Quyển 1: Quỷ Kiệu Nghênh Lang
Chương 13: Đôi Ủng Đinh Đồng
Thiên Ngoại Khách Lai: Đại Diễn Sấm
Mục lục
13 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 13/13 chương
Trác Vương vuốt nước dăm bào lên mái tóc ngắn, lấy cái lược thưa chải dồn hết lên đỉnh đầu, rồi úp cái cốt lên trên, đi ngược lại đúng các bước đêm qua anh đã tháo. Trong phòng còn tối nên anh làm bằng tay theo cách tự dò và mới tự đội tới lần thứ ba mà mười ngón tay đã biết đường đi cả. Anh đẩy cây trâm xuyên qua búi tóc giả, xuống tận chân tóc thật và da đầu lại căng lên như mọi lần. Trác Vương quấn dải khăn đen hai vòng quanh đầu, kéo cho khăn phủ hết mép tóc quanh hai bên tai và sau gáy, rồi vòng tay ra sau mà thắt nút.
Hồi trống sáng dứt chưa được bao lâu, ngoài sân đã có tiếng dây gầu cọ vào thành giếng. Còn ở phòng sát vách, người đêm qua đọc sách trong tối giờ lại ê a, lần này to hơn một chút. Trác Vương vừa thắt xong nút khăn thì từ đầu ngõ vọng vào một giọng ngâm nghêu ngao, kéo dài và lè nhè, giọng mà anh nhận ra ngay giữa bao nhiêu tiếng động buổi sớm của dãy trọ:
"Đông phương vị minh, điên đảo y thường..."
Lần này Trác Vương không phải nghe lõm bõm như với câu thơ gà gáy trong ngục. Mấy chữ điên đảo với y thường thì tới thời anh người ta vẫn còn nói hằng ngày. Nên câu ấy lọt vào tai anh trọn vẹn: phía đông trời chưa sáng mà áo xống đã mặc lộn ngược cả rồi. Trác Vương bất giác cúi nhìn vạt áo mình, thấy dây buộc vẫn nằm ngay ngắn bên sườn phải, rồi mới bật cười vì chính cái cúi đầu ấy. Anh đoán Bạch Tú Tài đang tự giễu mình, vì phương đông còn chưa rạng mà hắn đã lặn lội đi gõ cửa nhà người.
Trác Vương ghé ra ô cửa sổ. Bà chủ trọ đang đứng bên giếng, hai tay còn níu sợi dây gầu, dõi theo cái bóng áo trắng lảo đảo băng qua sân như nhìn một đám lá khô gió cuốn vào nhầm cửa. Bạch Tú Tài dừng lại vái bà một vái sâu tới mức suýt chúi đầu vào thành giếng. Còn bà chẳng nói câu nào, chỉ kéo vội gầu nước lên rồi xách nó đặt sang một bên, cho xa chân hắn. Đứng thẳng người lên, Bạch Tú Tài mới ôm bầu rượu đi tiếp dọc hàng hiên, miệng vẫn ngân nốt câu thơ.
Cánh cửa phòng cuối rung lên dưới mấy tiếng gõ lộn xộn chẳng theo nhịp nào. Rồi giọng Bạch Tú Tài nhừa nhựa sát ván cửa, xin chủ nhà cho kẻ say vào ngồi nhờ một lát. Trác Vương rút then. Bạch Tú Tài loạng choạng bước qua ngưỡng, quay lưng lại khép cửa. Lúc hắn quay mặt vào thì đôi mắt đã tỉnh như chưa từng nhấp một ngụm rượu nào.
Bạch Tú Tài chưa vội ngồi. Hắn đứng giữa phòng, đưa mắt một lượt từ cái búi trên đầu Trác Vương xuống cây đèn dầu còn nằm dưới nền nhà, nấp sau chân án thư, rồi sang cái tráp sách trong góc. Trác Vương nhận ra cái nhìn ấy, vì hôm trong ngục hắn cũng đã lướt qua người anh đúng như thế, từng chỗ một.
"Búi tóc huynh tự đội lấy mà vẫn ngay ngắn."
Bạch Tú Tài nói khẽ.
"Thắp đèn mà phải giấu sau chân án thư là sợ ánh lửa lọt ra cửa sổ, còn đĩa đèn khô tới đáy là nó đã cháy tới giọt dầu cuối cùng. Nắp tráp kia thì sạch hơn hẳn mọi thứ trong góc, vì có người đã phủi bụi đi mà mở. Tìm được tên chưa?"
"Chưa."
Trác Vương đáp. Đó là lời thật: đêm qua anh đã lật hết những gì người ấy để lại mà không gặp một cái tên nào.
"Tên thì không thấy nhưng tôi lại nhớ ra một thứ khác."
Bạch Tú Tài kéo cái ghế đẩu kê vào sát góc phòng cho mặt nhìn thẳng ra cửa, rồi mới ngồi xuống và đặt bầu rượu dưới chân. Trác Vương ngồi ghé mép giường tre đối diện hắn. Bên kia vách, người đọc sách đã sang một đoạn khác, giọng đều đều như nước chảy qua máng, nên hai người phải nói nhỏ hơn cả giọng ấy.
"Trong ngục, anh hỏi tôi bọn khiêng kiệu mặc gì."
Trác Vương nói.
"Tôi bảo lúc chúng chạy thì người nào cũng đen như bóng."
Trác Vương ngừng lại một nhịp như mỗi lần phải tự xóa một chỗ mình viết sai trên bảng trước mặt cả lớp.
"Bài ấy tôi nộp cho anh còn sót một dòng. Đêm kiệu tới, tôi đếm người, đếm đèn lồng, đếm cả tiếng mõ, vậy mà tiếng chân thì tôi nghe rồi để đó, không đếm."
Bạch Tú Tài không cười, cũng không giục. Hắn chỉ khẽ nghiêng đầu mà chờ, hai bàn tay úp trên đầu gối.
Trác Vương tuốt một đồng tiền khỏi dây xâu trong cái túi trên án thư, dựng nghiêng lên, gõ mép nó mấy cái xuống mặt cái nghiên đá Bạch Tú Tài mua cho anh hôm qua. Tiếng gõ khô và sắc, lách cách, nhỏ thôi mà vẫn rõ, lấn được cả giọng đọc sách vọng sang từ phòng bên.
"Đêm ấy, lúc chúng bỏ chạy, gót ủng nện trên mặt đường thành đúng tiếng này."
Trác Vương nói.
"Da gõ lên đá thì không kêu được như thế. Phải có sắt hay đồng chạm vào đá mới ra tiếng ấy."
Ngoài ô cửa sổ, trời đã ngả từ xám sang trắng. Trác Vương xoay đồng tiền ra phía ấy cho mặt đồng ánh lên một sắc vàng xỉn.
"Còn đây là màu của nó."
Anh nói.
"Mỗi lần đèn trong tay tôi quét theo bọn chúng, dưới chân lại lấp lánh mấy đốm vàng, vàng đúng như thế này. Tôi đoán chúng đi ủng da đen có đóng đinh đồng."
Bạch Tú Tài nhìn đồng tiền lâu hơn cả lúc nhìn cái tráp. Hắn ngồi yên tới mức vạt áo trắng không xê lấy một nếp. Trác Vương đoán đó là cái yên của người vừa nghe đúng điều mình chờ đã lâu, chứ không phải của người đang suy nghĩ.
"Đốm vàng ấy ở gót hay ở mũi ủng?"
Bạch Tú Tài hỏi.
"Mũi ủng thì tối, chỉ có gót là lóe lên."
Trác Vương đáp.
"Vì người bỏ chạy thì gót cứ hất lên ngay trước ngọn đèn."
Bạch Tú Tài hỏi tiếp, mắt không rời đồng tiền:
"Tiếng ấy là lúc chúng chạy, hay lúc chúng còn khiêng kiệu đi tới?"
"Chỉ khi chúng đã vứt kiệu lại mà tháo chạy."
Trác Vương nói.
"Lúc kiệu còn tới gần, trong tai tôi chỉ có tiếng kèn."
Bạch Tú Tài buông một hơi thở rất dài, như người vừa đặt xuống được một gánh nặng đã mang suốt mấy ngày mà chẳng dám kêu.
"Giữa lúc hỗn loạn như thế mà huynh còn nhớ được đinh nằm ở gót."
Hắn nói.
"Ủng quân Kim Ngô."
Trác Vương lục lại mọi điều mình đã nghe từ hôm rơi xuống tới nay mà không gặp hai chữ ấy ở đâu cả.
"Kim Ngô là quân nào?"
"Là quân giữ đêm cho cả kinh thành này."
Bạch Tú Tài đáp.
"Từ lúc trống chiều dứt tới lúc trống sáng dứt, ngoài lính Kim Ngô ra không ai được đặt chân xuống đường. Đêm nào họ cũng đi tuần trên mặt đá, nên gót ủng nào cũng đóng đinh đồng cho khỏi mòn."
Bạch Tú Tài đỡ lấy đồng tiền trong tay Trác Vương và gõ thử xuống mặt nghiên đá một lần, nghiêng tai nghe cho trọn tiếng, rồi mới đặt nó xuống cạnh túi tiền trên án thư.
"Tối hôm kia, cậu lính giải ta vào ngục đi sát bên ta suốt hai con phố."
Hắn nói.
"Ta ngả đầu lên vai cậu ấy mà nghe gót ủng của cậu gõ xuống đá, bước nào cũng đúng cái tiếng huynh vừa gõ."
"Sáng hôm ấy, cả một toán lính đi tới chỗ tôi."
Trác Vương nói.
"Mà tôi chỉ nghe ra tiếng rầm rập."
"Cả toán bước một lượt thì gót người này lấp gót người kia, thành ra chỉ còn một tiếng rầm rập,"
Bạch Tú Tài đáp.
"Một người đi riêng, hay mấy người chạy tán loạn, thì gót nào gõ riêng gót ấy."
Trác Vương bỗng thấy lạnh gáy. Rạng sáng hôm ấy, mũi giáo kề sát cổ, anh đã quỳ sụp trong một vòng ủng da đen. Ánh đuốc chao trên đầu, mắt cúi xuống chỉ thấy những mũi ủng lấm sương và chưa từng nghĩ tới gót của chúng. Anh không thấy gót, cũng không nghe ra tiếng đinh, vậy mà giờ anh biết những đôi ủng đứng vây quanh mình lúc tảng sáng cũng là thứ ủng đã bỏ chạy khỏi mình lúc nửa đêm.
"Lính Kim Ngô mặc áo nâu."
Bạch Tú Tài nói.
"Cái màu đen huynh thấy dưới gầm kiệu thì chỉ cần một lớp áo khoác ra ngoài, cởi ra trong một hơi thở là xong. Áo thì chúng thay, còn ủng thì chúng giữ."
"Đã chịu khó khoác áo đen cho khuất bóng."
Trác Vương hỏi.
"Sao lại không thay nốt đôi ủng?"
"Vì đêm ấy chúng vẫn đang đi tuần."
Bạch Tú Tài đáp ngay, rồi hạ giọng thêm một chút, vì người hàng xóm sát vách vừa ngừng đọc để lấy hơi.
"Khiêng xong kiệu, lỡ gặp người trên đi soát thì chỉ cần cởi lớp áo đen, chúng lại thành một toán lính tuần đang làm đúng phận sự. Đổi cả ủng thì tới lúc phải làm lính lại, chúng lấy gì mà đi?"
Trác Vương thử bẻ câu ấy từ phía ngược lại, theo cái nếp chưa chịu tin một lời giải khi chưa xét hết các đường khác.
"Biết đâu có kẻ mua lại ủng lính mà đi, cho người ta tưởng mình là lính?"
"Ủng thì mua được."
Bạch Tú Tài nói.
"Còn quyền đi lại giữa giờ giới nghiêm thì chẳng ai bán."
Trác Vương nghĩ tới tiếng kèn mà Bạch Tú Tài từng tả cho anh nghe, nổi lên từ lúc trống chiều vừa dứt và lượn suốt hai canh. Rồi anh nhẩm tới sáu đêm trước đó, đêm nào kèn cũng vọng khắp mấy phường mà chưa từng có ai bắt được một cỗ kiệu. Cái may của cả bảy đêm là tích của phần may từng đêm. Mà cho dù mỗi đêm may được một nửa, bảy cái một nửa nhân với nhau cũng chỉ còn chưa tới một phần trăm, thứ con số chẳng thầy toán nào dám đặt cược vào.
"Một đêm thì còn gọi là may được."
Trác Vương nói.
"Bảy đêm đều may thì không còn là may nữa."
"Không phải may."
Bạch Tú Tài nói.
"Lúc trong ngục, huynh bảo ta từ khi ngồi xuống cạnh kiệu tới lúc trời gần sáng, khúc đường ấy chẳng có lấy một ánh đuốc."
"Anh hỏi lại câu ấy chậm hơn mọi câu khác hôm ấy."
Trác Vương nói.
"Rồi anh lặng đi một lúc lâu."
Bạch Tú Tài gật đầu rất khẽ, như người ra đề hài lòng khi học trò chỉ ra đúng chỗ mình cố ý bỏ trống.
"Quân tuần không đi lung tung khắp thành. Mỗi toán giữ một khúc đường, đêm nào cũng khúc ấy, có cả những chỗ hẹn nhau giữa chừng. Gã cầm đầu toán bắt ta, lúc sai cậu lính ấy giải ta về ngục, còn dặn cậu ta quay lại tìm cả toán ở ngã tư có cây hòe."
Trác Vương nhìn xuống nền nhà. Khúc đại lộ đêm ấy trở về trước mắt anh: hai bức tường đất chạy dài, cỗ kiệu đỏ nằm nghiêng giữa đường, còn anh ngồi co gối cạnh kiệu, mắt dõi về hai đầu đường chờ một ngọn đuốc. Khi ấy anh chỉ lấy làm lạ vì chẳng thấy ai đi tuần, chứ chưa từng nghĩ tới chuyện lính tuần của khúc đường ấy đang ở đâu.
"Khúc đại lộ ấy cũng có một toán giữ."
Bạch Tú Tài nói, giọng trầm xuống.
"Đêm ấy nó vắng đuốc vì chính bọn giữ nó đang ở dưới đòn kiệu, rồi đang chạy tán loạn. Rạng sáng đổi phiên, một toán khác đi qua mới thấy huynh."
Bạch Tú Tài nhìn ra cánh cửa đã khép kín.
"Cả thành cài then cho khỏi phải thấy ma, mà then cài càng chặt thì khúc đường của ma càng vắng."
Trác Vương ngẩng lên.
"Lúc hỏi lại tôi chậm như thế, anh đã nghĩ ra điều này rồi."
"Nghĩ ra thì có."
Bạch Tú Tài đáp.
"Vậy sao anh không nói?"
Bạch Tú Tài cúi nhặt bầu rượu dưới chân lên, xoay xoay mà không mở nút.
"Ta đã ngờ từ trước khi bước vào ngục kia."
Hắn nói.
"Nhưng ngờ mà chưa có chứng thì nói ra chỉ là đổ tiếng xấu cho người. Lúc ấy ta mới có một câu hỏi, còn huynh thì có chứng trong tay mà chưa biết là mình có."
Nghe vậy, Trác Vương đoán thêm được một điều. Một người đã ngờ quân tuần từ trước thì chẳng thể mang cái tên mình vẫn giấu mà đường hoàng tới hỏi chuyện. Nên hắn mới phải vào bằng vai một kẻ say ngâm thơ giữa phố, để chính lính tuần giải tới tận chỗ nhân chứng bị giam. Trác Vương không nói điều ấy ra. Bạch Tú Tài đã thấy anh khắc chữ ma lên vách mà không hỏi lấy một câu về nó, thì giờ anh cũng chẳng cần hỏi hắn đã vào ngục bằng cửa nào.
Trác Vương suýt buột miệng bảo phải đi báo quan ngay, đúng cái nếp của người ở thế giới cũ, nơi gặp chuyện chỉ cần bấm ba con số là có người mặc sắc phục tới. Lời vừa tới đầu lưỡi thì anh ngậm lại vì chưa nghĩ ra nên báo cho ai.
"Hôm qua ông già gác cổng ngồi kể với hàng phố rằng con ma lơ lớ đêm ấy bảo ông đi báo quan."
Bạch Tú Tài nói, khóe miệng giật lên một cái.
"Giữa giờ giới nghiêm, ông ấy mà chịu mở cổng làm theo lời nó, thì huynh đoán người đầu tiên ông gặp ngoài đường là ai?"
"Toán lính tuần giữ khúc đường ấy."
Trác Vương đáp và nghe giọng mình khô hẳn đi.
"Tức là chính bọn vừa bỏ kiệu giữa đường."
Bạch Tú Tài nói nốt cái ý Trác Vương chưa nỡ thốt ra, bình thản như đọc lại một dòng trong sổ sách.
"Vậy thì chỉ cần biết đêm hai mươi chín toán nào đi tuần ở đó."
Trác Vương nói.
"Biết thì dễ, một câu hỏi ở trại lính là ra."
Bạch Tú Tài nói.
"Có điều hỏi xong thì cả trại lính biết đang có người hỏi. Lính ăn lương để đi tuần, chẳng ai đi khiêng kiệu ma không công, nên có bắt được năm kẻ đêm ấy thì người trả tiền cho chúng cũng chỉ việc thuê năm kẻ khác."
Bạch Tú Tài nhìn Trác Vương một lúc lâu và lần này hắn không cười.
"Từ giờ, chuyện đôi ủng huynh đừng kể với ai."
Hắn nói.
"Đêm ấy cả kinh thành chỉ có một người thấy được gót chúng, mà người ấy đang ngồi trước mặt ta."
Trác Vương nghe lời dặn ấy nặng hơn mọi điều nãy giờ, dù Bạch Tú Tài chỉ nói nhỏ. Anh nghĩ tới khúc đại lộ có toán ấy giữ, nằm ngay bên ngoài cánh cổng phường này, cánh cổng anh đã gõ đêm ấy và sáng qua theo người thư lại già bước vào: đêm nào chúng cũng đi ngang qua đó. Đêm qua, lúc anh giấu ngọn đèn sau chân án thư, có lẽ chúng đang đi tuần ngoài kia, chỉ cách anh mấy lớp tường.
"Hôm qua anh bảo tôi có bị xử đâu mà làm cùng."
Trác Vương nói, cố cho giọng mình nhẹ lại.
"Thì hôm nay huynh có việc rồi đấy."
Bạch Tú Tài cười, đặt bầu rượu xuống chân ghế.
"Việc vặt của ta làm xong là thôi, còn việc của huynh thì chẳng bao giờ xong."
Trác Vương phải nén tiếng cười xuống cho khỏi lọt sang phòng bên. Anh chợt nghĩ từ ngày tới chốn này, người ta chỉ toàn đem anh giao cho kẻ khác, còn sáng nay thì có người giao việc cho anh. Người đọc sách ở phòng ấy đã thôi đọc từ lúc nào chẳng hay. Ngoài ô cửa sổ, nắng sớm đã chạm tới mái dãy trọ bên kia sân.
Bạch Tú Tài ngẩng nhìn vệt nắng ấy, rồi quay lại.
"Khiêng kiệu, thổi kèn thì lính làm được."
Hắn nói.
"Còn cái cười trên mặt người chết thì lính học ở đâu ra?"
Trác Vương không đáp được ngay. Anh nhớ lại cái dáng ưỡn cong như dây cung bị kéo căng của người trong kiệu, hai khóe môi toác ra trong khi đôi mắt trừng trừng chẳng cười. ANh nhớ cả trang sách cứ lẩn đi mỗi lần anh định lần tới. Ba hôm nay anh đã nghĩ về bọn khiêng kiệu, về chiếc hài, về cái tên của mình trong biên bản, mà chưa một lần nghĩ cho trọn về chính người mình đã ngồi canh tới sáng.
Ma đã thành người, người đã thành lính, vậy mà chú rể ngồi chết trong kiệu đêm ấy vẫn cười y như trong một chuyện ma. Lần đầu tiên câu hỏi trong đầu Trác Vương không còn là ai đã khiêng người ấy đi, mà là người ấy đã chết bằng gì.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.