Chương 2: Nhật Nguyệt Đồng Quy
Một Thoáng Nhân Gian
Mục lục
14 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 14/14 chương
Thôn Thanh Sa nằm khuất dưới chân Huyễn Mộng Nhai, nơi mép nước sông Vọng Nguyệt mùa cạn trơ ra những dải bùn xám.
Dòng sông chảy qua bến đò ngoài bờ cõi huyện thành. Gặp đoạn nước quẩn, xác người chết đói cuộn trong manh chiếu rách dạt vào mép lau. Có chiếc chiếu rách đầu thò ra bàn chân gầy của một đứa nhỏ, cổ chân buộc mảnh thẻ đinh thuế bằng gỗ mộc chưa kịp gỡ. Lũ quạ đậu thành hàng trên cọc rào ven đê, mắt đục nhìn xuống doi cát, chờ con nước rặc đưa thêm xác trôi tấp vào bờ. Người trong thôn đi qua bến đò chỉ cắm cúi bước, không ai ngoảnh lại nhìn.
Dưới gian nhà lá vách đất ven xóm, mẹ Vọng Thư ngồi bên chiếc vạt tre mọt. Nàng độ ngoài ba mươi, vóc người gầy rộc, chiếc khăn vải gai quấn kín cổ họng để ngăn những cơn gió chướng thổi lùa qua vách lá. Gương mặt xanh xao nổi rõ hai gò má, sống mũi thon thẳng, hàng mi dài rủ xuống nắm rễ cây khô queo trên mặt vạt tre. Nhựa thuốc lâu ngày ngấm sâu làm đầu ngón tay nàng thâm sì, da nứt nẻ từng rãnh nhỏ. Từng ngón tay thon dài lượm lặt, gạt bỏ những cọng dập nát, nhặt lấy đoạn còn nguyên xếp vào chiếc rổ nan sờn rách. Chiều nào gian nhà cũng chỉ có tiếng ho khan của nàng quyện vào tiếng củi mục nổ lép bép trong bếp đất.
Lão Bùi từ ngoài ngõ bước vào, lưng còng gập xuống gần sát đất. Bàn tay chai sạn của lão chìa sang một củ khoai nướng lùi tro còn ấm:
"Lý nương tử, Vọng Thư đâu rồi? Để củ khoai này cho tiểu tử ăn lót dạ rồi hãy chẻ nốt đống củi sau hè. Gió chướng dạo này thổi buốt quá, lưng lão lại nhức không cúi nổi."
Nàng nhận củ khoai nướng, đặt cẩn thận lên vạt tre, cúi đầu khẽ đáp:
"Đa tạ Bùi bá."
Tiếng nói thều thào nghẹn lại nơi cuống họng. Nàng khẽ nghiêng đầu, bàn tay gầy trơ xương tỳ lên ngực áo nén một cơn ho khan rút ruột, nơi sợi dây gai luồn chiếc nhẫn bạc trơn cộm buốt dưới làn da mỏng dính sát sườn.
Dưới góc vạt tre, giấu sau mớ rễ cây khô queo, là một mẩu quản bút trúc gãy đã mòn vẹt đầu ngọn. Dân bến đò Thanh Sa quen miệng ác khẩu, mười hai năm trước thấy người đàn bà tha phương bụng mang dạ chửa dạt vào doi cát giữa đêm bão, họ cười cợt bảo gã đàn ông họ Lý nào đó đã dứt áo ra đi, quẳng lại mẹ góa con côi tự sinh tự diệt. Đám phu lặn mò quặng bảo nhau rằng chữ nghĩa không vớt được quặng chì dưới đáy bùn, người bến bãi kiếm củ khoai ăn còn chưa đủ ấm bụng mà ôm khư khư mẩu ống trúc rách với manh giấy mục làm gì cho nhọc xác.
Nàng không hé răng nửa lời. Mỗi bận nhìn ngón tay thâm sì phù sa của Vọng Thư vạch từng nét chữ lên nền đất, ánh mắt nàng lại dán vào vạt áo chắp vá của con, bàn tay khẽ vuốt phẳng từng nếp rách. Nàng chắt chiu từng gốc thảo dược thứ phẩm hái trên vách đá cheo leo, đem gói vào mảnh lá chuối khô nộp cho Tống phu tử ở thư quán.
Thư quán dựng bằng tre nứa trên một gò đất cao ven bìa rừng, ngoài rào giậu thưa thớt đầy dây bìm bìm leo bám. Nền đất nện trong gian nhà được đầm phẳng lỳ, khô khốc và nứt nẻ chân chim theo từng đợt gió lạnh. Tống phu tử là một ông lão gầy gộc, lưng hơi gù, quanh năm chỉ bận một tấm áo dài vải thô màu lam nhạt đã giặt đến bạc thếch ở hai bên nẹp. Trên chiếc bàn đá xám nơi lão ngồi kê chiếc nghiên mực bằng ngọc tủy sứt góc. Mỗi khi trời trở gió chuyển mùa, lão thường ngồi lặng lẽ trong góc tối, bàn tay gầy gò nổi gân xanh vô thức ấn chặt vào vết sẹo dài gồ ghề kéo xéo qua bụng dưới, mắt đục nhìn ra màn mưa núi phía xa.
Tại huyện thành Hồ Châu cách hơn trăm dặm đường rừng, hai đại thế gia họ Phạm và họ Nguyễn rất trọng việc dạy dỗ con cháu. Cứ ba ngày một lần, cỗ xe ngựa bọc gấm của hai phủ cùng toán hộ vệ lại vượt đèo dốc hiểm trở, đưa đón hai vị thiên kim tới gò đất này học chữ. Họ mang theo tráp lễ trĩu nặng thỉnh phu tử giảng giải cổ văn trên thẻ tre và các đồ hình nhận diện linh thảo.
Vọng Thư không có bạc nén, nhận làm chân thư đồng quét dọn không công.
Sương giá chưa tan, hắn đã gánh nước sông Vọng Nguyệt đổ đầy chiếc chum sành góc sân. Hắn quét lá rụng quanh hiên, chẻ củi chất gọn gàng bên chái bếp, bưng trà đặt lên án thư, rồi ngồi nép ở góc tối cạnh ngạch cửa ẩm mốc, vừa mài mực vừa lắng tai nghe tiếng giảng bài trong phòng.
Buổi trưa hôm ấy, tiếng ủng da nện cồm cộm qua bậu cửa tre, dẫm nặng nề lên nền đất nện. Tên hộ vệ xách chiếc tráp gỗ bọc đồng bước vào trước, vai áo giáp sắt va quệt vào khung cửa hẹp. Thấy đứa nhỏ áo nâu chắp vá đang quỳ mài mực bên bậu cửa, gã càu nhàu trong họng, huých cùi chỏ gạt sang một bên. Vọng Thư né người, chiếc nghiên đá sứt góc trượt nghiêng trên nền đất, nước mực sánh ra vấy đen gấu quần hắn.
"Ngồi dạt ra sau, bùn đất văng dơ hết váy tiểu thư bây giờ."
Bốp.
Chiếc thước gỗ mun trên tay Tống phu tử gõ mạnh xuống góc bàn đá. Nước trà đắng trong chén men rạn bắn tung tóe lên trang giấy. Đầu chiếc thước chỉ ra phía ngõ:
"Mực lắng cặn rồi. Mang cái nghiên ra giếng mà rửa, ở đây vướng chân."
Lão nhổ bã trà vào kẽ nẹp tre, mắt không ngước lên khỏi trang sách. Tên hộ vệ đặt tráp gỗ lên góc án thư, lùi nửa bước nép sang mép liếp.
Phía sau, hai vị tiểu thư bước qua ngạch cửa. Phạm Thị Thục Vi ngồi xuống chiếc ghế bọc đệm gấm quen thuộc, khẽ vuốt lại nếp váy lụa xanh. Nàng liếc nhìn vệt mực đổ trên nền đất ẩm, giọng phụng phịu cằn nhằn:
"Đường đèo hôm nay sạt lở bùn đỏ lòm, xe xóc muốn chết. Đã bảo phụ thân dựng cái thư phòng dưới huyện rước phu tử về cho tiện, cứ bắt lội lên tận cái gò đất ẩm mốc này. Mùi phèn với mùi mực nồng phát ngấy."
Bên dưới, Nguyễn Ngọc Thanh Thảo mở túi gấm rút xấp thẻ tre màu nâu sẫm. Nàng lật từng phiến thẻ, tiếng tre chạm nhau lách cách, mắt dán chặt vào trang sách, buông một câu châm chọc:
"Đò sông rặc nước rồi, vài bữa nữa lại vớt thêm mấy cái xác trôi. Chữ nghĩa phu tử dạy đem lót nồi còn chưa đủ ấm, cố mà chen vào nghe làm gì cho nhọc."
Vọng Thư rủ mi mắt nhìn xuống sàn đất nện. Hắn thấy khớp ngón tay cầm thước gỗ của Tống phu tử vẫn còn siết chặt, gân mu bàn tay giật giật từng nhịp nhỏ. Hắn không nói một lời, nhặt chiếc nghiên mực sứt góc rồi cúi đầu lui ra ngoài bậu cửa.
Hắn bước chân trần ra giếng đá sau chái nhà, múc từng gáo nước lạnh dội sạch cặn mực bám đáy nghiên. Nơi góc hè ẩm mốc, hắn nhặt nhạnh vài mẩu giấy tập viết rách nát của đám học trò huyện thành vừa vứt bỏ, chữ xiêu vẹo lấm lem vết mực, cẩn thận giắt vào cạp quần để đêm về đọc nhẩm.
Chiều hôm ấy rời khỏi gian nhà tre của Tống phu tử, Vọng Thư không đi thẳng về nhà. Hắn men theo lối mòn heo hút ven rặng lau sậy, tìm đến một ghềnh đá hoang vắng nhô hẳn ra giữa dòng nước xiết sông Vọng Nguyệt.
Bên kia sườn Huyễn Mộng Nhai, ráng chiều tắt dần, để lại một vệt đỏ sẫm như vệt máu trâu loãng trên nền mây xám phía Tây. Cùng lúc ấy, vầng trăng đục ngầu lấp ló nhô lên sau rặng đá tai mèo ở phương Đông. Gió ngoài sông thốc vào mặt ghềnh tanh nồng mùi bùn rác.
Thời khắc Nhật Nguyệt Đồng Quy. Ánh tà dương và ánh nguyệt quang cùng lúc rọi xuống mặt ghềnh đá lạnh ngắt.
Vọng Thư ngồi bẹp xuống cỏ, trước mặt là phiến đá xanh nhô ra mép nước. Hắn chấm đầu ngón tay trỏ vào dòng nước xiết, vạch từng nét chữ lên mặt đá. Vết rách nơi đầu ngón chạm vào làn nước sông buốt nhói lên một cái se sắt. Nhớ lại câu thơ Tống phu tử từng lẩm bẩm lúc say rượu bên án thư, chữ nhớ chữ quên, hắn vừa đưa ngón tay theo vệt nước vừa đọc trầm trầm trong họng:
"Núi chẳng biết mình cao, biển nào hay mình sâu,
Thế gian mờ mịt lối, chỉ thấy trăng trên đầu..."
Gió sông thổi qua mặt ghềnh, vệt nước trên đá bốc hơi mờ dần. Chữ núi khô trước, chữ trăng còn loang loáng ánh nước đục.
Phiến bích ngọc vớt dưới đáy bùn luôn được hắn giắt chặt bên ngực áo. Mỗi bận gánh nước trèo dốc mỏi rã rời hai vai, luồng lạnh áp sát da thịt lại làm dịu bớt cơn ê buốt. Hắn thò tay vào cổ áo, rút phiến ngọc giáp hình vảy cá ra.
Dưới sự dung hòa của ánh ráng chiều và trăng đục, bề mặt phiến ngọc phả ra hơi ấm nhàn nhạt. Những đường vân nứt cổ quái bên trong chớp lên từng đợt mờ mờ rồi chìm sâu vào thớ đá. Hắn không nhìn sâu vào những vệt ấy nữa, ngón tay trỏ miết nhẹ lên gờ ngọc sứt.
Hắn khép mi mắt, hít vào một hơi dài.
Gió chướng rát buốt xộc qua cánh mũi, buồng phổi nhói lên một cái buốt nhức rồi chùng dần xuống. Ba nhịp hít sâu gom đầy khí lạnh vào lồng ngực. Bảy nhịp nén lại dưới bụng, hơi buốt bắt đầu dịu đi, vết rách ở đầu ngón tay trỏ bớt giật giật. Bốn nhịp từ từ thở ra, luồng khí nóng ẩm thoát qua kẽ răng.
Phiến ngọc tỳ sát da ngực truyền sang một luồng ấm áp, lan dần dọc xương quai xanh rồi tỏa xuống hai bả vai. Cơ bắp mỏi nhừ sau một ngày gánh nước chẻ củi lỏng dần ra. Mặt phiến ngọc vẫn phẳng lì, không có chữ nghĩa nào hiện thêm.
Hắn cứ ngồi thế trên doi cát, đếm từng nhịp hít vào, nén hơi, thở ra, cho đến khi tiếng mõ đò ngoài bến điểm từng hồi chậm rãi vào đêm.
Gió lạnh quất rát mặt. Vọng Thư mở mắt, đứng dậy phủi lớp cỏ vụn dính trên gấu quần thô. Hắn luồn tay vào vạt áo sờ nắn phiến ngọc giáp, rồi men theo lối mòn ven đê bước về phía xóm nghèo.
Nơi gian nhà lá vách đất, mẹ hắn đã nhặt đom đóm ven rặng sậy nhét vào chiếc túi vải the cũ treo trước hiên. Ánh sáng xanh le lói hắt ra từng đốm nhỏ, tanh nồng mùi côn trùng lẫn mùi thuốc mục, lặng lẽ soi một góc thềm chờ đứa con trở về.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.