Chương 1: Kiệu Hoa Giữa Giờ Giới Nghiêm
Thiên Ngoại Khách Lai: Đại Diễn Sấm
Mục lục
2 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 2/2 chương
Trống chiều dứt tiếng thứ tám trăm thì cả kinh thành Trường Minh như bị ai úp một chiếc chuông đồng khổng lồ lên trên. Đại lộ rộng tới mức mười cỗ xe đi song song vẫn còn thừa chỗ, vậy mà giờ này không có lấy một con chó hoang. Rồi từ cuối đường vọng lại tiếng kèn rước dâu, réo rắt và vui vẻ tới lạ lùng, như thể nó không hề biết mình đang thổi giữa giờ giới nghiêm.
Trong một gian nhà nhỏ sau bức tường phường thị, một người đàn bà vội thổi tắt đèn rồi kéo đứa con trai nằm xuống cạnh mình. Thằng bé chưa kịp hỏi gì thì bà đã ghé tai nó thì thào câu mà mùa xuân năm ấy trẻ con kinh thành đứa nào cũng thuộc: "Nghe kèn thì đừng mở cửa". Từ dãy trọ sĩ tử ở đầu phường vọng lại tiếng then cửa sập xuống liên hồi.
Suốt canh một rồi sang canh hai, tiếng kèn cứ thong thả lượn qua mấy phường quanh đó. Mỗi lần nó tới gần, tiếng mõ cầm canh sau tường lại thưa hẳn đi. Giữa canh ba, nó rẽ vào đoạn đại lộ ngay bên kia bức tường và người đàn bà nghe rõ cả làn điệu: ba câu vui vẻ lặp đi lặp lại, câu cuối vút lên như một tràng cười. Đột nhiên, giữa chừng một câu, tiếng kèn rít lên thất thanh và im bặt. Bà ôm chặt đứa con nằm chờ đợi nhưng suốt đêm ấy nó không cất tiếng lên thêm lần nào nữa.
Mặt đất đập vào vai Trác Vương trước khi anh kịp hiểu rằng mình đang rơi. Cú va làm anh tắc thở; anh lăn đi hai vòng trên một thứ nền vừa cứng vừa lạnh. Hai bàn tay anh vẫn ghì chặt chiếc điện thoại như người chết đuối ghì lấy khúc gỗ. Đèn pin của máy vẫn còn bật và trong luồng sáng trắng chao đảo trên những phiến đá lát đường, có một cỗ kiệu hoa đỏ đang trôi về phía anh.
Cỗ kiệu không đi mà trôi. Bốn chiếc đèn lồng đỏ ở bốn góc mái chỉ đủ nhuộm hồng lớp rèm lụa và những chữ song hỷ cắt giấy. Còn phía dưới thân kiệu là một khoảng đen đặc, tựa hồ nó đang lướt trên một dòng nước tối. Tiếng kèn vang ngay trước mặt anh, lẫn cả tiếng hơi người rít qua dăm kèn và câu cuối mỗi hồi lại vút lên như tiếng cười ai đó.
Luồng đèn trong tay anh lia tới khoảng đen dưới kiệu. Khoảng đen ấy lập tức mọc ra những ống tay áo đen, những bàn tay bấu chặt đòn kiệu. Mấy đôi mắt nheo lại vì chói rồi quay ngoắt đi. Tiếng kèn rít lên một tiếng như bị ai bóp cổ rồi tắt ngấm.
"Quỷ!"
Một giọng đàn ông vỡ ra trong bóng tối.
"Quỷ từ trên trời xuống!"
Trác Vương hiểu câu ấy vì đó là tiếng Trung dù giọng nghe lạ tai, mang một thứ thổ âm anh chưa gặp bao giờ. Anh quay phắt lại, tim đập thình thịch, tưởng phía sau mình có thứ gì khiến bọn họ khiếp vía tới vậy. Nhưng phía sau lại chỉ có một đại lộ vắng tanh chạy thẳng vào bóng tối.
Cỗ kiệu rơi xuống mặt đường cái rầm rồi chao nghiêng. Những cái bóng đen bỏ chạy về phía cuối đường và cái tật đếm của nghề dạy toán bật lên trong đầu anh trước cả nỗi sợ: năm người, bốn khiêng kiệu, một ôm kèn. Gót những đôi ủng da đen nện lách cách trên mặt đá và mỗi lần luồng đèn quét qua, dưới gót lại lóe lên mấy đốm vàng như đầu đinh đồng. Chỉ trong mấy hơi thở, cả bọn đã biến mất khuất sau một góc tường, bỏ lại một chiếc đèn lồng đứt dây đang bén lửa bên đường.
Phải một lúc lâu sau, Trác Vương mới hiểu ra con quỷ mà bọn họ la hét chính là anh. Anh chống tay ngồi dậy. Hông trái nhói lên từng cơn, lòng bàn tay rát bỏng, nhưng xương cốt có vẻ vẫn còn nguyên. Chiếc đèn lồng bên đường cháy rụi rất nhanh, chỉ còn ba chiếc trên mái kiệu hắt ánh hồng lờ mờ xuống quãng đường quanh đó.
"Có ai không?"
Anh gọi, rồi gọi to hơn.
"Có ai ở đây không?"
Tiếng gọi của anh chạy dọc hai bức tường rồi tan mất. Ý nghĩ tỉnh táo đầu tiên của anh thì đây là một phim trường cổ trang. Nhưng ánh đèn lia một vòng chỉ gặp những bức tường đất nện cao quá đầu người, không máy quay, không dây điện, không một bóng người.
Anh tiến lại gần cỗ kiệu. Mùi sơn còn mới xộc vào mũi, lẫn hương trầm và hơi rượu nồng. Kiệu vừa rơi cái rầm như thế, người bên trong ít nhất cũng phải kêu lên một tiếng, nhưng sau tấm rèm vẫn im phăng phắc.
"Chị gì ơi?"
Anh buột miệng hỏi bằng tiếng Việt, rồi mới sực nhớ bọn người vừa rồi nói tiếng Trung. Thế là anh bèn hỏi lại.
"Cô ơi? Cô có sao không?"
Bên trong không có tiếng đáp. Anh vén rèm bằng một ngón tay và rọi đèn vào. Rồi anh nhận ra người ngồi trong kiệu không phải cô dâu.
Đó là một người đàn ông trẻ mặc áo đỏ, ngực thắt một đóa hoa lụa to bằng cái bát, mũ chú rể lệch hẳn sang một bên. Lưng gã ưỡn cong như một cánh cung bị kéo căng, đầu ngửa ra sau, hai bàn tay nắm chặt, móng bấm cả vào da thịt. Hai khóe môi gã toác về hai phía, nhe hai hàm răng ra tới tận chân lợi, y như người vừa nghe được câu chuyện buồn cười nhất đời. Nhưng đôi mắt gã thì không cười. Đôi mắt ấy mở trừng trừng nhìn lên nóc kiệu và trong đó không còn gì nữa.
"Anh gì ơi?"
Trác Vương gọi, giọng run run.
"Anh có nghe tôi nói không?"
Người trong kiệu vẫn cười, còn anh thì đứng chết trân mất mấy hơi thở, cho tới khi cái nếp của người từng đọc mòn sách pháp y đẩy anh bước tới. Anh áp hai ngón tay còn vương bụi phấn trong kẽ móng từ buổi dạy ban chiều lên cổ người ấy và đếm thầm tới hai mươi mà không thấy mạch. Da thịt còn ấm, vậy mà cơ cổ đã cứng đờ như gỗ. Cái dáng ưỡn cong kia gợi lại một trang sách anh từng đọc nhưng trí nhớ cứ lẩn đi đâu, không chịu trả về.
Người này vừa chết, có lẽ chỉ trước lúc anh rơi xuống một chút. Bộ áo cưới còn mới tinh nhưng cổ tay áo lót thò ra bên dưới đã sờn chỉ, lấm mấy vệt mực cũ, y hệt tay áo những đứa học trò viết nhiều nhất lớp anh. Rồi anh nhận ra điều sai lệch khiến gáy mình lạnh đi: kiệu hoa là để rước cô dâu, còn chú rể thì cưỡi ngựa đi đầu. Vậy mà trong cỗ kiệu này chỉ có chú rể và chú rể đang cười.
Anh buông rèm lùi lại và gót giày chạm phải một vật mềm. Ngay chỗ anh vừa ngã là một chiếc hài thêu đỏ nhỏ vừa bàn chân đàn bà, mũi cong như mũi thuyền. Chiếc hài thêu một đôi uyên ương bằng chỉ vàng, đế không vương lấy một hạt bụi. Anh lia đèn tìm chiếc còn lại khắp mặt đường, tìm dưới gầm kiệu, cả trong rãnh nước sát chân tường. Nhưng kết quả chỉ có mỗi chiếc hài ấy nằm một mình như vừa có ai rút chân ra khỏi nó.
Trong năm cái bóng vừa bỏ chạy, anh không nhớ có bóng nào mang hình dáng đàn bà, nên anh đành tự nhủ kẻ nào đó đã đánh rơi nó lúc hỗn loạn. Anh không nhặt nó lên và bảo mình làm thế là để giữ nguyên hiện trường, dù trong bụng biết lý do không hẳn chỉ có thế.
Điện thoại báo không có dịch vụ, pin chỉ còn sáu mươi tư phần trăm. Còn bản đồ cứ quay mãi một vòng tròn nhỏ y hệt cái đầu anh lúc này. Anh tắt đèn pin cất máy vào túi, vì chưa biết tới bao giờ mới gặp lại một ổ điện.
Mắt anh quen dần với bóng tối. Anh ước chừng đại lộ phải rộng hơn trăm mét. Hai bên là hai bức tường đất nện chạy dài tít tắp, không một ô cửa sổ, không một cánh cửa nào mở ra đường. Cách đó không xa, bức tường bên trái trổ một cánh cổng lớn có lầu canh, cửa đóng im ỉm.
Anh bước tới gõ cổng ba tiếng, rồi ba tiếng nữa. Phía sau cánh cổng có tiếng sột soạt, tiếng một người nín thở, rồi vệt sáng mỏng dưới chân cửa tắt phụt.
"Có ai trong đó không?"
Trác Vương áp sát mặt vào cánh cổng.
"Ngoài này có người chết! Làm ơn báo..."
Anh suýt nói báo công an rồi kịp nuốt lại, vì chính anh cũng không biết ở đây người ta phải báo cho ai.
"Làm ơn báo quan!"
Từ sau cánh cổng vọng ra một giọng già run rẩy:
"Oan có đầu, nợ có chủ... lão già này không nợ gì ngài cả... xin ngài đi cho..."
Rồi giọng ấy chuyển sang niệm Phật, mỗi lúc một dồn dập, như sợ chỉ cần ngừng một hơi là thứ đứng ngoài cổng sẽ luồn được qua khe cửa. Trác Vương gõ thêm một lần rồi thôi, vì tiếng niệm Phật chỉ càng thêm gấp gáp.
Anh quay về chỗ cỗ kiệu. Lang thang giữa một thành phố lạ lúc nửa đêm, nơi gõ cửa chẳng ai dám mở và bọn khiêng kiệu có thể quay lại bất cứ lúc nào, chưa chắc đã an toàn hơn ngồi yên chờ trời sáng. Anh ngồi xuống sát cỗ kiệu, lưng tựa vào vách gỗ, ngập ngừng một lúc rồi mới lên tiếng với tấm ván sau lưng.
"Tôi ngồi đây với anh tới sáng."
Trác Vương nói khẽ.
"Để anh khỏi phải ở một mình giữa đường."
Nói xong anh mới thấy mình buồn cười. Người đầu tiên anh bắt chuyện ở nơi này, cái người anh gọi là chị lúc nãy, lại là một người chết. Đêm buốt hơn anh tưởng; anh kéo khóa áo khoác lên tận cằm, co hai đầu gối lại và chờ.
Ba chiếc đèn lồng trên mái kiệu lần lượt cạn nến. Chiếc thứ nhất tắt đúng lúc tiếng mõ sau tường đổi nhịp. Anh đếm được bốn tiếng một và đoán đó là canh tư. Chiếc thứ hai lụi dần như một con mắt díp lại, còn chiếc cuối cùng chập chờn thêm một hồi mới chịu tắt, để bóng tối ập xuống đặc tới mức anh không nhìn thấy bàn tay mình. Ngay lúc ấy, cỗ kiệu khẽ kêu lên một tiếng cót két sát gáy anh và anh bật người khỏi vách kiệu như vừa chạm phải lửa. Anh biết gỗ co lại khi trời trở rét, biết một thân thể vừa chết vẫn còn những đổi thay của nó. Thế nhưng phải rất lâu sau anh mới dám ngồi xuống lại, lần này xích xa ra một chút.
Để khỏi nghĩ tới tiếng cót két ấy, anh cố nhớ lại mình đã tới đây bằng cách nào. Trí nhớ chỉ trả về vài mảnh vụn: mùi hoa cà phê ngọt lịm trong gió đêm, một lối mòn đất đỏ dưới ánh đèn điện thoại và cảm giác hụt chân như bước hụt một bậc thang không hề có. Sau đó là mặt đá và giữa hai thứ ấy là một khoảng trống như trang vở bị ai xé mất. Anh giơ cổ tay trái lên xem giờ theo thói quen. Lúc này ngón tay anh chỉ chạm vào da trần; chiếc đồng hồ vẫn nằm trên bàn ở nhà.
Muốn biết đầu óc mình còn tỉnh không, anh nhẩm mười bảy nhân hai mươi ba, kết quả ra ba trăm chín mươi mốt. Rồi anh chia ngược lại cho chắc, kết quả vẫn đúng. Anh bật cười khẽ trong bóng tối: giữa một đêm chẳng còn gì đúng chỗ, ít ra phép nhân vẫn đứng về phía anh.
"Bài này có đáp án."
Anh nói với cỗ kiệu bên cạnh, bằng đúng cái giọng vẫn dùng mỗi khi cả lớp ngồi ngây ra trước một đề toán khó.
"Chỉ là tôi chưa tìm ra."
Suốt đêm, anh chờ tiếng chân người, chờ ánh đuốc. Một nơi khóa cổng kỹ như thế hẳn phải có lính tuần đêm, nhưng trên cả đoạn đường này không có lấy một bóng đuốc nào đi qua. Chỉ có tiếng mõ cầm canh sau tường đều đặn và dửng dưng, như thể người gõ đã quyết làm ngơ.
Vì chẳng còn gì khác để nhìn, anh ngẩng lên. Không một quầng đèn điện nào hắt lên nền trời, nên sao dày hơn cả những đêm mùa khô trên cao nguyên, những chòm sao quen thuộc suýt lạc giữa muôn vàn đốm sáng nhỏ. Anh dò ra chòm Bắc Đẩu, nối hai ngôi sao ở miệng gáo rồi kéo dài ra chừng năm lần để tìm sao Bắc Cực.
Anh tìm thấy nó và người anh lạnh đi. Ở Đắk Lắk, lần nào dẫn học trò đi ngắm sao, anh cũng phải khom người chỉ tay xuống sát chân trời phía bắc cho tụi nhỏ dò theo. Còn đêm nay nó treo cao vượt hẳn mái tường. Không cần thước, anh cũng biết mình đang ở rất xa về phía bắc, xa hơn bất cứ nơi nào trên đất nước mình. Người ở đây nói tiếng Trung, sao Bắc Cực lại cao thế này, thì hẳn anh đã rơi xuống đâu đó trên đất Trung Hoa. Dù anh không nghĩ ra nổi nơi nào bên ấy còn những bức tường đất bao kín từng khu phố như thế.
Cả đời anh, ngôi sao ấy là thứ đứng yên nhất trên bầu trời, thứ người lạc đường dựa vào mà tìm lối về. Anh bám mắt vào nó như bám vào một thứ đêm nay vẫn còn đúng và để ý thấy nó treo thẳng trên ngọn một cây cao nhô lên sau bức tường phía bắc. Gần sáng, anh ngẩng lên lần nữa và ngôi sao hình như đã trượt khỏi ngọn cây ấy một quãng. Anh dụi mắt và đổ lỗi tại đôi mắt đã thức gần trọn một đêm.
Tiếng mõ vừa đổi sang năm tiếng một thì từ phía bắc vọng tới tiếng trống, rồi những lầu trống gần hơn nối nhau đánh theo, dồn về phía anh như từng lớp sóng. Trống vừa dứt, sau cánh cổng có lầu canh vang lên tiếng then gỗ kéo kèn kẹt như có người toan mở, rồi tiếng ấy ngừng bặt. Cánh cổng vẫn đóng im ỉm. Mãi sau bầu trời phía đông mới ngả màu tro. Sương đã đọng thành một lớp trắng lấm tấm trên mặt đá, phủ cả lên chiếc hài đỏ vẫn nằm nguyên chỗ cũ, mũi hài quay về phía cỗ kiệu.
Rồi có tiếng chân người rầm rập trên mặt đá. Tim anh thắt lại vì tưởng bọn khiêng kiệu đã quay về. Nhưng đi cùng tiếng chân là mấy đốm đuốc đỏ quạch lắc lư giữa làn sương sớm, dưới ánh đuốc lại lấp loáng những mũi giáo, thứ bọn khiêng kiệu không mang theo. Trác Vương vùng đứng dậy, bật đèn pin giơ cao mà vẫy, như người lạc giữa rừng thấy đội cứu hộ. Đám đuốc dừng phắt lại cách anh hơn chục bước và trong toán lính có kẻ thốt lên hai chữ khiến cả toán tái mặt:
"Quỷ kiệu..."
"Câm miệng!"
Gã cầm đầu là một người râu quai nón quát lên, nhưng chính gã cũng không dám bước thêm bước nào.
"Kẻ kia, bỏ thứ trong tay xuống! Quỳ xuống!"
Trác Vương vội tắt đèn, đặt điện thoại xuống đất, rồi theo phản xạ của người xem quá nhiều phim bèn giơ hai tay lên cao. Một tên lính hét rằng nó đang làm phép và mấy mũi giáo lập tức kề sát cổ anh. Anh quỳ sụp xuống giữa một vòng ủng da đen, cố nói thật chậm, rõ từng chữ.
"Tôi không làm gì cả. Người trong kiệu chết từ nửa đêm. Tôi ở lại đây để chờ các anh."
"Nó nói giọng gì thế?"
Một tên lính hỏi. Tên đứng cạnh nhổ nước bọt:
"Lơ lớ như người Hồ, xưng hô cũng chẳng ra thể thống gì."
Một tên khác cúi nhặt chiếc điện thoại. Vừa nhấc lên, màn hình đã sáng bừng trong tay gã, mấy con số chỉ giờ hiện trắng trên nền tối. Gã rú lên, quẳng nó xuống đất như quẳng một con rắn.
"Nó tự sáng! Gương yêu, trên mặt còn hiện chữ ma!"
Gã cầm đầu nghiến răng lấy khăn trùm lên chiếc điện thoại rồi mới dám nhặt. Trong lúc bọn lính lục khắp người Trác Vương, chúng lôi ra cuốn sổ tay trong túi áo khoác, soi đuốc vào mái tóc cắt ngắn và bộ quần áo lạ. Xong đâu đấy, gã cầm đầu bước tới vén rèm kiệu nhìn vào trong hồi lâu. Khi quay lại, mặt gã trắng bệch.
"Trước giờ chỉ nghe mất người."
Gã lẩm bẩm.
"Lần này nó để lại xác."
Một tên lính đứng cuối toán lùi lại, suýt giẫm phải chiếc hài đỏ, rồi kêu thét lên:
"Hài! Hài của tân nương!"
Cả toán dạt ra như thể chiếc hài ấy biết cắn. Phải tới khi gã cầm đầu chửi một tràng, mới có người chịu lấy cán giáo khều nó lên và bọc vào một mảnh vải rồi cầm chìa ra xa hết tầm tay.
Họ trói quặt hai tay Trác Vương ra sau lưng. Sợi thừng thô siết lên cổ tay trái, đúng chỗ vệt da nhạt màu chiếc đồng hồ để lại. Rồi anh bị xô đi trước mũi giáo, bỏ lại cỗ kiệu đỏ cho mấy tên lính đứng canh và không tên nào dám đứng gần.
Trạm gác của quân tuần là một gian nhà thấp ở góc ngã tư, giữa nhà nhóm một bếp than. Gã cầm đầu vừa bước qua ngưỡng cửa đã khựng lại, rồi vội vàng cúi chào về phía góc tối sau bếp, như không ngờ trong ấy lại có người. Hơi ấm phả vào mặt khiến Trác Vương suýt khuỵu xuống, rồi một cú đạp vào khoeo chân bắt anh quỳ hẳn trước chiếc án thư mọt của một gã thư lại đang ngáp dài. Lúc ấy anh mới thấy người ngồi trong góc: khuất mặt, khoác quan phục màu sẫm và suốt buổi tra hỏi không nói một lời. Vạt quan phục ấy ướt sương, đang bốc hơi nhè nhẹ vì hơi than; người mặc nó hẳn cũng vừa từ ngoài đường vào chẳng bao lâu.
"Tên họ?"
"Trác Vương."
Ngọn bút dừng lại giữa chừng. Trác Vương tưởng gã nghe không rõ, bèn nói thêm cho rành mạch:
"Họ Trác, tên Vương."
Cả gian nhà im phắc. Gã cầm đầu chậm rãi quay sang nhìn anh, như nhìn một kẻ vừa tự đặt đầu mình lên thớt.
"Nói lại lần nữa xem."
"Tên tôi là Trác Vương."
Anh nhắc lại, rồi chợt hiểu cái tên ấy lọt vào tai bọn họ thành ra thế nào. Họ Trác, rồi chữ Vương đứng liền sau, y như tước hiệu của một vị vương gia.
"Không, các anh hiểu lầm rồi, Vương là tên chứ không phải tước. Tên này..."
"Tên mà dám đặt chữ vương."
Gã thư lại nói, giọng đều đều như đọc một điều luật.
"Thì lại càng to gan."
"Ghi vào."
Gã cầm đầu bảo.
"Tiếm xưng vương hiệu."
"Quê quán?"
Trác Vương định nói tên tỉnh mình rồi thôi, vì ở nơi này cái tên ấy chỉ là thêm một chuỗi âm vô nghĩa để ghi vào tội trạng.
"Phía nam."
Anh nói.
"Rất xa về phía nam."
"Nửa đêm ra đường làm gì? Từ đâu mà tới chỗ ấy?"
"Tôi không ra đường. Tôi không định... Tôi đang đi thì ngã, rồi tôi..."
Anh nghe giọng mình lạc đi, nói lộn xộn như học trò bị gọi lên trả bài mà không thuộc. Anh hít một hơi, rồi nói ra điều duy nhất anh biết chắc là thật.
"Tôi từ trên trời rơi xuống."
Cả gian nhà cười ồ lên, thứ tiếng cười vừa khinh bỉ vừa nhẹ nhõm, tựa hồ nhờ có một gã điên mà đêm qua bớt đi được một phần ma quái. Chỉ gã thư lại là không cười; gã ngẩng lên hỏi người cầm đầu:
"Ghi như thế thật à?"
"Nó khai sao thì ghi vậy."
Ngọn bút lướt đi. Dù phải nhìn ngược chiều, dù nét chữ rườm hơn thứ chữ anh quen, Trác Vương vẫn đọc ra câu "từ trên trời rơi xuống" nằm lại trên giấy. Câu đó rành rọt và ngay ngắn, trông còn điên rồ hơn lúc anh nói ra.
Gã cầm đầu quẳng cuốn sổ tay lên án thư.
"Còn thứ này?"
"Chỉ là mấy bài toán."
"Toán?"
Gã lật soàn soạt mấy trang, rồi dí một trang vào sát mặt anh.
"Toán gì mà không có lấy một con số?"
Trác Vương nhìn những dòng số viết tay của chính mình, thứ chữ số mà đứa trẻ lên sáu nào cũng đọc vanh vách. Lần đầu tiên anh nhận ra rằng ở nơi này, chúng không phải là số.
"Chép một trang vào biên bản."
Gã bảo thư lại.
Gã thư lại ngần ngừ, ngọn bút treo lơ lửng trên nghiên mực.
"Theo lệ thì chép chữ, không chép bùa..."
"Tang chứng yêu thuật thì phải chép."
Gã cầm đầu gắt.
"Để đại nhân trên kia tự xem thứ quỷ tự này ra sao."
Gã thư lại đành lật tới trang dày chữ nhất, một lời giải Trác Vương viết dở cho lớp mười một. Rồi gã cặm cụi vẽ lại từng nét như vẽ bùa, đầu bút run run vì sợ lệch. Con số năm của anh mọc thêm một cái móc, dấu bằng thành hai vạch dài ngắn chẳng đều. Chỉ có chữ x là gã vẽ giống hệt, vì nó vốn chỉ là hai nét cong quay lưng vào nhau, lối viết anh học từ thuở lớp một. Trác Vương bất giác nhoài người tới định cầm bút sửa như vẫn chữa bài trên bảng, rồi mới nhớ ra hai tay mình đang bị trói.
Người ta bỏ chiếc điện thoại, vẫn trùm trong khăn, cùng cuốn sổ tay vào một chiếc hòm gỗ, khóa lại rồi dán giấy niêm. Đó là hai thứ cuối cùng anh còn mang theo từ nơi anh đã rời đi và giờ chúng thành tang vật.
Gã cầm đầu nhấc tờ biên bản lên, đọc bằng cái giọng đều đều của kẻ đã đọc cả trăm tờ giống vậy:
"Phạm dạ, đứng cạnh xác người chết, mang gương yêu tự phát sáng, lại tiếm xưng vương hiệu."
Gã gấp tờ giấy lại.
"Bốn tội, tội nào cũng không nhẹ. Đợi trời sáng hẳn thì giải lên ngục."
Hai chữ phạm dạ thì anh chưa từng nghe, nhưng ghép nghĩa cũng đủ hiểu: ở nơi này, có mặt ngoài đường ban đêm đã là một tội. Hai tên lính kéo anh đứng dậy. Lúc anh bị xô qua ngưỡng cửa, sau lưng có tiếng ghế xê dịch ở góc nhà, rồi một giọng nói nhỏ khàn và chậm ghé sát gã cầm đầu. Chữ cuối câu nào cũng kéo dài ra như người quen ra lệnh:
"Dính tới quỷ kiệu, càng dây dưa càng rầy rà. Cứ khép tội cho xong. Kẻ điên từ trên trời rơi xuống, chém rồi cũng chẳng ai tới đòi."
Gã cầm đầu chỉ khẽ dạ một tiếng trong cổ họng, cái tiếng dạ của kẻ dưới nhận lệnh người trên. Hai tên lính kẹp chặt hai bên xô anh ra cửa, nên Trác Vương không kịp ngoái lại, chỉ kịp khắc vào trí nhớ cái giọng khàn khàn ấy. Hẳn bọn họ tưởng kẻ nói năng lơ lớ như anh thì nghe cũng chẳng hiểu mấy, nhưng thứ tiếng này anh đã học suốt những năm tuổi trẻ. Dĩ nhiên chữ "chém" thì ở đâu cũng chỉ có một nghĩa. Thứ khiến anh lạnh người hơn cả một đêm ngồi cạnh xác chết lại là khoảng im lặng sau câu nói ấy, vì không một ai lên tiếng bảo rằng không được.
Được yêu thích bởi: Lôi Hi, 41 Trần Thị Linh Yến, 02. Nguyễn Thị Ngọc Ánh, Diễm Võ, Linh Thuý, Phạm Thị Bảo Ngọc
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.