Một Thoáng Nhân Gian

Chương 10: Khoa Trường Áo Vải

Đăng: 18/09/2026 16:25 3,724 từ 75 lượt đọc

Bản thu tác giả

Đăng nhập để nghe bản thu

Nghe playlist liên tục

Đoàn người dạt về kinh đông nghìn nghịt, chân giẫm lên lớp đá dăm lạo xạo. Vọng Thư theo dòng người lách qua cánh cửa nách thành Tây khi ráng chiều vừa tắt. Bên trong thành, đường lát đá xám rộng thênh thang nghẽn lối bởi những cỗ xe ngựa sơn son thếp vàng của quan lại quyền quý. Tiếng lục lạc bạc leng keng, rèm lụa buông kín phả ra mùi trầm hương đắt tiền quyện lẫn tiếng cười lả lơi của những ả đào hát. Bánh xe bọc sắt gõ cồm cộp trên mặt đá, hất tung những vũng nước đục ngầu sang hai bên bờ tường. Những cỗ xe ngựa chở đầy thịt quay cùng các vò rượu niêm sáp thơm phức nối đuôi nhau tiến về phía các tửu lầu treo đèn kết hoa rực rỡ.

Trái ngược với cảnh xa hoa ấy, ngay sát chân tường đá rêu phong, đám lưu dân đói rách nằm ngồi la liệt giữa đống rác rưởi. Một cái xác chết đói co quắp quấn manh chiếu rách bốc mùi tử khí ngai ngái, ruồi nhặng bu kín mà mấy tên tuần đinh vác giáo đi qua chỉ lấy mũi ủng hất sang mé rãnh cống ngập rác.

Ngay cạnh xác chết, một đứa nhỏ ăn xin gầy trơ xương ngồi bới trong đống lá thối tìm mẩu bắp lép. Bùn đất từ cỗ xe ngựa vừa phóng qua bắn trúng mặt và vạt áo tả tơi của nó. Đứa nhỏ đưa bàn tay khẳng khiu bẩn thỉu quệt vội vệt bùn đen trên mi mắt. Vọng Thư nép vạt áo thô vào bờ đá, tránh vệt nước bẩn bắn trúng ống chân. Hắn dừng chân trước đứa bé, thò tay vào đãy vải móc ra nửa chiếc bánh bắp nướng khô khốc còn sót lại từ sáng, chìa ra trước mặt nó. Đứa nhỏ mắt đờ đẫn giật lấy nửa miếng bánh, nhét tọt vào mồm nhai ngấu nghiến không nói một lời cảm ơn, hai hàm răng va vào nhau run lẩy bẩy. Vọng Thư không nói gì, rút tay về rồi lẳng lặng hòa vào dòng người tìm chỗ ngả lưng.

Hắn tìm đến một gian miếu hoang rêu phong sụp nửa mái ngói bên con rạch cạn ngoài rìa thành Tây.

Nền gạch nung nứt toác phủ đầy rêu trơn, những chỗ gạch vỡ trơ ra lớp bùn đất nhớp nháp nước mưa rỉ từ kẽ ngói thủng xuống. Bệ thờ gỗ mục gãy một bên chân, trơ trọi cái lư hương sành mẻ góc chứa đầy tàn tro vón cục. Hắn gom đống rơm khô dạt bên góc tường lót lên mấy phiến gạch vỡ làm chỗ ngả lưng, đặt cái đãy vải cũ dưới đầu gối giữ chặt.

Sáng sớm, khi chuông canh trên chòi thành vừa điểm một hồi dài, hắn khoác đãy vải ra ngồi ké mép thềm đá một sạp đồ khô ở chợ Tây. Hắn bày phiến đá nhẵn kê làm bàn, đặt thỏi mực mài từ lọ nghẹ trộn keo da trâu và mấy tờ giấy bồi vàng khè.

Ai cần viết gì hắn nhận nấy. Bà lão bán cá mòi trả hắn ba củ khoai mài luộc dính đầy cát để nhờ biên một tờ giấy nợ vài trăm đồng kẽm cho đứa cháu ngoài bến. Một gã lái heo nhờ viết cái khế ước mua đàn heo thiến, ném cho hắn nắm bắp rang khô khốc bọc trong mảnh lá chuối rách. Hắn gom từng mẩu thức ăn vụn nhét vào túi áo, mót thêm vài đồng kẽm rỉ xanh để dành mua dầu thắp và đổi nửa đấu gạo đỏ nấu cháo loãng cầm hơi.

Buổi trưa chợ vãn, hắn lần sang mé bến đò chở hàng ven sông chảy men ngoài cửa Tây. Mùi cá ươn, vỏ sò rữa và mùi mồ hôi chua lòm của cánh phu khuân vác bốc lên nồng nặc dưới nắng trưa gay gắt. Những tấm lưng trần đen trùi trũi bóng nhẫy, hằn sâu những vết sẹo bầm tím do đòn xóc gỗ nghiến vào da thịt ngày này qua tháng khác. Hắn ngồi thụp xuống bãi cát bồi bên gốc còng già, nhìn vào cùi chỏ tay phải của từng người đang kéo bao tải lên bờ.

Một lão phu già ngồi tựa lưng vào gốc cây, tay cầm con dao con gọt lại mấu mắt trên chiếc đòn xóc tre nứt toác.

Vọng Thư bước lại gần, chìa ra mẩu bắp rang còn sót lại trong đãy:

"Lão bá cho hỏi thăm, ở bến đò này có ai tên Bùi Thạch, người ở mạn sông Vọng Nguyệt, trên cùi chỏ tay phải có sẹo chém sâu không?"

Lão phu già ngước mắt lên nhìn mẩu bắp rang bọc lá chuối, chép miệng rồi thò bàn tay cáu bẩn giật lấy nhét tọt vào mồm. Lão nhổ toẹt một bãi bọt đỏ đục vì nhai thuốc rê xuống mép nước, giọng khàn như vịt đực:

"Xứ cửu vạn này cả nghìn thằng vác mướn, thằng nào chẳng có vết chém vết đòn xóc trên người. Thằng Thạch cùi chỏ sẹo thì không còn ở cái bến này đâu. Đầu năm ngoái nó dính nợ sòng bạc rồi bị đám cai coi ngục bắt gông cổ, tống lên xe bò chở miết về mấy trại đập đá mạn nam rồi. Rơi vào tay đám cai đó thì sống dở chết dở, một đi không trở lại, hỏi làm chi cho mệt xác."

Lão phu già nói xong liền cúi đầu tiếp tục gọt cây đòn xóc, mũi dao lia sàn sạt trên cật tre già, chẳng buồn liếc mắt nhìn lại thiếu niên áo rách thêm một lần nào.

Gió từ mặt sông thổi thốc lên bờ, mang theo vị tanh nồng của bùn lầy đáy cạn.

Mỗi buổi chiều buông gánh viết thuê, Vọng Thư lại tìm đến góc phố cổ gần cổng trường thi, nơi có một hiệu sách cũ bày la liệt những chồng bản khắc gỗ mối mọt. Hắn đứng nép ngoài mái hiên, ngóng mắt nhìn vào những trang sách mở dở trên giá gỗ để đọc trộm. Lão chủ hiệu sách gầy gò khó tính, tay cầm cây thước tre bản rộng gõ côm cốp xuống thành cửa xua đuổi chín ngày liền vì chê thằng nhóc áo rách làm vấy bẩn sách thánh hiền. Đến ngày thứ mười, trời đổ mưa phùn se lạnh, thấy thiếu niên áo nâu ướt sũng vẫn đứng lặng như cột đá ngoài hiên, lão già chép miệng thở dài, thò tay rút từ góc kẹt một cuốn sách cũ rách bìa gáy ném toẹt xuống bậu cửa:

"Cầm lấy mà đọc cho khuất mắt. Sách rách tiền triều đem nhóm bếp chẳng ai mua."

Đó là một tập sách chép tay cũ nát ghi chép phép tắc thủy lợi và địa bạ tiền triều.

Đêm về trong gian miếu hoang ẩm mốc, dưới đốm đèn dầu cặn đỏ quạch, Vọng Thư cặm cụi lật từng trang giấy mục. Hắn đối chiếu những ghi chép về phép đắp đập, khơi dòng, phép chia ruộng công và đặt kho nghĩa thương dự trữ hạt giống của tiền triều với những gì chính mắt hắn đã nhìn thấy suốt mười sáu năm sinh tử lặn ngụp dưới dòng Vọng Nguyệt. Khuôn vàng thước ngọc của tiền nhân gặp sự thật trần trụi nơi bùn lầy tạo nên một phương lược an dân hoàn chỉnh trong tâm trí hắn.

Đầu mùa thu, trường thi mở toang hai cánh cổng gỗ lim nặng trịch đón sĩ tử ứng thí khoa thi Hương trấn Kinh kỳ.

Hơi sương giá bốc lên lành lạnh từ những phiến đá xanh lót thềm. Dãy cổng chính rợp bóng lọng tía lọng xanh của đám con em quan lại, ngựa xe nườm nượp chen chúc nhau dừng lại trước thềm cao. Cổng nách bên hông mở hé, hàng trăm sĩ tử nghèo khó từ các thôn xóm phụ cận đứng co ro trong manh áo vải sờn, hơi thở phả ra thành từng luồng khói trắng mỏng. Mấy tên lính cấm vệ mặc giáp da lăm lăm ngọn giáo dài, xoi mói thọc mũi sắt vào từng gói cơm nắm lá dong, bóp nắn từng ống tay áo của kẻ nghèo khó tìm sách cấm.

Một mũi giáo hất mạnh vào đãy vải của Vọng Thư, làm mẩu khoai mài khô lăn lông lốc xuống rãnh nước chân tường. Hắn cúi người nhặt mẩu khoai, lấy vạt áo lau lớp bùn bám bên ngoài rồi nhét lại vào bọc trước khi bước chân qua ngưỡng cửa đá.

Khu lều thi dựng bằng phên nứa ọp ẹp san sát nhau trên bãi đất nện. Mỗi người nhận một khoảng đất chật hẹp, vừa đủ đặt tấm ván gỗ mộc cập kê làm bàn viết.

Tấm bia đá dựng giữa sân trường khắc vỏn vẹn năm chữ lớn: "Thiên Hạ An Dân Sách".

Tiếng mài mực sột soạt rộ lên khắp các gian lều nứa như đàn tằm ăn rỗi. Những anh học trò nghèo vội vã nhúng bút vào nghiên, cắm cúi viết những bài thơ tán tụng ơn sâu trời biển của triều đình, viện dẫn thánh hiền từ ngàn năm trước để khỏa lấp cảnh đói rách mất mùa đang diễn ra ngoài cổng thành.

Vọng Thư ngồi xếp bằng trên manh chiếu rách. Hắn mài thỏi mực đen trên phiến đá gồ ghề cho đến khi nước mực sánh đặc lại thành vệt đen nhánh.

Ngọn bút lông cùn hạ xuống trang giấy bồi xám xịt. Hắn gạt phăng mọi điển cố sáo rỗng, dốc cạn gan ruột viết nên một thiên sách luận dài mấy ngàn chữ, vạch rõ ba mối họa lớn và phương lược an dân:

Thiên thứ nhất luận về thủy lợi đê điều. Chân đê sạt lở không bởi ý trời, mà khởi từ lòng tham quan lại bớt xén đá hộc kè móng, hào môn bít cống cứu điền trang dồn nước vỡ đê. Hắn dẫn giải tỉ mỉ phép đo dòng chảy mùa lũ, phương lược nạo vét phù sa cửa sông Vọng Nguyệt trước mùa nước ròng, cùng họa đồ khơi kênh phụ men sườn đồi đưa lũ vào đầm trũng tích trữ tưới tiêu mùa khô.

Thiên thứ hai luận về điền chế và tô thuế. Đất công rơi vào tay cường hào biến dân cày thành lưu dân loạn lạc. Hắn chủ trương phục hồi phép quân điền triều trước, đo đạc lại toàn bộ bãi bồi phù sa chia đều cho dân nghèo cày cấy, để họ gắn tính mạng vào mảnh đất mà chung sức hộ đê, đồng thời định rõ lệ bãi bỏ tạp dịch phu phen trong ba tháng mùa gieo cấy.

Thiên thứ ba luận về kho nghĩa thương dự trữ. Vạch trần quốc nạn quan lại bớt xén tiền gạo phát chẩn vào những mùa giáp vụ đói kém, hắn vạch ra quy chế lập kho nghĩa thương tại từng thôn ấp, lúa bắp dự trữ giao trọn cho các bậc phụ lão và hương thân cùng nhau trông coi, nghiêm cấm quan lại sở tại nhúng tay phân phát.

Nắng trưa dội lửa xuống mái phên nứa rồi ngả dần về tây. Mực cạn lại mài, viết hết tờ này đến tờ khác. Nét chữ vuông vức, đanh chắc, mực đen ăn sâu vào từng thớ giấy thô nhám. Từng luận điểm kết hợp giữa phép tắc kinh điển và kinh nghiệm sinh tử bùn lầy, chữ nào cũng nặng trịch mùi mồ hôi và nỗi thống khổ của thứ dân.

Hắn nộp bài thi khi hồi trống thu bài dồn dập điểm hồi thứ ba. Hai cánh cổng gỗ lim trường thi lập tức khép chặt, cài then đồng niêm phong để quan trường tiến hành rọc phách, chia quyển cho ban sơ khảo và phúc khảo chấm bài.

Những ngày chờ yết bảng, sương thu bắt đầu đổ dầy trên mái ngói rêu phong gian miếu hoang. Vọng Thư lại tiếp tục mang thỏi mực lọ nghẹ ra mé chợ Tây ngồi ké sạp đồ khô viết thư thuê, gom từng mẩu bắp rang bọc lá chuối, củ khoai mài luộc lót dạ và mót thêm vài đồng kẽm rỉ xanh mua dầu thắp. Đĩa đèn dầu cặn trong miếu hoang cạn thêm mấy lóng tay bấc, lớp rêu trơn nơi bệ đá sau mấy trận mưa rả rích mọc thêm một tầng xanh rì bám chặt mép tường nứt.

Cho đến một sớm mai khi sương giá bắt đầu tan dần trên đầu ngọn cỏ lau, tiếng pháo lệnh và tiếng loa đồng từ trường thi rộ lên từng hồi giục giã, báo tin kỳ rọc phách chấm bài đã định, bảng vàng yết danh tân khoa trấn Kinh kỳ sắp sửa mở ra.

Tấm bảng gỗ quét vôi trắng dán kín giấy điều đỏ được dựng lên giữa sân trường thi khi nắng sớm vừa rọi qua tán cây cổ thụ.

Đám sĩ tử chen chúc nhau đạp lên cả bùn đất dưới chân tường gạch, ngửa cổ dòm tìm tên mình trên giấy đỏ. Tiếng cười hỉ hả của kẻ đỗ đạt xen lẫn tiếng khóc nấc cay đắng của những người áo rách trượt khoa thi, có kẻ quỳ sụp xuống ôm lấy ống chân lính gác mà van xin xem lại quyển thi.

Vọng Thư đứng ở mép ngoài đám đông, mắt dừng lại ở hàng chữ viết bằng mực chu sa đỏ chót trên tấm bảng phụ dán bên cạnh bảng vàng. Cái tên Tiết Tri Thiệu chễm chệ ở ngôi đầu Giải nguyên. Bài thi mẫu của tân Giải nguyên được treo cao cho bàn dân thiên hạ xem: từng phương lược đào kênh phụ thoát lũ men sườn đồi, phép quân điền chia lại bãi bồi ven đê, lệnh cấm bít cống xả lũ và kho nghĩa thương đều được chép nguyên xi từ bài thi của hắn, chỉ điểm xuyết thêm vài lời ca tụng ân đức triều đình rỗng tuếch ở phần mở đầu.

Dưới góc bảng phụ phía sau, cái tên Lý Vọng Thư nằm chơ vơ nơi góc dưới cùng, bên cạnh có một vệt mực chu sa gạch chéo: "Văn phong thô bỉ, phạm thượng, truất quyền ứng thí."

Hắn đứng nhìn bài văn bị cướp đoạt một lúc lâu, ánh mắt không rời khỏi những nét chữ son tươi rói trên tấm bảng điều.

Một tên nha sai mặc áo nẹp đỏ rẽ đám đông bước xộc tới, túm lấy bả vai thô của hắn lắc mạnh:

"Ngươi là Lý Vọng Thư thôn Thanh Sa? Tiết đại nhân cho gọi ngươi vào nội sảnh hầu chuyện."

Hắn đi theo tên nha sai qua dãy hành lang lát gạch hoa dẫn sâu vào gian nhà gỗ lim phía sau trường thi. Tiết Kính Đức ngồi trên chiếc sập gụ khảm ốc xà cừ, râu bạc dài đến ngực, móng tay ngón út để dài cáu bẩn đang lướt qua xấp quyển thi dán nhãn niêm phong. Trên mặt bàn gỗ trắc đặt sẵn một túi tiền bằng vải thô cùng một tờ giấy trắng viết sẵn chữ đen.

Lão chủ khảo nhấp một ngụm trà nguội, ngước cặp mắt kèm nhèm nhưng sắc như dao cau nhìn thiếu niên áo nâu đứng trước thềm:

"Quyển thi của ngươi luận việc sông nước và điền chế khá rành rẽ, nhưng lời lẽ sắc nhọn phạm vào trường quy cấm kỵ. Chiếu theo luật của triều đình, lão phu chỉ cần hạ một nét bút là có thể tống ngươi vào ngục huyện vì tội phỉ báng quan lại triều đình."

Tiết Kính Đức đưa ngón tay gõ cộc một tiếng khô khốc xuống mặt bàn, đẩy túi tiền và tờ giấy về phía trước:

"Cháu trai ta là Tiết Tri Thiệu vừa đỗ đầu Giải nguyên, sắp tới vào viện Hàn Lâm cần một đứa mẫn tiệp lo việc bút lục bên cạnh. Trong túi này có hai mươi lạng bạc vụn. Điểm chỉ vào tờ văn tự nhận làm môn hạ cho Tiết phủ, từ nay về sau cơm áo khỏi lo, lại có họ Tiết ta che chở cái tội phỉ báng trường quy."

Vọng Thư nhìn vào tờ giấy văn tự đặt trên bàn. Những dòng chữ nhỏ li ti ghi rõ cam kết bán thân làm gia nô cho họ Tiết, suốt đời chịu gia pháp quản thúc, tuyệt đối cấm tiết lộ việc bút lục ra ngoài.

Hắn cúi đầu, bàn tay buông thõng chạm vào mép áo vải thô cứng queo vì ngâm bùn chợ. Hắn nhớ đến ánh mắt của mẹ nhìn bếp trấu đỏ rực trong đêm trước ngày hắn rời làng, nhớ lời dặn cộc lốc rằng miếng cơm thừa của kẻ quyền thế bao giờ cũng phải trả lại bằng nửa cái mạng.

Hắn ngước lên, cất giọng ráo hoảnh:

"Đại nhân nâng đỡ, thảo dân đội ơn. Ngặt nỗi mẹ già nơi quê nhà đang đau ốm liệt giường, thảo dân lên kinh chưa kịp gửi thư về báo tin. Xin đại nhân cho thảo dân lui về thu xếp mền chiếu trong ba ngày, sau đó sẽ đến Tiết phủ dập đầu nhận việc."

Tiết Kính Đức nheo mắt nhìn thiếu niên áo rách. Lão từng thấy những kẻ bần hàn bò lê trên sàn gạch tranh nhau nhặt từng thỏi bạc vụn, cũng từng thấy những kẻ sĩ phẫn uất gào khóc đòi đập đầu vào cột đá. Thằng bé này thì khác. Nó cúi đầu thưa gửi lễ phép, nhưng sống lưng thẳng đơ, đôi mắt đen láy phẳng lì không một nét gợn sóng, chẳng có chút run sợ của kẻ đứng trước quyền uy, cũng chẳng lộ vẻ thèm thuồng trước túi bạc trắng.

Ngón tay lão chủ khảo khẽ gảy mạt trà khô vương trên mép bàn gụ. Lão nhận ra cái thứ phàm nhân áo rách mà lòng dạ lì lợm như sỏi đá này không thể dùng bạc vụn mà mua chuộc, cũng chẳng thể dùng cái danh môn hạ mà ghìm cương. Giữ một kẻ thấu rõ bài thi bị đánh tráo bên cạnh cháu trai lão chỉ tổ rước họa vào thân.

Khóe miệng Tiết Kính Đức giật nhẹ một cái:

"Hiếu thảo với mẹ già là việc phải làm. Cứ về thu xếp cho chu tất rồi hãy quay lại."

Vọng Thư chắp tay lui bước ra thềm gạch. Khi bước qua bậu cửa gỗ lim, hắn thấy hai gã gia đinh vạm vỡ giắt đoản đao bên hông đang đứng nép sau bóng cột hiên, mắt dán chặt vào sau gáy hắn, một gã thò tay nới lỏng nút dây buộc chuôi đao.

Hắn giữ nhịp chân đều đặn bước ra khỏi cổng nách trường thi, lách qua đám đông sĩ tử đang xúm xít bàn tán dưới chân bảng vàng rồi rẽ ngoắt vào một ngách hẻm chật hẹp phía sau dãy chợ Tây.

Mùi rau thối rữa và mùi lòng cá tanh nồng xộc thẳng vào mũi. Hắn rảo cẳng bước nhanh, lủi qua những dãy lều bạt rách nát của dân nghèo buôn gà vịt, đạp lệch một sọt rác củ cải bên vệ đường để chắn lối đi rồi biến mất vào con ngõ ngoằn ngoèo thông ra bờ rạch cạn.

Toán gia đinh họ Tiết đuổi ra đến đầu chợ chỉ thấy dòng người gánh gồng chen chúc nhau trong ngõ hẹp, bóng áo nâu rách phếch đã lặn mất tăm tích. Hắn nép mình dưới sàn sạp gỗ của một quán bán cám mốc suốt buổi chiều, tai dỏng lên nghe tiếng bước chân rầm rập của bọn gia nhân rà soát từng ngách chợ rồi dần dạt ra xa.

Khi ráng chiều sụp xuống, vệt mây đỏ trên nền trời kinh kỳ chuyển dần sang màu tro tàn, hai cánh cổng thành Tây bằng gỗ lim bọc đinh sắt bắt đầu từ từ khép lại.

Lính gác cổng thành cầm giáo dài chặn từng tốp người xét hỏi gắt gao. Vọng Thư cởi phăng chiếc áo ngoài rách tả tơi ném xuống rãnh nước, quấn mảnh chiếu rách quanh vai che kín nửa thân trên, đầu cúi gằm, vai gầy vác một bó củi mục nhặt vội bên mé bờ rào. Hắn giả làm đứa phu gánh củi bị thương tật, lẫn vào dòng người lưu dân đói rách đang ùa ra ngoại ô trước giờ đóng cửa thành, lách mình qua khe cửa hẹp trót lọt qua mắt mấy tên lính canh đang ngáp vặt.

Ra khỏi cửa thành Tây, con đường đất đâm thẳng qua bãi hoang một quãng rồi giao vào đường quan đạo chạy dọc ngoài chân thành.

Gió chướng ràn rạt thổi qua những vạt cỏ lau khô cháy ven con hào nước tù đọng. Xa xa sau lưng hắn, trên mặt tường đá kinh thành, những bó đuốc tuần tra của quan binh bập bùng đỏ rực một góc trời, tiếng mõ canh điểm từng hồi khô khốc vọng lại trong đêm sương.

Đến ngã ba đường đá lởm chởm xẻ đôi đường quan đạo, Vọng Thư dừng chân.

Một lối mòn ngược lên phương bắc, dẫn về con đường thiên lý trở lại thôn Thanh Sa. Một lối đá gồ ghề rẽ sâu xuống mạn nam, chạy vào vùng núi non hoang vu chập chùng mây mù.

Hắn đứng lặng giữa bãi đất hoang. Hắn biết rõ nếu quay đầu về Thanh Sa lúc này, tai họa từ phủ họ Tiết sẽ theo chân hắn kéo về gian nhà lá của mẹ. Nẻo đường phương nam xa xôi trập trùng lam chướng, nhưng vừa tránh được nanh vuốt quan nha, vừa là hướng bọn cai ngục áp giải đám phu đập đá như Bùi Thạch.

Hắn thò bàn tay chai sần vào ngực áo, sờ thấy chiếc nhẫn bạc trơn của mẹ chạm vào da thịt lạnh ngắt. Hắn siết chặt quai đãy vải rách trên vai, xoay gót chân bước thẳng về lối mòn phương nam.

Gió lạnh rít từng cơn qua bờ lau xào xạc dưới chân hắn.

0
Ủng hộ tác giả Phù Vân Nhất Mộng Thưởng thức ý cảnh, ngộ đạo nhân sinh. Nếu tác phẩm này làm đạo hữu đẹp lòng, xin hãy hộ trì cho...