Chương 9: Thu Sếp
Một Thoáng Nhân Gian
Mục lục
14 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 14/14 chương
Rễ bồ kết rừng cọ vào bậc đá ken két. Vọng Thư dùng móng tay cái cạo lớp bùn đóng chặt quanh mắt rễ. Nước sông đầu giêng buốt cóng. Ngâm một lát, mười đầu ngón tay mất hết cảm giác, từng khớp ngón tê dại chạy dọc lên cùi chỏ.
Hắn mười sáu tuổi.
Thư quán của Tống phu tử đổ sụp từ mùa mưa trước. Tuần đinh tới cạy gạch nền tìm kiêm ngân, cạy trơ đất rồi quẳng cuốc bỏ đi. Đám cỏ may mọc lút ngang ngực, trùm kín cả bậu cửa. Người làng Thanh Sa vẫn dậy từ gà gáy cào hến, mò ốc. Thiếu gạo thì hái thêm rau muống đồng luộc chấm muối hạt.
Khế ước Trầm Sa đã dứt ba năm. Hắn có tên trong sổ đinh lương dân, nhưng mỗi bữa ăn vẫn bới từ lòng sông mà ra. Sáng lên vách đá hái lá thuốc cho mẹ đem ra chợ huyện đổi nửa đấu gạo đỏ. Chiều lặn xuống các hốc nước ngầm ven sông Vọng Nguyệt mò trai, nhặt ốc đá nấu canh rau tập tàng.
Mấy bận lên núi tìm cây thuốc, hắn đều đi vòng qua hố đất cạn bên bìa rừng lau. Năm cái xác của lũ Chu Bát sau đêm ấy bị tuần đinh quẳng xuống đó lấp đất qua loa. Đất đắp chưa kịp mọc cỏ may, cái hố đã bị quật tung. Người làng kháo nhau chó rừng ngửi mùi thối bới xác tha đi. Nhưng đất quanh miệng hố bị xắn bằng lưỡi xẻng sắt sắc ngọt. Bốn góc cắm bốn cọc gỗ nhỏ buộc sợi chỉ đen cháy sém, dưới đáy hố sạch trơn, chẳng sót lấy một mẩu xương vụn. Năm cái xác biến mất tăm.
Tối đến chỉ dám thắp một tim đèn hạt đỗ.
Chép xong mấy trang sách cổ đổi từ mớ thuốc rừng, hắn mới lấy mẩu đá xanh giấu dưới đáy chum lúa ra xem. Đó là mẩu ngọc nhặt được từ vách hang mỏ Tử Đằng năm ấy. Lớp vôi xám bọc ngoài đã bị hắn cạo sạch bằng mũi dao cùn. Dưới ánh đèn dầu, mặt ngọc hiện màu xanh rì, mát lạnh.
Hắn dùng đầu dao găm khắc lên mặt đá hình ba ngôi sao chòm Sâm cùng một nét cong cong hình lưỡi cày. Những đêm nằm trên vạt tre ngước nhìn qua lỗ thủng mái tranh, hắn vẫn canh con nước bằng ba ngôi sao ấy. Mỗi lần áp mặt đá vào lòng bàn tay, ngón tay bớt buốt cóng. Ngọn đèn dầu bên cạnh cũng bớt muội khói, đốm lửa đứng ngọn, tỏa hơi ấm vừa đủ một tầm tay.
Vết cào trên cổ tay phải đã thành sẹo xám. Trở trời, ba vết móng lại ngứa ran, nhức buốt tận màng xương. Hắn mặc kệ.
Mùa thu năm ngoái mưa mười ngày đêm.
Nước sông Vọng Nguyệt đỏ ngầu, cuốn theo rác rưởi và rễ chuối rừng, mấp mé mặt đê phía tây. Người nhà họ Nguyễn chở đá hộc lấp kín ba cửa cống thoát nước phía đông. Cánh đồng bên ấy có kho quặng bạc và ruộng lúa của họ.
Nửa đêm, đê phía tây vỡ toác một quãng mười trượng.
Nước chồm qua đê, giật sập tường vách. Tiếng heo gà, tiếng người kêu cứu chìm nghỉm trong tiếng nước réo.
Vọng Thư cùng một số dân làng chạy lên miếu hoang trên gò đất nổi.
Mẹ hắn ngồi tựa vào chân cột miếu, mũi hắn ngửi thấy một mùi hoa dìu dịu giữa mùi bùn lũ tanh nồng. Trên bậc đá vỡ trước bệ thờ có một nhánh hoa tử đằng cánh tím, cuống hoa còn ứa nhựa tươi, không dính chút bùn nào. Hắn không kịp nhìn kỹ, bẻ luôn cành xoan rừng làm sào chống, nhảy tót xuống dòng nước ngập tới bụng. Nhờ tài lặn ngụp dưới dòng xoáy từ nhỏ, hắn kéo được ba bè chuối, vớt bảy đứa trẻ cùng hai người già đang bám ngọn tre.
Nước rút, xác người dạt vào các bãi sậy. Hơn trăm mạng.
Quan huyện về thị sát. Lão đứng trên mặt đê trơ rơm rạ mục, đưa vạt áo che mũi rồi liếc cuốn sổ đinh.
Viên đề lại ghé tai:
"Bẩm quan, chết quá ba mươi mạng là phạm lệ khảo hạch. Trên bộ hạch xuống thì mất chức."
Quan huyện quẹt ngọn bút lông chấm mực đỏ qua mấy dòng tên trong sổ đinh:
"Mưa lớn ngập chân đê, quan quân cứu hộ kịp thời. Chỉ có bốn người trượt chân ngã nước."
Xác người chết được tuần đinh lùa đám thợ đào hố chôn chung ven chân đồi, lấp đất sơ sài rồi bỏ đi.
Vọng Thư và một số dân làng còn sống sót đứng sau bụi tre nhìn chiếc lọng xanh đi khuất. Nước ứ trong ngực đê thì tự xé lối mà thoát, sức người cố chặn chỉ chuốc lấy tai vạ. Hắn quay về lều, lại mài mực viết chữ.
Chiều muộn trước ngày rời làng, sương sông dâng kín ngọn cỏ. Vọng Thư sang nhà lão Bùi.
Lão Bùi ngồi xổm bên bếp trấu, cời than vùi mấy củ từ già đào trên bãi bồi. Khói trấu cay xè làm mắt lão đỏ ngầu, chốc chốc lại đưa nắm tay đấm côm cốp vào thắt lưng còng. Sợi dây gai buộc viên đá xám trước ngực lão đã sờn gần đứt.
Vọng Thư đặt bọc vải nhỏ lên mép vạt tre:
"Bùi gia gia, mai con lên kinh dự kỳ thi Hương của trấn Kinh kỳ. Con để lại ít tiền kẽm với mấy gói thuốc rễ cây, nhờ gia gia ngó chừng mẹ con."
Hắn lấy miếng đá xanh rì đã xỏ sẵn dây gai đưa cho lão:
"Đá này con mài từ miếng đá nhặt trong mỏ, áp vào da thấy mát. Gia gia đeo vào cho đỡ nhức lưng."
Lão Bùi cầm lấy. Bàn tay lão thô ráp, ngón tay miết qua mặt đá mát rượi. Lão bóp nhẹ thắt lưng, ngạc nhiên thấy chỗ tê buốt dịu đi thật, khớp xương bớt kêu lục cục. Lão cẩn thận nhét miếng đá vào sâu trong túi áo ngực:
"Đá này mát tay. Lão già này cả đời cào bùn, có cái bùa này đeo thì đỡ khổ. Ta cất đây. Mai này thằng Thạch nhà ta có về, hay nó có mụn con nào lưu lạc, ta cho nó."
Lão quẹt đá lửa châm mẩu thuốc rê, rít một hơi dài rồi phả khói qua kẽ răng:
"Mẹ con ngươi ở xóm này, có chén cơm củ khoai nào lão già này chia nửa, không để mẹ ngươi đói đâu. Tiểu tử nhà ngươi lên kinh xa xôi, chốn ấy người ta buôn nước bọt lấy tiền, cẩn thận kẻo bị lừa. Chân ngươi lấm bùn từ nhỏ, sau này có làm quan cũng chớ học thói khinh người nghèo."
Lão gõ tàn thuốc vào cạnh cột:
"Thằng Thạch đi mười năm bặt tăm. Lên kinh, rủi có gặp đứa nào tên Bùi Thạch, có sẹo chém ở cùi chỏ phải... thì bảo nó lão già ở bến sông còn sống."
"Con nhớ rồi."
Đêm ấy mưa bụi rây trên mái tranh.
Bếp trấu chỉ còn đụn than đỏ le lói. Mẹ ngồi trên ghế con, múc chén cháo kê loãng đưa cho hắn. Trận ho sau mùa lụt làm người nàng gầy rộc đi, nhưng giọng nói vẫn rành rọt.
"Quyết đi thật à?"
"Dạ. Con muốn lên kinh thi lấy cái danh phận, tìm lối đi cho mẹ con mình."
Nàng gạt tàn trấu quanh đáy nồi:
"Ăn cho hết cháo đi rồi rửa chén. Lên kinh rồi, một gáo nước lã người ta cũng đòi tiền đồng, không ai nhóm cho con nửa thanh củi lúc rét đâu."
Nàng nhìn hai bộ quần áo vải thô chắp vá trong đãy:
"Kinh thành đường lát đá phẳng lì, xe ngựa nhà giàu chạy rầm rập, bánh xe sạch bong. Người ở đấy họ khinh kẻ áo rách. Con đi thi, đỗ thì làm, không đỗ thì quay về đây lặn mò trai ốc. Cơ hàn rách rưới chẳng việc gì phải thẹn. Thấy người ta giàu sang quyền thế mà bò rạp xuống xin ăn, rồi quay lại dẫm lên đầu những kẻ cùng đi chân đất như mình, thế mới là hèn. Đói thì uống nước suối mà đi tiếp, chớ ngửa tay xin miếng cơm thừa."
Nàng nén một tiếng ho khan, bàn tay gầy với những ngón thon dài khẽ chạm vào vạt áo thô của con, giọng trầm xuống:
"Cha con năm xưa đâu phải bỏ mạng vì lặn mỏ dưới sông Vọng Nguyệt như người làng vẫn tưởng. Năm mẹ mang thai con, giặc đuổi rát phía sau, cha con đã liều mình khoác áo mẹ chạy về hướng núi, dẫn hết đám truy binh đi để mở đường cho mẹ con mình sống sót. Người liều cả mạng sống để con được sinh ra trên đời, cho nên dẫu bước chân ra ngoài có đói rách cơ hàn đến đâu, con cũng phải sống cho đàng hoàng, đừng để cái chết của cha con trở nên vô ích."
Nàng lần trong cạp váy ra một mảnh vải cũ buộc nút. Mở ra, bên trong là chiếc nhẫn bạc trơn có khắc vệt mây mỏng đã mòn vẹt mép, kề bên là một nắm gạo nếp rang gói trong lá dong cẩn thận:
"Chiếc nhẫn bạc này là kỷ vật của mẹ, con cất kỹ sát ngực. Còn nắm nếp rang này để lót dạ buổi sớm đầu tiên rời làng. Đã bước chân đi thì đừng ngoảnh lại."
Vọng Thư nhận chiếc nhẫn và gói nếp, dập đầu lạy mẹ.
Canh tư gà gáy, sương giá phủ trắng ngọn cỏ.
Vọng Thư khoác đãy vải, cầm cây gậy tre vót nhọn, khép hờ cánh liếp rồi bước đi. Phía gò đồi xa, nấm mồ đá của Tống phu tử chìm nghỉm trong màn sương xám.
Hắn cắm cúi qua khỏi ngã ba làng, tránh đường quan đạo vì sợ lính gác hạch sách tiền mãi lộ. Hắn rẽ thẳng vào lối mòn chân núi Huyễn Mộng. Dải đất này toàn đá sỏi xám ngoét, hơi độc từ các vách mỏ hoang xốc lên nồng nặc, cây cối cháy sém trơ cành. Dân buôn và phu xe đều tránh xa con đường này vì sợ chướng khí và thú rừng tràn ra. Riêng hắn quen ngâm mình dưới bùn mỏ từ nhỏ, lồng ngực đã lì với mùi đá tanh.
Đường mòn vắng ngắt.
Mấy bận đi qua vách đá tối, trong bụi gai rậm vang lên tiếng chân đạp cành khô lạo xạo. Mùi tanh của thú ăn thịt xộc ra nồng nặc. Có con thú lớn, mắt đỏ ngầu, nhe nanh gầm gừ trong hốc đá. Vọng Thư nắm chặt gióng tre, bước chậm lại.
Đúng lúc con thú chực chồm ra, trên ngọn cây sau lưng bỗng có tiếng lá xào xạc. Một làn gió lạnh quét qua, đem theo mùi hoa tử đằng thoang thoảng làm loãng bớt mùi tanh hôi.
Con thú dữ bỗng khựng lại. Tai nó cụp sát đầu, bốn chân run lẩy bẩy, rồi thối lui từng bước, cúp đuôi chui tọt vào khe đá sâu.
Vọng Thư tưởng nó sợ cây gậy tre vót nhọn và ánh mắt trừng trừng của mình. Hắn cắm cúi rảo bước tiếp.
Đi hơn mười ngày thì đường mòn nhập vào quan đạo.
Dân đói các huyện dạt về đông như kiến cỏ. Người trần trùng trục, môi nứt máu, chân quấn giẻ rách, dắt díu nhau lê bước trên mặt đường lổn nhổn đá dăm. Mùi hôi thối bốc lên từ những vết loét ruồi bu kín.
Ven đường, dưới gốc mù u cằn, ba gã đàn ông đang dồn một bà lão vào vách đá. Một gã cầm cọc tre nhọn chĩa vào ngực bà:
"Có khoai nếp gì bỏ ra mau!"
Bà lão ôm khư khư cái bọc rách trước ngực, khóc nghẹn:
"Tro cốt của ông nhà tôi mang về quê... không có cơm đâu..."
Vọng Thư bước tới. Gã cầm cọc tre quay ngoắt lại, đâm thẳng vào ngực hắn. Hắn lách người sang một bên, vung gậy tre đập mạnh vào khớp gối gã. Cốp một tiếng, gã ngã quỵ xuống đất, ôm gối rú lên. Hai gã phía sau run rẩy lùi lại, mắt dại đi vì đói.
Vọng Thư đỡ bà lão dậy. Góc bọc rách thủng một lỗ, trơ ra cái hũ sành sứt miệng, rỉ chút bột xám.
Hắn mở đãy, bẻ đôi mẩu lương khô. Hắn nhét một nửa vào tay bà lão, nửa kia quẳng xuống đám cỏ trước mặt hai gã đói:
"Hũ tro người chết. Cầm lấy mà ăn."
Hai gã đàn ông nhào xuống cỏ tranh, vồ lấy mẩu lương khô lấm cát rồi ngấu nghiến nuốt.
Vọng Thư xốc đãy lên vai, bước tiếp.
Chiều ngày thứ mười tám, hắn lên tới đỉnh dốc đá.
Thành lũy kinh đô hiện ra trước mặt. Tường thành bằng đá xám cao mấy trượng, rêu bám đen từng khe nứt. Cờ vải rũ rượi trong gió chướng.
Dưới chân thành, dọc hào nước tù đọng bốc mùi chua nồng, hàng vạn lều tranh cắm bằng cành khô và chiếu rách chen chúc nhau. Tiếng trẻ con khóc đói lẫn trong tiếng quát của lính giữ cổng và tiếng lộc cộc của xe ngựa vào thành.
Vọng Thư sờ tay vào ngực áo. Chiếc nhẫn bạc lạnh buốt chạm vào da thịt. Hắn bước xuống dốc, hòa vào dòng người lếch thếch đang nhích từng bước trước ngưỡng cửa kinh thành.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.