là ta trùm chăn kín đầu, đợi tới lúc trống sáng mới dám thò ra. Lúc ấy cửa phòng cậu ấy đã khép hờ, then không cài, đồ đạc vẫn nằm nguyên trong góc. Đêm ấy cả dãy này chẳng ai mở cửa ra xem, ta cũng thế."
Trác Vương nhớ tới cái then gỗ chiều qua dập xuống ở phòng này khi nắng còn chưa tắt. Anh không hỏi vì sao, chỉ hỏi tân nương trong chuyện kèn ấy là ai.
"Ta chỉ biết mỗi lời răn đừng mở cửa khi nghe kèn."
Người hàng xóm xua tay.
"Muốn nghe cho đủ đầu đuôi thì ra quán trà đầu phố, dạo này có một ông lão mù hay ngồi kể ở đấy."
Nói xong gã cúi nhặt cuốn sách trên gối, lật ra một trang rồi ngồi im, ý chừng muốn khách hiểu chuyện chỉ đến thế.
Về phòng cuối, Trác Vương mở tráp, lấy cuốn sách có trang ghi chi tiêu, đem ra chỗ sáng nhất trong phòng. Nét chữ ghi sổ nhỏ và đều như khắp cuốn sách, mỗi dòng một món, nào dầu, nào gạo, nào giấy, dưới mỗi món là số tiền và số còn lại. Dòng cuối cùng vẫn cộng trừ đâu ra đấy nhưng bên trái nó, quá nửa trang giấy để trắng. Lần trước Trác Vương chỉ soát xem có tính sai hay không nên chưa để ý tới khoảng trắng ấy.
Ở trường, đứa học trò cẩn thận nhất lớp mà nộp bài bỏ trống nửa trang thì chỉ có hai lẽ: hoặc nó tin bài mình đã xong, hoặc nó không còn ngồi đó mà viết tiếp. Trang sổ của một người tối nào cũng ghi mà dừng ở lưng chừng thì cũng thế và lời người hàng xóm đã chọn giùm Trác Vương lẽ thứ nhất. Người đếm từng giọt dầu đã thôi đếm từ mấy hôm trước khi đi, dường như vì đã tin rằng mình sắp chẳng phải đếm nữa.
Trác Vương cất cuốn sách vào tráp như cũ, rồi nhìn xuống cây đèn vẫn nằm sau chân án thư. Đĩa đèn đã khô từ đêm hôm kia, mà trang sổ vừa đọc cũng nhắc anh rằng ở chốn này, dầu thắp người thuê phải tự mua.
Hàng dầu nằm sâu trong phố, ngược hướng cổng phường, chỉ là một gian hàng thấp lè tè kê dăm cái chum sành đậy nắp gỗ. Đứng trước Trác Vương có ba sĩ tử, người nào cũng chỉ mua một chén; một người còn đưa ra cái chén mẻ miệng mà xin rót lưng lưng, rồi bưng đi bằng cả hai tay như bưng một bát thuốc. Tới lượt mình, Trác Vương mua cả một hũ sành nhỏ bằng nắm tay, tuốt khỏi dây mấy đồng, thêm đồng tiền lẻ đã nằm cạnh túi từ hôm gõ thử lên nghiên, cho đủ số người bán đòi. Người bán dầu ngó anh thêm một lúc, kiểu người ta vẫn ngó một sĩ tử vừa phát tài.
Về tới dãy trọ, Trác Vương gõ cửa phòng sát vách lần nữa. Người hàng xóm vừa mở cửa thì Trác Vương đã bước tới bên án thư, nghiêng hũ rót vào cái đĩa khô cho tới khi dầu láng gần sát miệng đĩa rồi luồn sợi bấc vào lại cho ngay ngắn. Làm xong Trác Vương mới ngẩng lên, không nói một lời.
Người hàng xóm nhìn đĩa dầu sóng sánh, môi mấp máy mấy lần mới thành tiếng.
"Cậu ấy chỉ rót có nửa đĩa."
Gã lẩm bẩm.
"Đầy hơn thì cậu ấy tiếc, vơi hơn thì cậu ấy ngại."
Ngoài sân bỗng có tiếng gầu va loảng xoảng vào thành giếng. Một người áo trắng vừa vướng chân vào sợi dây gầu ai bỏ dưới đất, chới với một hồi mới đứng vững, rồi nghiêng đầu hỏi cái giếng sao lại mọc ngay giữa lối đi. Chưa thấy rõ mặt, Trác Vương đã nhận ra cái giọng nhừa nhựa ấy. Anh vừa bước ra tới hiên thì sau lưng, cửa phòng sát vách đã đóng sập, then cài đánh cạch.
Bạch Tú Tài theo Trác Vương vào phòng cuối. Cửa vừa khép, Bạch Tú Tài đã đứng thẳng lưng, đưa mắt nhìn cái hũ đã vơi đi trông thấy trong tay Trác Vương.
"Tiền ta cho vay, huynh đem rót cho hàng xóm."
Hắn nói khẽ.
"Phần lãi ấy huynh định đòi ai?"
"Anh cứ đòi tôi."
Trác Vương đáp, đặt hũ dầu xuống cạnh cây đèn.
"Tôi sẽ ghi cả vào sổ."
Bạch Tú Tài lại kéo ghế đẩu vào góc như hôm qua, ngồi quay mặt ra cửa, lắc đầu mà khóe mắt vẫn cười.
"Sổ của huynh sắp dày hơn sổ nha môn."
Hắn nói.
"Hàng xóm kể gì với huynh?"
Trác Vương kể lại những gì người hàng xóm nói, rồi lại lấy ra cuốn sách có mấy dòng chi tiêu và chỉ cho Bạch Tú Tài khoảng giấy trắng bên trái dòng cuối. Lá thư gửi mẹ thì Trác Vương vẫn để yên chỗ cũ mà không đưa ra.
Bạch Tú Tài nhìn khoảng giấy trắng ấy lâu hơn nhìn những dòng chữ bên phải nó.
"Một người vui thì mới là chuyện riêng của một người."
Hắn nói.
"Tờ giấy hôm qua, huynh đã xem tới chỗ trọ của từng người chưa?"
Trác Vương mở tờ danh sách của người thư lại già và dò xuống chỗ ghi nơi trọ ở từng dòng. Ngoài người ở trước, còn hai người nữa trọ ngay trong phường này lgồm dòng thứ tư là Giản Bân, ở dãy chái trong ngõ hẹp sau phố. Dòng thứ sáu là Uẩn Lập, ở gác lò bánh cuối phố. Lời người hàng xóm khớp với tờ giấy tới từng chỗ.
"Quá trưa ta phải về chép sổ cho người thư lại già."
Bạch Tú Tài nói rồi đứng dậy, kẹp bầu rượu vào nách.
"Từ giờ tới đó còn kịp ghé cả hai chỗ."
Con ngõ sau phố hẹp tới mức hai người đi phải nghiêng vai, mái nhà hai bên chìa ra gần chạm vào nhau, chỉ chừa lại trên đầu một vệt trời mảnh như sợi chỉ. Dưới vệt trời ấy, một sĩ tử ngồi xổm cạnh cái sọt úp ngược, đang viết thư thuê cho một người phu khuân vác, xong câu nào lại đọc lên cho người kia gật gù. Bạch Tú Tài lảo đảo đi sau, vai va hết vách bên này sang vách bên kia, miệng lẩm nhẩm những gì không ai nghe rõ.
Dãy chái gồm bốn gian ngăn bằng phên tre, gian nào cũng chỉ vừa một chiếc giường với một cái rương, nắng lọt qua khe phên vạch thành từng vệt sáng trên nền đất. Gian thứ hai cửa đóng, buộc chặt bằng một sợi lạt quấn mấy vòng như người ta buộc miệng một cái bao không ai muốn mở. Gian bên cạnh thì cửa để ngỏ, trên nắp rương đặt một bát cháo nguội, nước nhiều hơn gạo. Một gã sĩ tử gầy gò ngồi trên giường đang lần từng đồng tiền xâu vào một sợi dây gai, vừa thấy bóng người đã nắm gọn cả dây tiền giấu biến vào ống tay áo.
"Lại hỏi chuyện gian bên cạnh chứ gì."
Gã gắt.
"Ta không biết gì hết. Cậu ấy đi thì đi, còn nợ ta mấy lượt tiền chưa trả."
"Tôi đang ở phòng của một người cũng đi theo tiếng kèn như thế."
Trác Vương nói.
Gã sĩ tử nhìn Trác Vương từ đầu tới chân như nhìn một người vừa bảo mình đêm nào cũng ngủ trong miếu hoang. Bạch Tú Tài đã ngồi phịch xuống bậc cửa, ngửa cổ ngó lên mái chái, rồi cất giọng ngâm:
"Xuất tự bắc môn, ưu tâm ân ân..."
Hắn ngâm tiếp hai câu nữa, câu nào cũng ngân ra như người ngái ngủ. Ngoài hai chữ bắc môn ở câu đầu, tai Trác Vương chỉ bắt thêm được một chữ bần.
Trên giường, gã sĩ tử buột miệng đọc tiếp, như cái miệng đã quen câu ấy tới mức tự bật ra trước khi người kịp giữ:
"Dĩ yên tai! Thiên thực vi chi, vị chi hà tai!"
Đọc xong, gã cười khan một tiếng, chẳng có chút vui nào.
"Ra cửa bắc mà lòng nặng trĩu, nghèo xác xơ mà chẳng ai hay."
Gã nói.
"Ở cái ngõ này, câu ấy ai mà chẳng thuộc. Trời đã bày ra thế thì còn biết nói sao."
Trác Vương nghe ra được chữ thiên trong câu gã đọc nối và nhờ lời giảng gọn lỏn ấy mà hiểu nốt phần còn lại. Bạch Tú Tài vẫn ngồi ở bậc cửa, mắt lim dim, hỏi bâng quơ:
"Cậu ấy nợ ngươi bao nhiêu?"
"Ba lượt, lượt nào cũng dăm đồng, khi tiền dầu, khi tiền giấy."
Gã sĩ tử rút dây tiền trong tay áo ra, nhìn nó một lúc rồi lại nhét vào.
"Ở kinh thành này, sĩ tử nào mà chẳng nợ, chỉ khác nhau ở chỗ nợ ai. Có điều mấy hôm cuối, cậu ấy thôi không vay nữa. Đi đâu cậu ấy cũng cười, bước chân cứ như không chạm đất, có lần còn vỗ vai ta, hứa đợi ít hôm nữa sẽ trả cả gốc lẫn lãi."
"Ngươi không hỏi cậu ấy lấy tiền đâu ra mà trả à?"
Bạch Tú Tài hỏi.
"Ta có hỏi chứ. Cậu ấy bảo người ta dặn rồi, chưa tới lúc nói ra. Sĩ tử lên kinh, người nào cũng mang theo một giấc mộng đổi đời, có điều giấc ấy phải đợi tới ngày yết bảng. Cậu ấy thì chưa tới ngày yết bảng đã cười như người vừa đổi xong đời mình."
Trác Vương nghe ba chữ ấy lần thứ hai trong buổi sáng, lần này từ miệng một người ở tận ngõ sau. Qua khe phên, Trác Vương thấy gian bên cạnh tối mờ, một tay nải vẫn treo trên cái móc tre, chiếc tráp sách đặt ngay ngắn ở đầu giường dưới một lớp bụi mỏng. Anh hỏi có ai ở dãy chái này nghe thấy gì trong đêm ấy không.
"Kèn tới thì ai nấy rúc vào chăn, ngóc đầu lên làm gì."
Gã sĩ tử đáp rồi quay mặt vào vách.
"Muốn biết chuyện quỷ kiệu thì đi mà hỏi ông lão mù ngoài quán trà ấy, đừng hỏi ta."
Còn cách mấy nhà, Trác Vương đã ngửi thấy mùi vừng rang của lò bánh cuối phố. Hơi nóng phả ra từ miệng lò làm khô ráo cả một khoảng đường trước cửa. Nhà ấy có thêm một tầng gác thấp chia ba gian, ô cửa gian nào cũng chỉ nhỏ bằng hai bàn tay. Lão chủ lò, bột bám trắng tới tận khuỷu tay, vừa thấy một kẻ say lảo đảo theo sau Trác Vương đã bước ra chặn ngay chân cầu thang.
"Chuyện quỷ kiệu thì ra nghe lão mù ngoài quán trà kể, nhà ta không có gì cho các người hỏi."
Lão nói rồi quay vào nhào bột thình thịch như đang nhào cả cơn giận vào đó.
Trên gác, một ô cửa nhỏ khẽ hé. Một cậu sĩ tử trẻ măng ghé mặt sát vào đó, liếc xuống chỗ lão chủ lò rồi nói vội, chỉ đủ cho người đứng dưới nghe:
"Mấy hôm cuối cậu ấy cười suốt, hỏi gì cũng chỉ bảo người ta dặn, không được kể."
Nói xong cậu ta khép ngay ô cửa lại. Ô bên cạnh thì đóng im, song gỗ còn vướng một chiếc khăn vải phơi từ hôm nào chưa ai cất.
Rời lò bánh, hai người đi ngược về phía đầu phố. Giữa trưa con phố vắng tanh, chỉ còn tiếng chày giã gạo vọng ra từ một sân nhà nào đó. Bạch Tú Tài đi sát lại bên Trác Vương, bước chân thôi xiêu vẹo.
"Ba người, ba chỗ trọ, xem chừng chẳng ai quen ai."
Trác Vương nói khẽ.
"Lời kể lại thì mỗi người một giọng, thế mà lời nào cũng còn nguyên ba chữ người ta dặn."
Trác Vương nhớ những mùa chấm bài. Có khi ba đứa học trò ở ba lớp khác nhau, câu chữ mỗi bài mỗi khác, lại cùng có đúng một chỗ lạ. Gặp như thế thì người chấm chẳng cần tra hỏi cũng biết đã có kẻ mách bài cho cả ba.
"Không ai tự nghĩ ra cùng một lời dặn."
Trác Vương nói.
"Có một người đã dặn cả ba."
"Người ta dặn thì phải có người ta."
Bạch Tú Tài đáp, nụ cười say đã biến khỏi mặt từ lúc nào.
"Vận may thật thì ai gặp cũng chỉ mong cả phố biết, có khi còn mời cả xóm một bữa. Thứ vận may phải dặn đừng nói với ai là thứ vận mà người dặn sợ có kẻ khác nghe thấy."
Có một câu Trác Vương đã muốn hỏi ngay từ phòng người hàng xóm, mà càng ngẫm càng thấy nó chứa sẵn lời đáp anh đã ngờ từ hôm đứng bên tấm ván ở nha môn, nên anh để nó nằm yên. Giờ nghĩ lại, Trác Vương mới nhận ra Bạch Tú Tài hỏi chẳng ít câu mà chưa câu nào để lộ hắn đang ngờ điều gì. Hỏi theo lối ấy thì người nghe chỉ trả lại được điều họ thật biết, chứ không trả lại được cái người hỏi mong nghe.
"Từ nay nếu có ai tới dặn tôi giữ kín chuyện gì."
Trác Vương nói.
"Anh sẽ là người đầu tiên tôi kể."
Bạch Tú Tài phì cười thành tiếng.
"Thế thì nhớ kể với ta trước khi mở cửa."
Hắn nói.
Tới quãng giữa phố, Bạch Tú Tài dừng lại. Ba chỗ trọ còn lại ở các phường khác, hắn bảo để lần sau, rồi vỗ vai Trác Vương một cái, lại lảo đảo như cũ mà đi về phía cổng phường.
Trác Vương đi chậm lại phía sau, tới đầu ngõ vào dãy trọ thì dừng. Ngay bên cạnh, quán trà vẫn căng mái lều vải như hôm anh theo người thư lại đi qua lần đầu, cái ấm trên bếp than phì phò hơi nước, dưới mái lều mấy chiếc ghế đẩu còn bỏ trống. Mấy hôm nay ngày nào Trác Vương cũng đi ngang cái quán ấy mà chưa lần nào ngoảnh vào.
Từ sáng tới giờ, hỏi về người đã theo tiếng kèn thì ai cũng ngần ngại, còn hỏi tới quỷ kiệu thì ai cũng bảo ra quán trà đầu phố mà nghe ông lão mù kể. Trác Vương nhớ ra mình vẫn nợ một lời hứa đã nói với Bạch Tú Tài từ đêm trong ngục, rằng nếu còn ra được khỏi đó thì sẽ đi nghe cho trọn.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.