Quyển 1: Quỷ Kiệu Nghênh Lang
Chương 5: Đêm Kiệu Hoa Kể Lại
Thiên Ngoại Khách Lai: Đại Diễn Sấm
Mục lục
6 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 6/6 chương
"Tôi chỉ dám chắc những gì xảy ra từ lúc mặt đất đập vào vai tôi."
Trác Vương nói.
Trác Vương không định nói dối Bạch Tú Tài. Chỉ là nghề dạy toán đã tập cho anh một nếp là bài nào cũng phải bắt đầu từ điều đã chắc rồi mới lần sang điều chưa rõ, mà những gì có trước cú va ấy thì chính anh còn chưa biết xếp vào đâu. Một ngày ở nơi này cũng đã cho anh hiểu rằng nói ra một điều mình không chứng minh nổi chẳng khác gì tự buộc thêm một vòng thừng vào cổ tay. Ngọn đèn ngoài song cửa lại lụn thêm một nấc, mấy vệt bóng chấn song in trên nền rơm cũng nhạt đi theo.
"Còn trước lúc ấy thì sao?"
Bạch Tú Tài hỏi.
"Chuyện trước lúc ấy thì chính tôi cũng chưa hiểu nổi."
"Vậy thì chuyện trên trời để hôm khác."
Bạch Tú Tài đáp ngay như đã chờ sẵn câu ấy.
"Ta hỏi chuyện dưới đất."
Trác Vương bất giác thấy nhẹ người. Khoảng trống anh chưa biết lấp bằng gì, giờ đã có người chịu để nó trống cùng anh.
"Đêm ấy trời tối như mực."
Bạch Tú Tài hỏi
"Huynh đài lấy gì mà thấy?"
"Bốn góc mái kiệu treo bốn chiếc đèn lồng, còn trong tay tôi có một ngọn đèn."
"Ngọn đèn ấy là cái gương yêu người ta đồn đấy à?"
Trác Vương chọn từng chữ như người bước qua suối trên mấy hòn đá trơn.
"Người ta gọi nó như thế. Đêm qua tôi dùng nó làm đèn."
"Ở đâu lại có thứ đèn không cần dầu mà tự sáng trong tay người cầm?"
"Quê tôi có thứ đèn ấy."
"Nơi đèn tự sáng như thế thì đêm xuống chắc chẳng ai phải sợ tiếng kèn."
Bạch Tú Tài gác chuyện ngọn đèn lại, nhẹ nhàng như lúc nãy gác chuyện trên trời Trác Vương đoán hắn cất cả hai chung một chỗ với cái tên thứ hai hắn vẫn giấu trong tay áo.
"Lúc ấy ngọn đèn rọi vào đâu?"
Bạch Tú Tài hỏi.
"Tôi rọi vào gầm kiệu. Chỗ ấy tối đặc, phải tới lúc ánh đèn chạm vào tôi mới thấy trong đó toàn là người."
"Chúng mặc gì?"
Trác Vương nhắm mắt lại cho hình ảnh ấy hiện về.
"Tôi chỉ kịp thấy ống tay áo đen, còn lúc chúng bỏ chạy thì cả người đen như bóng."
Bạch Tú Tài gõ nhẹ một ngón tay lên đầu gối.
"Kiệu đỏ, đèn lồng đỏ, còn người khiêng kiệu thì mặc đồ đen."
Hắn nói.
"Đứng xa mà nhìn, người ta chỉ thấy một cỗ kiệu tự trôi giữa đường."
"Tôi cũng thấy nó trôi."
Trác Vương nói.
"Cho tới lúc đèn rọi vào."
"Chúng có thấy mặt huynh đài không?"
"Tôi đoán là chúng không thấy. Đèn rọi thẳng vào mắt thì người bị rọi chỉ thấy một vầng sáng, mà chúng lại nheo mắt quay đi ngay."
Bạch Tú Tài khẽ gật đầu và mắt hắn chợt sáng lên. Rồi hắn hỏi dồn, không để khoảng lặng kịp đọng lại.
"Kiệu sơn màu gì? Kiệu ấy mấy người khiêng?"
"Cỗ kiệu sơn đỏ, nước sơn còn mới tới mức tôi đứng sát vào vẫn ngửi thấy mùi. Bọn chúng có năm người gồm bốn người khiêng kiệu, một người ôm kèn."
Bạch Tú Tài dừng lại ở con số ấy lâu hơn cả ở màu sơn.
"Người đang hoảng mà cũng đếm được sao?"
"Tôi đếm lúc chúng bỏ chạy. Gặp chuyện gì tôi cũng đếm trước, đếm xong rồi mới kịp sợ."
"Rước dâu thật thì đâu có ít người như thế."
Bạch Tú Tài nói.
"Trống chiêng đi trước, đèn lồng dẫn đường, chú rể cưỡi ngựa đi đầu, bà mối đi sát bên kiệu, cả đám rước dài hết nửa con phố. Còn đám ấy thì chỉ có bốn người khiêng kiệu với một cây kèn."
Trác Vương nhớ lại cái im ắng của đêm qua. Ngoài tiếng kèn, anh không nghe trống, không nghe chiêng, cũng chẳng nghe ai cười nói như ở bất cứ đám cưới nào anh từng dự.
"Tôi còn thấy một chỗ lạ hơn."
Anh nói.
"Đám rước ấy không có chú rể cưỡi ngựa vì chú rể ngồi ngay trong kiệu."
"Chỗ ấy lát nữa ta nói."
Bạch Tú Tài hơi nheo mắt.
"Một đám rước mà kiệm người tới mức ấy là đám rước không muốn có ai đếm."
"Tôi đếm cả rồi."
Trác Vương nói.
Bạch Tú Tài bật cười thành tiếng rồi vội nén lại, đưa mắt về phía đầu hành lang tối om. Lúc hắn quay lại, khóe mắt vẫn còn cong cong, nhưng câu hỏi thì đã sắc như cũ.
"Chúng có kêu gì không?"
"Ngay trước khi chúng chạy, một giọng đàn ông kêu lên rằng quỷ từ trên trời xuống."
Bạch Tú Tài khẽ giật khóe môi, rõ là vừa nghĩ ra một câu đùa nhưng rồi nuốt nó xuống. Trác Vương không đoán ra câu đùa ấy là gì, chỉ thấy vẻ mặt hắn như người vừa nhặt được một đồng tiền lẻ mà chưa vội tiêu.
"Tiếng kèn từ đâu tới?"
Bạch Tú Tài hỏi.
"Nó vang lên ngay trước kiệu. Lúc ấy tôi chỉ nghe tiếng mà không thấy người. Tới khi chúng bỏ chạy, tôi mới thấy trong năm cái bóng có một cái bóng ôm kèn."
"Kèn tắt lúc nào?"
Câu hỏi ấy kéo tiếng kèn đêm qua về bên tai Trác Vương, réo rắt tới mức anh rụt cổ lại.
"Ngay lúc ánh đèn của tôi quét tới gầm kiệu, nó rít lên một tiếng rồi đứt ngang, như có ai bịt miệng người thổi kèn."
"Trước đó, điệu kèn ra sao?"
Bạch Tú Tài hỏi, giọng nhẹ hẳn đi, như hỏi một chuyện chẳng mấy quan trọng.
"Điệu ấy chỉ có ba câu, cứ quay vòng mãi và câu cuối lần nào cũng vút lên như tiếng cười."
Bạch Tú Tài nhắc lại mấy chữ ấy thật chậm như người nếm lại một vị quen.
"Đêm qua ta cũng nghe điệu ấy từ xa."
Hắn nói.
"Nó cất lên ngay khi trống chiều vừa dứt, lượn suốt canh một, canh hai, tới giữa canh ba thì tắt ngang giữa một câu."
Trác Vương ngồi im một lúc. Cả đêm qua anh không biết mình rơi xuống vào canh nào, chỉ biết rất lâu sau đó mõ cầm canh mới gõ bốn tiếng một. Giờ thì anh đã có mốc rồi. Sau đó anh nhận ra thêm một điều.
"Anh vừa hỏi tôi một câu mà anh đã biết lời đáp."
Trác Vương nói.
"Người ra đề nào mà chẳng biết trước lời giải."
Trác Vương biết rõ lối ra đề ấy. Chính anh vẫn dùng nó mỗi khi có đứa học trò nộp một bài giải gọn gàng quá mức: hỏi lại một bước mà thầy đã biết chắc lời đáp, để xem bài do chính tay đứa ấy làm hay chép của ai. Anh biết thế vậy mà lòng vẫn chùng xuống một chút. Người đầu tiên hỏi anh đã thấy gì, hóa ra cũng là người đầu tiên đem anh ra khảo bài.
"Anh muốn biết tôi là người thấy hay là người làm."
"Ngồi chung buồng với kẻ bị bắt ngay cạnh một cái xác, người nào mà chẳng muốn biết?"
"Tôi sẽ hỏi kỹ hơn anh."
Bạch Tú Tài lại cười, lần này không cần nén.
"Vậy thì tiên sinh mới đỗ nửa bài."
Trác Vương cũng cười theo và lòng anh nhẹ đi quá nửa. Ít ra, Bạch Tú Tài coi anh là người đủ sức để thử, chứ không cười ồ lên như với một kẻ điên.
"Đêm ấy anh nghe tiếng kèn ở đâu?"
Trác Vương hỏi.
"Ta nghe ở một phường thị đủ xa để khỏi phải mở cửa."
Bạch Tú Tài nhướng mày.
"Huynh đài cũng ra đề cho ta đấy à?"
"Tôi chỉ chấm lại bài của người vừa chấm bài tôi. Còn nửa bài kia thì sao?"
"Nửa bài kia là những câu chính ta cũng chưa có lời giải."
Bạch Tú Tài ngả người ra sau và giọng hắn không còn là giọng của người ra đề nữa.
"Người ta đồn chú rể chết mà miệng vẫn cười. Chuyện ấy có thật không?"
Trác Vương kéo thêm một ôm rơm phủ lên chân vì hơi rét đầu xuân từ nền đất cứ ngấm dần lên, buốt tới tận cổ chân.
"Lời đồn ấy chỉ trúng một nửa."
Anh nói.
"Miệng chú rể cười thật nhưng mắt thì không cười. Tôi đặt tay lên cổ người ấy mà đếm, đếm tới hai mươi vẫn không thấy mạch."
"Người ta chạm vào xác thì run tay."
Bạch Tú Tài nói.
"Huynh đài lại đếm."
"Đếm thì tay đỡ run."
Trác Vương ngừng một nhịp rồi kể nốt phần còn lại gồm làn da còn ấm, hơi rượu nồng trong kiệu, cổ tay áo lót sờn chỉ, lấm mực, thò ra dưới bộ áo cưới mới tinh.
"Cái dáng ưỡn cong của người ấy gợi cho tôi một trang sách từng đọc, nhưng tới giờ tôi vẫn chưa lần ra trang ấy."
"Hơi rượu ấy ở áo hay ở miệng?"
"Tôi không ghé sát miệng người chết. Tôi chỉ biết cả lòng kiệu nồng mùi rượu."
"Hai chỗ ấy khác nhau thế nào, tiên sinh đã dạy ta rồi."
Bạch Tú Tài liếc xuống vạt áo trắng nồng rượu của chính mình.
"Xác thì không chạy đi đâu được. Trang sách ấy rồi sẽ tự tìm về."
"Tôi còn một chuyện nữa."
Trác Vương nói.
"Ngay chỗ tôi ngã có một chiếc hài thêu đỏ của đàn bà. Tôi soi khắp cả đoạn đường mà chỉ thấy mỗi một chiếc ấy. Đế nó sạch như chưa từng chạm đất."
"Hài mới thì đế sạch."
Bạch Tú Tài nói mà không cần nghĩ.
"Hài mới thì phải có đôi."
Trác Vương nhìn xuống nền rơm như thể chiếc hài vẫn nằm đâu đó dưới chân mình.
"Trong năm cái bóng bỏ chạy, tôi không thấy dáng đàn bà nào. Tới sáng, sương phủ trắng cả lên chiếc hài, mà nó vẫn nằm yên ở đó, mũi hài chĩa về phía kiệu."
Bạch Tú Tài không đáp ngay. Bên kia tường, tiếng mõ cầm canh đổi sang nhịp hai tiếng một, rời rạc như người gõ cũng đang ngần ngừ. Trong khoảng lặng ấy, Trác Vương nhận ra đây là lần đầu kể từ lúc Bạch Tú Tài bắt đầu hỏi, hắn để một câu của anh rơi xuống mà không nhặt lên.
"Chiếc hài ấy, ta chưa có lời giải."
Bạch Tú Tài nói.
Trác Vương để câu ấy lắng xuống rồi mới kể tiếp.
"Tôi có gõ một cánh cổng lớn dựng lầu canh ở gần đó hai lượt, mỗi lượt ba tiếng. Một ông già sau cổng xin tôi đi cho rồi niệm Phật. Tôi gõ thêm lượt nữa, ông chỉ niệm gấp hơn. Tới lúc hồi trống rạng sáng đã dứt, cổng ấy vẫn không mở."
"Nghe kèn thì cả kinh thành cài then."
Bạch Tú Tài nói.
"Ma tới gõ cổng phường thị thì lại càng chẳng ai dám mở."
"Tôi đành quay về ngồi cạnh kiệu mà chờ lính tuần. Suốt từ đó tới gần sáng, tôi không thấy một ngọn đuốc nào."
"Cả đêm không một toán lính tuần nào đi qua?"
Bạch Tú Tài hỏi lại, chậm hơn hẳn mọi câu trước.
"Tôi thức trọn đêm, ngồi đếm mấy ngọn đèn lồng trên kiệu tắt dần từng ngọn, nên tôi dám chắc như thế."
Bạch Tú Tài không hỏi tiếp. Hắn ngồi im, mắt nhìn ra ngọn đèn đang lụn dần ngoài song cửa, lâu tới mức Trác Vương tưởng hắn quên mất mình đang hỏi dở. Với chiếc hài, hắn đã thẳng thắn nhận là mình chưa biết. Với đoạn đường không một bóng đuốc, hắn không nhận gì cả.
"Rạng sáng thì sao?"
Bạch Tú Tài hỏi, giọng vẫn đều đều.
"Rạng sáng tôi nghe tiếng chân, còn tưởng bọn khiêng kiệu quay lại, hóa ra đó là một toán lính tuần có đuốc, có giáo. Người cầm đầu vén rèm nhìn vào kiệu, lúc quay ra thì mặt cắt không còn giọt máu, miệng lẩm bẩm một câu."
"Trước giờ chỉ nghe mất người, lần này nó để lại xác."
Bạch Tú Tài đọc trơn tru câu ấy, không sót một chữ.
"Đoạn sau thì cả dãy phố đã kể cho ta nghe rồi."
"Vậy giờ tới lượt anh kể."
Bạch Tú Tài không kể bằng giọng thong thả của người kể chuyện, mà bằng giọng của người đọc một tờ cáo thị, câu nào cũng gọn và lạnh.
"Người ta gọi nó là quỷ kiệu. Đêm giới nghiêm, tiếng kèn rước dâu vọng tới, một cỗ kiệu hoa đỏ lướt qua đại lộ vắng. Ai nghe kèn mà mở cửa thì bị tân nương áo đỏ bắt về làm chồng. Giờ thì khắp kinh thành, trẻ con nhà nào cũng thuộc lòng một câu: nghe kèn thì đừng mở cửa."
Trác Vương nghĩ tới người ngồi trong kiệu đêm qua. Tân nương đi rước chồng thì chú rể ngồi kiệu là phải lẽ, nên chỗ sai lệch từng làm anh ngờ ngợ, giờ đã có truyền thuyết lấp vào gọn như một mảnh ghép. Mảnh ghép ấy vừa khít tới mức anh thấy gờn gợn, như khi gặp một lời giải đẹp quá mà mình chưa kịp thử lại.
"Có ai mở cửa thật không?"
Trác Vương hỏi.
"Mùa thi này đã có sáu người mở cửa. Cả sáu đều là sĩ tử lên kinh chờ thi. Cả sáu đi rồi không về, sống không thấy người, chết không thấy xác."
Trác Vương lặng người. Anh nghĩ tới sáu người trẻ ôm sách lên kinh và sáu mái nhà nào đó ở quê vẫn đang ngóng thư.
"Sao anh biết?"
Trác Vương hỏi.
"Cả kinh thành đều biết."
Trong giọng Bạch Tú Tài thoáng ý trêu.
"Chỉ có huynh đài là chưa kịp biết."
"Đã có ai thấy mặt tân nương chưa?"
"Người thấy thì đã không về mà kể."
Trác Vương kéo cổ áo lên, dù trong buồng chẳng có ngọn gió nào.
"Vậy tân nương ấy là ai?"
"Gốc tích nàng thì dài lắm."
Bạch Tú Tài nhún vai, nhường hẳn phần ấy cho người khác.
"Ông kể chuyện nào ngoài quán trà cũng kể được trọn một buổi, lại kể hay hơn ta nhiều."
"Nếu còn ra được khỏi đây, tôi sẽ đi nghe cho trọn."
Bạch Tú Tài nhổm người về phía trước, mặt vẫn quay ra cửa như mọi lần.
"Sáu lần trước, kiệu đi qua rồi chẳng để lại gì. Đêm qua nó để lại một cái xác, một chiếc hài và một người ngồi canh bên xác tới sáng."
Hắn quay sang nhìn Trác Vương.
"Cả mùa thi này, huynh đài là người duy nhất thấy quỷ kiệu mà còn ngồi đây kể lại."
Trác Vương còn đang tìm lời đáp thì từ phía đầu nhà ngục vọng vào mấy tiếng gõ cổng nặng và dồn dập. Tim anh đập gấp hơn, dù anh chưa có lý do gì để nghĩ chuyện ấy liên quan tới mình. Then cổng kéo ra khô khốc. Có người trao đổi mấy câu trầm và ngắn, xa quá nên anh không nghe ra chữ nào, rồi cổng lại đóng sập. Ở mấy buồng xa, tiếng ngáy ngừng bặt. Bạch Tú Tài nghiêng đầu về phía ấy, im phăng phắc.
Rồi chùm chìa khóa bắt đầu lách cách, mỗi lúc một gần. Ánh đèn chưa tới nơi, góc buồng bên kia đã sột soạt tiếng rơm. Lúc vầng sáng chập chờn hắt qua song cửa, Bạch Tú Tài đã đổ nghiêng trên đống rơm, má áp lên cánh tay, miệng lầm bầm gọi bầu rượu của mình.
Lão cai ngục dừng lại trước song cửa, tay xách một ngọn đèn dầu khác, vành khăn quấn đầu lẫn vào bóng tối. Lão liếc lên ngọn đèn treo trên cột cửa. Ngọn lửa đã co lại chỉ còn bằng hạt thóc, vậy mà lão không châm thêm dầu. Ánh đèn lão xách lướt qua chiếc bát sành mẻ miệng vẫn nằm sát chân vách, lướt qua góc buồng có người đang lầm bầm, rồi dừng lại trên mặt Trác Vương. Nó chói tới mức trong một thoáng anh chỉ còn thấy một vầng sáng.
"Trên kia vừa sai người tới dặn."
Lão cai ngục nói.
"Sáng mai, kẻ từ trên trời rơi xuống sẽ bị đem ra tra khảo."
Trong góc buồng, Bạch Tú Tài trở mình, lè nhè ngâm một câu nghe như hát:
"Phỉ kê tắc minh, thương dăng chi thanh..."
Trác Vương chỉ nghe lõm bõm ra chữ gà, chữ nhặng, đủ đoán câu ấy bảo rằng tiếng kia chẳng phải gà gáy, đó chỉ là tiếng nhặng xanh. Anh không biết nó ở sách nào, cũng không biết kẻ say đang mắng lão cai ngục hay đang tự ru mình ngủ tiếp.
Trác Vương mở miệng định hỏi rồi thấy cổ họng khô rát, chẳng biết nên hỏi điều gì trước. Lão cai ngục không quay về phía góc buồng ấy, cũng không nói thêm lời nào. Lão xách đèn đi ngược ra gian đầu, tiếng chìa khóa nhỏ dần theo bước chân lão.
Lão vừa khuất, Bạch Tú Tài đã ngồi dậy, không còn chút men say nào.
"Gà còn chưa gáy đâu."
Hắn nói khẽ.
Trác Vương không đáp. Anh nhìn xuống đôi bàn tay vốn chỉ quen cầm phấn, nơi cổ tay vẫn còn hằn vết thừng. Chữ tra khảo thì anh hiểu, vì trong những cuốn sách sử anh từng đọc, nó thường đứng ngay trước mấy chữ khai nhận, cam tội. Mõ cầm canh bên kia tường vẫn gõ từng cặp hai tiếng. Anh nhẩm theo thói quen: hết canh hai này, còn canh ba, canh tư, rồi tới canh năm mới có hồi trống lúc rạng sáng.
Xưa nay Trác Vương vẫn đếm cho tay đỡ run, vậy mà đêm nay anh càng đếm lại càng thấy lạnh.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.