Thiên Ngoại Khách Lai: Đại Diễn Sấm

Quyển 1: Quỷ Kiệu Nghênh Lang

Chương 6: Tờ Cung Khai

Đăng: 04/10/2026 11:13 3,016 từ 5 lượt đọc

Tiếng gõ cổng thứ hai vọng tới khi mõ bên kia tường vẫn còn giữ nhịp hai tiếng một. Lần này tiếng gõ không dồn dập như lúc trước mà chỉ có ba tiếng thong thả, như thể người gõ biết chắc bên trong thế nào cũng có kẻ chạy ra mở. Bạch Tú Tài đang ngồi tựa vách liền đổ vật xuống đống rơm, gục mặt vào khuỷu tay. Then cổng còn chưa kịp kéo ra thì từ đống rơm ấy đã vang lên tiếng lầm bầm đòi rượu.

Trác Vương nhìn sang phía Bạch Tú Tài rồi nhìn ra hành lang. Lúc nãy lão cai ngục đi một mình, còn bây giờ tiếng chìa khóa lẫn với tiếng bước chân của mấy người. Theo sau quầng đèn dầu vàng đục của lão là một vầng lửa đỏ rực, hắt lên trần hành lang những cái bóng dài ngoằng. Ở mấy buồng phía xa, rơm khẽ sột soạt, như có người vừa trở mình để nghe cho rõ.

Lão cai ngục đi đầu, tay xách đèn, chùm chìa khóa lủng lẳng bên hông. Sau lão là một tên lính áo nâu, một tay giơ cao cây đuốc, tay kia bưng một cái nghiên đá, bưng xa khỏi người như sợ thứ đựng bên trong sánh ra áo. Người thứ ba đi sau cùng và dừng lại ngoài rìa vầng lửa, nên Trác Vương chỉ thấy một vạt quan phục màu sẫm, cùng màu với cái bóng ngồi khuất trong góc trạm gác sáng nay.

"Nó còn thức à?"

Giọng người ấy cất lên từ sau cây đuốc.

"Thế thì bản quan đỡ rầy rà."

Giọng nói khàn và chậm, hai chữ cuối kéo lê ra như tiếng một chiếc ghế nặng lết qua nền gạch. Trác Vương đã nghe giọng này một lần ở ngay sau lưng mình, lúc hai tên lính xô anh qua ngưỡng cửa trạm gác. Cũng cái giọng ấy, cũng hai chữ rầy rà ấy, rồi một chữ chém buông ra nhẹ tênh, như người ta phủi một hạt bụi trên tay áo. Khi đó anh không kịp quay đầu nhìn mặt kẻ nói. Bây giờ gã đã tự tìm tới tận song cửa buồng anh.

"Ngươi mở cửa ra."

Viên quan bảo lão cai ngục.

"Mở xong thì ngươi cầm đèn ra đầu kia mà chờ."

Lão cai ngục dạ một tiếng rồi mở khóa. Cánh cửa song rít lên một hồi dài khi lão kéo ra và lão xách đèn đi ngược về phía gian đầu. Tên lính cắm cây đuốc vào cái vòng sắt trên vách hành lang ngay trước song cửa, xong bưng cái nghiên đá rón rén bước vào buồng.

Viên quan cúi đầu lách qua khung cửa thấp, rồi ngoái lại nhìn cho tới khi quầng đèn của lão cai ngục dừng hẳn ở cuối hành lang, nhỏ như một con đom đóm đậu trên vách. Ánh đuốc ngoài song cửa hắt ngang một bên mặt gã và lần đầu tiên Trác Vương thấy mặt kẻ đã thì thầm ở trạm gác. Viên quan chừng bốn mươi tuổi, người đẫy đà, mặt tròn, da bóng nhẫy. Hàng ria mỏng dính như một nét bút khô quệt ngang môi trên, còn đôi mắt nhỏ thì cứ hơi nheo lại, như mắt người đi chợ ngắm một mớ rau xem có đáng đồng tiền không. Gã thắt đai da có khóa đồng, bên hông đeo một thanh kiếm, đầu bịt khăn đen có hai dải cứng vểnh ra sau gáy.

Cả ngày nay, mỗi lần nhớ tới cái giọng khàn ấy, Trác Vương lại hình dung ra một gương mặt gầy, sắc, dữ như tượng hộ pháp đứng gác cửa chùa. Gương mặt thật lại tầm thường tới mức anh có thể đi lướt qua nó giữa chợ mà chẳng buồn nhìn lại, trông còn hiền hơn mặt mấy ông chủ tiệm tạp hóa đầu ngõ nhà anh. Chính điều ấy làm anh rợn hơn cả lúc nghe giọng: kẻ buông được chữ chém dễ dàng như thế hóa ra chẳng cần tới một gương mặt dữ.

Viên quan liếc qua Bạch Tú Tài đang nằm co như một đống áo trắng nồng mùi rượu bên vách đối diện. Gã khịt mũi một tiếng rồi chẳng thèm nhìn thêm. Gã đứng giữa buồng, hai tay chắp sau lưng, cúi nhìn Trác Vương đang ngồi thu mình trong góc dưới ô cửa song nhỏ.

"Lệnh tra khảo sáng mai, ngươi đã nghe báo rồi chứ?"

Viên quan hỏi, rồi chẳng chờ anh đáp.

"Tra khảo ở chỗ bản quan thì người ta không hỏi bằng miệng. Kẻ cứng đầu nhất bản quan từng gặp cũng chỉ chịu được tới nửa buổi sáng."

Từ đống rơm của Bạch Tú Tài bỗng vang lên một tiếng ngáy rõ to, dài và rung như tiếng bễ lò rèn, rồi tắt ngấm giữa chừng. Tên lính giật nảy mình, suýt đánh rơi cái nghiên đá. Trác Vương phải mím môi cho khỏi bật cười dù hai bàn tay đặt trên đầu gối anh đang lạnh ngắt.

Viên quan rút từ trong tay áo ra một tờ giấy gấp làm tư. Gã không sai tên lính mà tự mình khom lưng trải tờ giấy lên khoảng nền đất trống giữa buồng. Gã thở hắt ra một hơi vì cái bụng phệ, rồi đỡ lấy cái nghiên đá trên tay tên lính mà đặt đè lên một góc giấy. Mực đã mài sẵn, đọng đen sánh trong lòng nghiên đá, lấp lánh ánh đuốc.

"Còn đây là lời cung khai của ngươi."

Viên quan nói.

"Ngươi chỉ cần chấm một ngón tay vào mực rồi ấn xuống chỗ này, sáng mai chẳng ai phải nhọc công hỏi ngươi thêm câu nào nữa, thế là xong."

Viên quan kéo dài chữ xong ra, êm như dỗ trẻ con. Trác Vương nhớ ra sáng nay, trong câu thì thầm ở trạm gác, chữ ấy cũng dài ra y như thế. Anh nhìn tờ giấy trải dưới nền đất rồi nhìn xuống hai bàn tay của chính mình.

"Tôi xin đọc trước đã."

Trác Vương nói.

Viên quan nhướng cặp lông mày thưa, như vừa nghe một con vẹt đọc thơ.

"Ngươi mà cũng biết đọc chữ cơ đấy?"

Gã phẩy tay về phía tờ giấy.

"Thế thì ngươi cứ đọc, cho biết mình đã khai những gì."

Trác Vương bò ra khỏi góc, quỳ xuống trước tờ cung khai. Chữ trên giấy là lối chữ nhiều nét anh vẫn phải dò từng bộ nên anh đọc chậm, ngón tay lần dưới từng dòng như những đêm ngồi chấm bài một đứa học trò chép bài bạn, càng dò càng thấy sai. Tờ giấy chép rằng tên Trác Vương, không rõ quê quán, khai rằng đêm hai mươi chín tháng Giêng giữa giờ giới nghiêm. Y ra đường, dùng gương yêu làm phép hại chết người ngồi trong kiệu hoa, lại tự xưng vương hiệu. Những lời trên đều thật, y cam chịu tội. Dưới cùng chừa một khoảng giấy trắng vừa bằng đầu ngón tay cái. Anh đọc lại lần nữa cho chắc và không thấy chữ nào nhắc tới chuyện anh rơi xuống, điều sáng nay anh đã khai ra vì đó là điều duy nhất anh dám chắc. Giờ thì anh hiểu cái xong viên quan vừa hứa là sáng mai quả thật sẽ chẳng ai hỏi anh thêm câu nào, vì kẻ đã nhận giết người bằng yêu thuật thì chẳng còn gì để hỏi, chỉ còn chờ ngày ra pháp trường.

Trác Vương ngẩng lên.

"Trên này có ba điều, mà điều nào cũng không phải lời tôi."

Viên quan nheo mắt chờ, chẳng buồn đáp.

"Đêm ấy tôi không đi ra đường, tôi rơi xuống đường."

Trác Vương nói tiếp.

"Tôi không làm phép, cũng không hại ai. Còn chữ vương thì từ trước tới giờ chưa có ai phong cho tôi cả. Những lời tôi chưa từng nói, tôi không điểm chỉ."

Tên lính bật ra một tiếng cười khẩy rồi vội nín bặt. Viên quan thở ra đằng mũi, chậm rãi và chán chường.

"Kẻ điên thì cần gì biết lời nào là của mình."

Viên quan nói.

"Ngươi cầm tay nó."

Tên lính ngần ngừ, mắt đảo từ viên quan sang mái tóc ngắn của Trác Vương, như bị bảo thò tay vào một cái bếp than đang đỏ. Rồi tên lính cũng chộp lấy cổ tay trái của Trác Vương, đúng chỗ vết thừng còn hằn. Tên lính giật mạnh về phía nghiên mực, khiến cơn đau buốt lên tận khuỷu tay anh. Trác Vương không van xin, cũng không chửi. Anh giấu ngón cái vào trong lòng bàn tay rồi nắm chặt lại, siết tới mức móng tay bấm vào da thịt, như người ta nắm lấy thứ cuối cùng còn là của mình.

Tên lính bèn cạy từng ngón tay của Trác Vương. Ngón út bật ra trước, ngón áp út bật ra sau và ngón cái vừa lộ ra một nửa. Khi chỉ còn cách mặt mực chừng hai đốt tay, thì từ đống rơm của Bạch Tú Tài vang lên một giọng lè nhè:

"Đêm hôm khuya khoắt, ai còn ồn ào thế?"

Bạch Tú Tài lồm cồm ngồi dậy, chiếc trâm gỗ lệch hẳn sang một bên, mắt nheo lại trước ánh đuốc. Hắn nhìn tên lính, nhìn bàn tay bị ghì của Trác Vương, nhìn tờ giấy với cái nghiên đá trên nền đất, rồi gật gù như vừa hiểu ra một điều hệ trọng.

"Giờ này mà đại nhân cũng lấy cung à?"

Bạch Tú Tài chắp hai tay trước bụng, lắc lư như học trò trả bài trước mặt thầy, rồi cất giọng sang sảng.

"Luật chép rằng: phàm hỏi tù, quan phải đích thân hỏi. Lời đã định thì cho tù tự viết lấy lời cung. Tù nhân không biết chữ thì thư lại theo miệng mà chép, rồi đọc lại cho nghe trước mặt quan."

Giọng Bạch Tú Tài vang khắp dãy buồng. Ở đâu đó phía xa, một tiếng ngáy thật đứt ngang, rồi một tiếng ngáy khác cũng im bặt. Trác Vương hình dung sau những song cửa tối om là những cái đầu đang nhổm dậy nghe ngóng. Viên quan quay phắt lại, mắt liếc nhanh ra phía hành lang. Tên lính vẫn ghì cổ tay Trác Vương nhưng không cạy thêm ngón nào nữa.

"Đại nhân đích thân tới, thế là đúng luật được nửa câu."

Bạch Tú Tài nói tiếp, vẻ hài lòng như người chấm thi vừa gặp một câu văn hay.

"Phần còn lại thì hỏng cả. Người này biết chữ, luật cho hắn tự viết, vậy mà tờ kia đã có người viết hộ. Còn thư lại thì tại hạ nhìn khắp buồng chẳng thấy ai."

"Ngươi câm miệng!"

Viên quan quát.

"Một thằng say mà cũng đòi giảng luật cho bản quan nghe sao?"

Bạch Tú Tài không câm miệng mà nấc lên một cái rồi cười hì hì, chỉ tay về phía tờ giấy như chỉ vào một bài thơ sai vần.

"Biên bản sáng nay chép hắn từ trên trời rơi xuống, tờ kia lại chép hắn ra đường làm phép. Đại nhân cứ đưa bút cho hắn tự viết thử. Tại hạ xin cược cả bầu rượu của mình, thế nào hắn cũng lại rơi từ trên trời xuống."

Tên lính cắn môi, vai rung lên vì nín cười, còn mặt viên quan thì sẫm lại dưới ánh đuốc. Trác Vương không cười nổi, vì cổ tay anh vẫn nằm trong bàn tay tên lính, nhưng anh nghe ra chữ nào Bạch Tú Tài vừa nói cũng thật như những con số viết trên bảng.

"Luật ấy còn một đoạn nữa, đoạn nói về tra khảo."

Viên quan gằn giọng, chữ cuối lại kéo dài ra.

"Sáng mai bản quan sẽ đọc nốt đoạn ấy cho cả hai đứa bây nghe."

"Đại nhân nói phải."

Bạch Tú Tài đáp, giọng trịnh trọng hẳn lên.

"Bất học lễ, vô dĩ lập."

Câu ấy Trác Vương nghe quen, hình như là lời Khổng Tử: không học lễ thì chẳng lấy gì mà đứng vững. Bạch Tú Tài vừa dứt lời đã chống tay đứng dậy, như muốn vái quan cho phải lễ mà chính hắn thì đứng chẳng vững chút nào. Hắn lảo đảo tiến lên một bước, hai tay chắp lại, cúi gập người xuống thật sâu và ống tay áo trắng rộng thùng thình quét ngang qua nền đất.

Cái nghiên đá đổ nghiêng. Mực đen sánh trào ra, chảy tràn qua từng dòng chữ, lấp kín khoảng giấy trắng dành cho đầu ngón tay cái, rồi loang ra tận mép giấy mà ngấm xuống nền đất.

Cả buồng lặng đi trong một hơi thở. Tên lính buông cổ tay Trác Vương, lùi phắt lại, mặt tái mét. Bạch Tú Tài vẫn khom lưng, ngẩn ngơ nhìn tờ giấy đã đen kịt dưới chân mình, rồi khẽ ngâm, giọng buồn rầu như đứng trước một chiếc bình quý vừa vỡ:

"Bạch khuê chi điếm, thượng khả ma dã. Tư ngôn chi điếm, bất khả vi dã."

Trác Vương nghe ra mấy chữ ngọc trắng, chữ vết, chữ lời nói và lần ra được nghĩa: vết trên ngọc trắng còn mài đi được, còn vết trong lời nói thì không sao sửa nổi. Anh không biết câu ấy ở sách nào. Anh chỉ biết tờ giấy chép hộ anh ba điều anh chưa từng nói, giờ đã chẳng còn đọc ra được một chữ.

Viên quan gầm lên một tiếng rồi lao tới, túm lấy cổ áo trắng của Bạch Tú Tài mà xô mạnh. Bạch Tú Tài ngã ngửa vào đống rơm, một cánh tay văng ra quệt trúng chiếc bát sành nằm sát chân vách. Chiếc bát bật vào vách đất rồi vỡ làm mấy mảnh, tiếng sành khô khốc lẫn trong tiếng rơm xào xạc.

Viên quan chộp lấy tờ cung khai. Mực trên ấy nhỏ xuống từng giọt nặng, chảy dọc cổ tay gã, loang vào ống tay áo quan phục. Gã giơ tờ giấy lên phía ánh đuốc, lật qua lật lại như mong tìm được một góc còn sạch, nhưng chẳng còn dòng nào đọc được, còn khoảng trắng dành cho ngón tay cái thì đã chìm hẳn dưới một vũng đen. Gã sờ sang ống tay áo bên kia như tìm thêm một tờ nữa nhưng không thấy. Gã bèn vò nát tờ giấy mà nhét vào tay áo, mặc cho mực thấm đen cả một mảng vải.

"Sáng mai bản quan quay lại."

Viên quan nói với Trác Vương, giọng khàn đặc, từng chữ rơi xuống chậm và nặng.

"Tới lúc ấy, chính ngươi sẽ xin được điểm chỉ."

Gã quay sang phía Bạch Tú Tài đang nằm ngửa trên rơm, nấc lên từng tiếng.

"Còn thằng say kia, sáng mai tỉnh rượu rồi hẵng biết sợ."

Tên lính nhón hai đầu ngón tay nhấc cái nghiên đá khỏi vũng mực, giơ thẳng tay ra trước mặt như cầm một con chuột chết, rồi lỉnh ra cửa trước. Viên quan bước ra sau, giật cánh cửa song đóng sầm lại. Cả khung cửa rung lên và trên cột cửa, hạt lửa còn sót lại của ngọn đèn treo chao đi một cái rồi tắt phụt.

"Cai ngục đâu?"

Tiếng viên quan vọng dọc hành lang.

"Ngươi ra khóa cửa lại!"

Quầng đèn vàng đục từ cuối hành lang vội vã quay về. Lão cai ngục khóa cửa lại, không nói một lời. Tên lính rút cây đuốc khỏi vòng sắt. Tiếng bước chân, tiếng chìa khóa và hai vầng sáng cùng nhỏ dần về phía gian đầu, rồi cổng nhà ngục đóng lại. Sau đó bóng tối trùm kín gian buồng.

Trác Vương lần về góc cũ dưới ô cửa song. Anh ngồi im rất lâu, xoa cái cổ tay vẫn còn rát. Trong bóng tối đặc quánh, anh nghe tiếng rơm sột soạt ở phía vách đối diện, lẫn tiếng mấy mảnh sành chạm nhau lanh canh, rồi nghe Bạch Tú Tài thở ra một hơi dài. Những tiếng nấc cụt đã tắt hẳn.

"Anh không lỡ tay."

Trác Vương nói khẽ.

"Ta có bảo là lỡ đâu."

Giọng Bạch Tú Tài lại thong thả như mỗi lần chỉ còn hai người, có ý cười mà không thành tiếng. Trác Vương nhìn về phía giọng nói ấy, dù chẳng thấy gì ngoài bóng tối. ANh nghĩ tới tờ giấy đen kịt đang nằm nhàu nát trong tay áo viên quan.

"Tờ ấy mà nộp cho tôi."

Trác Vương nói. "Tôi cũng gạch bỏ cả trang."

"Thì ta gạch hộ tiên sinh rồi đấy."

Bạch Tú Tài nói.

"Còn ngón cái của huynh đài thì giấu cũng khéo."

Trác Vương bật cười, một tiếng cười nhỏ và ngắn. Cười xong anh mới biết hai bàn tay mình đã thôi run. Sáng nay ở trạm gác, cái giọng khàn ấy đã quả quyết rằng có chém anh thì cũng không một ai tìm tới hỏi và cả gian nhà ấy chẳng ai cãi lại lấy một lời. Cái giọng ấy đã tính sai một người. Có một kẻ đã tự tìm tới, tự đi vào ngục và đêm nay đứng lên nói thay anh bằng giọng của một kẻ say.

Mõ bên kia tường chuyển sang gõ ba tiếng một. Ở chỗ Bạch Tú Tài nằm, rơm khẽ động thêm một lúc rồi im và hơi thở của hắn đều lại. Mắt Trác Vương quen dần với bóng tối. Anh chợt nhận ra ô cửa song nhỏ trên đầu mình, suốt từ lúc có ngọn đèn treo chỉ là một ô đen, giờ đã không còn đen nữa.

Trác Vương ngẩng lên. Qua ô cửa ấy, bầu trời đã dày đặc sao, nhiều tới mức phải một lúc lâu sau anh mới biết mình lại đang đếm và lần này đếm không làm tay anh lạnh đi.

0