Chương 6: Ván Cờ
Một Thoáng Nhân Gian
Mục lục
14 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 14/14 chương
Gió đêm mùa hạ thổi qua những rặng tre bao quanh thôn Thanh Sa, mang theo hơi ẩm nồng cùng mùi bùn phèn từ sông Vọng Nguyệt hắt vào vách đất.
Tiếng ếch nhái râm ran ngoài bãi bắp ngập nước. Cả xóm chài nghèo chìm sâu trong giấc ngủ nặng nề sau một ngày còng lưng kéo lưới và cuốc đất. Thỉnh thoảng, tiếng chó sủa vu vơ dội lại từ phía chòi canh đê rồi tắt ngấm giữa màn đêm mịt mùng.
Ở góc tây thôn, gian thư quán dựng bằng tre nứa trên gò đất cao ven bìa rừng vẫn còn le lói một đốm sáng tù mù. Ngọn đèn dầu phụng cháy leo lét trên chiếc đôn gỗ mủn, bấc đèn cháy dở tỏa ra làn khói mỏng khét lẹt, quyện chặt lấy mùi giấy bồi ẩm mốc và hơi đất xông lên từ nền nhà nứt toác.
Tống phu tử ngồi một mình bên chiếc bàn đá xám. Tấm áo dài vải thô màu lam nhạt quanh năm không đổi đã giặt đến bạc thếch ở hai bên nẹp, cổ áo sờn rách, vạt áo lấm tấm tàn thuốc cùng những vệt mực tàu loang lổ. Mái tóc hoa râm búi xộc xệch, giữ chặt bằng một que trâm tre gãy cụt đầu. Lão ngồi hơi nghiêng người, bàn tay gầy guộc nổi gân xanh vô thức áp chặt vào vết sẹo dài lồi lõm kéo từ mạn sườn xuống tận bụng dưới, nơi đan điền từng bị phế bỏ ba mươi năm về trước. Cạnh mép đá, chiếc ống điếu tre hun khói đen bóng nằm gác ngang miệng một chiếc chén sành, sát bên là chiếc nghiên mực bằng ngọc tủy sứt góc đã cạn khô đáy mực.
Mặt bàn đá xám vốn là một phiến đá nhặt dưới lòng suối cạn. Tự tay lão đã dùng đục sắt gõ thành những đường rãnh dọc ngang xiêu vẹo, rãnh nông rãnh sâu bám đầy bụi than để phân định các ô cờ. Hai bên mép đá đặt hai chiếc chén sành mẻ miệng đựng sỏi suối đen trắng nhặt nhạnh ngoài bãi bồi, viên méo viên tròn xù xì, có viên sứt góc vẫn còn vương chút rêu khô đóng vảy.
Lão nâng chén trà đắng men rạn nguội ngắt lên nhấp một ngụm nhỏ, đôi mày rậm nhíu lại khi một cơn nhức buốt từ vết sẹo cắn sâu vào da thịt. Tiết trời vào hạ nóng nực nhưng khí ẩm sông nước vẫn làm những đường kinh lạc đứt gãy của lão râm ran co giật. Đầu ngón trỏ và ngón giữa tay phải ngả màu vàng khè vì khói thuốc rê, lão cầm chiếc ống điếu gõ cộc cộc vào cạnh bàn đá để thông tàn thuốc.
Ngoài thềm vang lên tiếng bước chân dừng lại, kèm theo tiếng sột soạt rất khẽ của rơm bện cọ vào cát vụn. Thiếu niên dừng trước bậu cửa, cúi người tháo đôi dép cỏ sờn gót đặt ngay ngắn sát góc vách nứa, cẩn thận gõ nhẹ gót chân cho rơi bớt cát dăm rồi mới bước vào. Cánh cửa liếp đan bằng nứa mủn khẽ rung lên.
Tống phu tử không buồn ngẩng đầu, ngón tay vẫn mân mê một viên sỏi đen ráp nhám:
"Nửa đêm mò tới chốn rách nát này làm gì. Đám phu mỏ Trầm Sa Nô không lo ngủ lấy sức giữ mạng, muốn vào đây xin chữ hay xin cơm thừa?"
Cánh liếp đẩy nhẹ sang một bên, bóng thiếu niên gầy guộc bước qua bậu cửa.
Lý Vọng Thư đứng lặng dưới ánh đèn dầu tù mù. Hắn mặc chiếc áo vải gai ngắn tay đã sờn rách nhiều chỗ, mép gấu áo còn bết chút bùn khô chưa kịp gột sạch. Đôi bàn chân trần còn vương bụi đất của hắn đặt dè dặt dò độ vững trên nền đất nứt trước khi dồn sức bước tới. Vạt áo phong phanh để lộ những vết cào xước do đá tai mèo cứa vào da thịt dưới lòng sông, miệng vết thương đã se lại thành những vệt đỏ sẫm. Đầu ngón trỏ tay phải của hắn còn hằn vết sẹo cứa toạc từ những hôm trước, vô thức miết nhẹ lên đùi.
Hắn tiến lại gần bàn đá ba bước, khoanh tay cúi đầu chào theo đúng lễ nghi của kẻ học trò:
"Đêm khuya gió ẩm, thấy đèn của phu tử còn sáng nên đệ tử ghé qua."
Tống phu tử ngước mí mắt sụp xuống nhìn đứa trẻ. Ánh mắt lão dừng lại ở những vết đá cào nơi bắp chân và đôi bàn tay chai sạn của Vọng Thư. Khóe miệng lão giật nhẹ, giọng khô khốc cất lên:
"Mấy tháng ngâm mình dưới bùn lạnh mò đá, ngươi sống dai hơn ta tưởng đấy."
Vọng Thư thò tay vào bọc áo gai trước ngực, lấy ra một chiếc bình gốm nhỏ bằng nắm tay, nhẹ nhàng đặt lên góc bàn đá ngay cạnh chén trà đắng.
Chiếc bình tráng men màu da lươn thô ráp, không có nhãn mác hay chữ viết, miệng bình nút bằng một nút bấc trát kín sáp ong màu vàng sẫm. Chỗ sáp ong đã bị móng tay cạy sứt sẹo vài mảng, để lộ ra kẽ hở bốc lên một mùi hương nồng hắc, thoảng vị nhựa thông pha lẫn mùi xạ hương của loài thú rừng.
Tống phu tử liếc nhìn chiếc bình gốm, bàn tay đang xoa bụng dưới khựng lại. Lão chộp lấy chiếc bình, ghé sát mũi hít một hơi dài. Mùi thuốc nồng hắc xộc vào khoang mũi làm khóe mắt lão giật nhẹ. Lão nheo mắt nhìn chòng chọc vào thiếu niên:
"Dầu xoa bóp kinh lạc bí truyền của họ Phạm. Thứ này chỉ cấp cho lũ giám công trông coi bến mỏ để chống hàn khí ngấm vào tạng phủ. Một tên Trầm Sa Nô hèn mọn như ngươi, lấy đâu ra món thuốc này?"
Vọng Thư nhìn thẳng vào ngọn đèn dầu, vẻ mặt phẳng lặng:
"Tối qua có kẻ bất cẩn sẩy chân xuống dòng nước xiết ở hố xoáy Mắt Rồng, để lại bọc đồ trên mỏm đá bên bờ. Đệ tử vớt được, nhớ phu tử mỗi khi trở trời hay đau nhức vết phế mạch cũ, nên mang sang biếu người."
Gian phòng chìm vào tĩnh mịch trọn vài nhịp thở. Tiếng bấc đèn nổ tanh tách nghe rõ mồn một giữa tiếng gió lùa qua khe nứa.
Tống phu tử đặt mạnh chiếc bình xuống bàn đá, phát ra một tiếng cộp đanh gọn. Gương mặt nhăn nheo của lão tối sầm lại, giọng hạ thấp xuống gằn từng tiếng:
"Sẩy chân? Tên giám công mặt sẹo họ Phạm ở bến Tử Đằng là tu sĩ Luyện Khí tầng hai, chân bám đá như rễ si, làm sao sẩy chân chết đuối được. Thứ này là vật tùy thân của gã. Ngươi to gan thật đấy. Lệnh bài và túi xách bằng da của gã đâu rồi?"
"Dòng xoáy ngầm đã cuốn tất cả xuống đáy sông nước xiết. Nửa mảnh vụn cũng trôi sạch." Vọng Thư bình thản đáp lời.
Ánh mắt Tống phu tử găm chặt vào khuôn mặt non nớt của thiếu niên mười ba tuổi. Lão nhìn thấy sự điềm tĩnh lạ lùng nơi khóe mắt đứa trẻ, không hề có nét run rẩy của kẻ vừa trải qua cơn thập tử nhất sinh hay nỗi sợ hãi của kẻ vừa đoạt mạng người.
Lão thở hắt ra một hơi dài, ngón tay gõ nhẹ lên nắp sáp ong của bình thuốc:
"Sông Vọng Nguyệt nuốt xác người, nhưng lũ tuần đinh trên bờ vẫn còn mắt. Đã ra tay thì phải dọn sạch mọi vết tích, một sợi chỉ vướng lại cũng đủ chôn sống cả hai mẹ con ngươi dưới đáy bùn. Nhớ kỹ điều đó."
Lão ngừng lại một lát, đẩy chén trà sang một bên rồi ngước nhìn Vọng Thư:
"Đem món đồ giữ mạng này tới đây lúc nửa đêm, ngươi muốn cái gì? Nói đi."
Vọng Thư bước tới chiếc ghế đẩu bằng gỗ tạp đối diện bàn đá, kéo ghế ngồi xuống, hai tay đặt ngay ngắn trên đầu gối:
"Đệ tử muốn đánh với phu tử một ván cờ."
Tống phu tử nhướng đôi mày bạc, bật ra một tiếng cười khàn đục nơi cuống họng:
"Đánh cờ? Ngươi biết đánh cờ vây từ khi nào? Một đứa nhỏ cả ngày chỉ biết lặn ngụp mò ốc xúc cá, chữ nghĩa học chưa đầy một bụng, cũng đòi đàm đạo kỳ nghệ với ta?"
"Đệ tử chưa từng học qua sách cờ, nhưng muốn thử đánh một lần."
Tống phu tử nhìn chăm chú vào vẻ mặt kiên định của đứa trẻ. Nét cộc cằn trên trán lão giãn ra đôi chút. Lão gạt chiếc chén sành mẻ đựng những viên sỏi trắng sang phía đối diện:
"Được. Ngươi cầm sỏi trắng, đi trước mười nước."
Vọng Thư vươn hai ngón tay chai sần, nhặt lấy một viên sỏi trắng thô ráp, đặt cạch một tiếng xuống góc trên bên phải của bàn cờ đá.
Đó là một nước đi vụng về, nằm trơ trọi sát mép rãnh đục, hoàn toàn đi ngược lại mọi quy tắc chiếm góc đoạt thế của kỳ phổ cổ xưa.
Tống phu tử nhếch môi, ngón tay gầy kẹp một viên sỏi đen mịn nhẵn hạ xuống chính giữa góc đối diện. Đối với lão, đây chỉ là một trò chơi vụng dại của đứa trẻ tò mò muốn nhìn ngó thế giới của những kẻ biết chữ.
Vọng Thư vẫn im lặng hạ cờ. Hắn nhặt từng viên sỏi trắng trong chén sành, không hề suy nghĩ về bố cục lớn nhỏ, cứ gặp rãnh trống là đặt xuống. Nước cờ rời rạc, các quân sỏi trắng tản mát như những đám rác trôi sông.
Chỉ sau mười nước, bàn cờ đã bộc lộ rõ sự chênh lệch một trời một vực. Tống phu tử vốn xuất thân từ Thiên Cơ Tông, cả đời chìm đắm trong phù trận và dịch lý. Từng viên sỏi đen của lão hạ xuống bàn đá nghe khô khốc, liên kết chặt chẽ với nhau thành từng dải lưới vô hình siết chặt từng ngả đường. Quân đen chia cắt đám cờ trắng thành từng mẩu vụn cô lập, bóp nghẹt mọi đường thở ra vào.
Đến nước cờ thứ ba mươi, theo mọi chuẩn mực của thế gian, đám cờ trắng của Vọng Thư đã rơi trọn vào tử địa. Bốn bề quân đen vây bọc trùng trùng điệp điệp, không còn lấy một ngả đường để liên kết hay phản kích. Bại cục đã định rõ mười phần.
Thế nhưng, thiếu niên mười ba tuổi ngồi trước bàn đá vẫn ngồi yên bất động.
Ánh mắt hắn dán chặt vào những đường rãnh đá ngoằn ngoèo bám đầy bụi than. Ngón tay trỏ và ngón giữa của hắn lại vươn vào chén sành, nhặt lên một viên sỏi trắng méo mó có cạnh sắc.
Cạch.
Viên sỏi trắng hạ xuống một góc chết chật hẹp sát mép đá ngoài cùng, nơi chỉ có hai đường rãnh giao nhau cụt lủn. Một vị trí mà bất kỳ người học cờ nào cũng coi là nước đi tự sát ngu xuẩn.
Tống phu tử khẽ cau mày, ngón tay cầm sỏi đen của lão khựng lại. Lão liếc nhìn đứa trẻ, rồi dứt khoát hạ quân đen chặn đứng đường sống của viên sỏi trắng ấy.
Vọng Thư lập tức nhặt viên sỏi trắng tiếp theo, nhét vào một khe hở nhỏ hẹp khác nằm kẹp giữa ba quân đen hung hãn.
Từng tiếng sỏi gõ cạch cạch nối nhau giòn đanh trên phiến đá xám giữa gian phòng vắng.
Vọng Thư đánh cờ như một kẻ lặn sông đang giành giật sự sống dưới đáy bùn lầy. Hắn kiên nhẫn tìm kiếm từng khe nứt nhỏ nhất trên mặt đá để nương náu. Hắn hạ cờ vào những xó xỉnh tăm tối nhất nơi các rãnh đục giao nhau cụt lủn, cắm rễ từng mầm sống mong manh.
Từng đốm sỏi trắng cô độc bám chặt lấy các rãnh cụt, tự tạo cho mình một hơi thở thoi thóp giữa vòng vây ngột ngạt.
Đến nước cờ thứ năm mươi, bàn đá trở nên hỗn loạn dị thường. Xét về số đất chiếm được, Vọng Thư đã thua trắng bụng, cả bàn cờ hầu như đã rơi vào tay quân đen. Thế nhưng, trên khắp mặt phiến đá xám, không có lấy một cụm cờ trắng nào chịu chết rục hoàn toàn. Những viên sỏi trắng méo mó vẫn cắm chặt vào các góc chết, rải rác khắp nơi như những mảng rêu lì lợm mọc trên vách đá nứt, cắn răng kéo dài sự tồn tại của mình.
Bàn tay cầm sỏi đen của Tống phu tử từ từ hạ xuống mép bàn. Lão nhìn chằm chằm vào những viên sỏi trắng nằm chen chúc trong khe đá, rồi ngẩng đầu nhìn thẳng vào thiếu niên trước mặt.
Gió đêm thổi qua khe cửa làm ngọn đèn dầu chao đảo, hắt bóng hai người in dài lên vách nứa. Trán Vọng Thư lấm tấm những giọt mồ hôi mỏng, khóe môi hắn mím chặt, hai bàn tay đặt trên đầu gối vẫn giữ nguyên tư thế vững như bàn thạch.
"Cờ của ngươi hỗn loạn như đàn kiến chạy loạn, thua không còn một mảnh giáp." Giọng Tống phu tử trầm đục vang lên trong đêm. "Tại sao không chịu buông cờ? Cố sống cố chết chen vào những góc cụt ấy để làm gì?"
Vọng Thư ngước mắt nhìn lão già, giọng nói mộc mạc vang lên rõ ràng từng tiếng:
"Đệ tử chưa từng học kỳ phổ. Nhưng dưới đáy sông Vọng Nguyệt nước lạnh ngàn cân đè nghẹt lồng ngực, nếu chỉ vì ngộp thở mà buông tay xuôi dòng thì xoáy nước sẽ đập nát xác vào vách đá ngầm. Bàn cờ này của người cũng giống như đáy vực sâu vậy. Dù bị vây bốn bề, chỉ cần còn một kẽ nứt để thở, đệ tử sẽ bám chặt lấy kẽ nứt ấy. Sống sót thêm một khắc, mới mong có ngày trồi lên nhìn thấy mặt trời."
Tống phu tử ngồi chết lặng trên ghế đẩu.
Lão nhìn đăm đăm vào bàn đá xám, bàn tay gầy gò vô thức lại áp lên vết sẹo dài nơi bụng dưới. Vết thương cũ dường như lại nhói buốt trước những lời nói thô mộc vừa thốt ra từ miệng một đứa trẻ phàm nhân mười ba tuổi.
Ba mươi năm trước ở Thiên Cơ Tông, lão từng là một trong những kẻ am tường trận đạo, tự phụ tài trí hơn người. Nhưng đến khi nhát đao của kẻ thù chém nát đan điền, chặt đứt đường tiên lộ, lão liền ngã quỵ, nản lòng thoái chí buông xuôi tất cả. Lão trốn chạy về chốn thôn dã nghèo đói này, chôn vùi ngày tháng bên bàn cờ đá và chén trà nguội, tự xem mình như kẻ tàn phế chờ ngày vùi xác dưới ba tấc đất.
Lão từng nắm giữ vạn quyển kinh tạng, hiểu thấu biến hóa của càn khôn âm dương, vậy mà khi đối diện nghịch cảnh, lão lại buông xuôi dễ dàng hơn một đứa trẻ phế thể ngâm mình trong bùn lạnh kiếm cơm nuôi mẹ.
Khoảng lặng kéo dài giữa hai người. Đầu ngón trỏ tay phải của Vọng Thư vô thức miết nhẹ lên một đường rãnh đục trên mặt đá, cảm nhận độ nhám ráp của hạt cát sót lại dưới đáy rãnh.
Tống phu tử cầm chiếc ống điếu tre hun khói gõ cộc cộc ba tiếng xuống mép bàn đá. Tàn thuốc rơi lả tả xuống nền đất. Ánh mắt kèm nhèm của lão nhìn xoáy vào từng viên sỏi trắng đang chen chúc trong kẽ đá, rồi dừng lại trên khuôn mặt góc cạnh gầy gò của thiếu niên. Trong đáy mắt đục ngầu lóe lên một tia sáng kỳ dị khó lường, thoáng qua rồi tắt lịm.
Lão vươn tay gạt phăng đám sỏi đen trên bàn cờ dồn vào trong chén sành, phát ra những tiếng va chạm lách cách:
"Ngươi muốn học trận đạo?"
"Đệ tử muốn hiểu rõ quy luật của trời đất để tự tìm đường sống cho mình." Vọng Thư đáp dứt khoát. "Người đời đều bảo thiếu linh căn thì muôn đời là cỏ rác dưới chân tu sĩ. Nhưng đệ tử thấy phù văn, trận đồ hay con chữ đều do con người vẽ ra. Hiểu được trật tự của chúng, kẻ hèn mọn cũng có thể tìm được lối thoát giữa chốn hiểm nguy."
Tống phu tử nhìn xoáy vào mắt thiếu niên một lát rồi dứt khoát lắc đầu:
"Ta không dạy ngươi."
Vọng Thư khẽ ngưng lại một nhịp thở, nhưng sắc mặt không hề đổi khác.
"Ta đã phế mạch, ngươi là kẻ tuyệt mạch. Cả hai đều là phế nhân bị tiên lộ gạt ra ngoài rìa, ta lấy tư cách gì làm thầy của ngươi." Tống phu tử cúi xuống, nhặt một viên sỏi trắng sứt sẹo bỏ lại vào bát. "Nhưng từ đêm nay, mỗi đêm canh ba, cửa liếp gian nhà này cứ để khép hờ. Ngươi có thể tới đây. Ta tự đánh cờ một mình, ngươi ngồi bên cạnh mà xem. Ta không giảng giải nửa câu, không chỉ điểm một lời. Nhìn ra được cái gì, ngộ được bao nhiêu, hoàn toàn dựa vào cái mạng của ngươi."
Bàn tay Vọng Thư đặt trên đầu gối khẽ siết nhẹ lấy mép vải thô. Hắn đứng dậy, lùi lại hai bước, cúi gập người hành một đại lễ:
"Đệ tử ghi nhớ."
"Đừng gọi ta là thầy." Lão già phất tay áo cộc lốc. "Ở chốn này không có quan hệ thầy trò, chỉ có một kẻ tàn phế và một người xem cờ."
Nói đoạn, Tống phu tử chống tay đứng dậy, lê bước chân tập tễnh đi về phía góc phòng tối tăm. Lão lục lọi trong chiếc rương gỗ mục bám đầy mạng nhện một hồi lâu, rồi rút ra một cuốn sách cũ nát, quăng mạnh xuống mặt bàn đá trước mặt Vọng Thư.
Bìa cuốn sách bọc bằng da thú thô ráp đã mốc meo từng mảng lớn, các góc sách mòn vẹt rách tươm, gáy sách được khâu lại vụng về bằng sợi gân trâu đã khô cứng. Trên mặt bìa da bám bụi, ba chữ cổ quái được khắc chìm bằng mực đen đã phai nhạt: Vạn Vật Đạo Vận Lục.
"Cuốn sách rách này ta nhặt được dưới chân núi Thiên Cơ Tông năm xưa." Giọng Tống phu tử dửng dưng như đang nói về một món đồ bỏ đi. "Bên trong toàn những hình vẽ kỳ dị ghi chép về vân đá, thớ gỗ, dòng chảy của khe suối và trật tự của lá cây. Cầm lấy mà đọc. Đọc hiểu được hay không thì tùy duyên phận."
Vọng Thư đưa hai tay nâng lấy cuốn sách cổ. Lớp bìa da lạnh ngắt chạm vào lòng bàn tay chai sần của hắn, tỏa ra một mùi ẩm mốc ngai ngái xen lẫn mùi giấy bồi ngâm nước lâu ngày.
Hắn cẩn thận ôm cuốn sách vào trong ngực áo, cúi đầu tạ từ rồi xoay người bước ra phía cửa.
Bước qua bậu cửa, thiếu niên ngồi xổm xuống mép thềm nứa, xỏ chân vào đôi dép cỏ sờn gót. Ngón chân cái thuần thục luồn qua quai bện rơm ráp đã tưa sợi. Hắn trân quý giữ gìn từng sợi dây đay đan đế, chỉ những lúc lặn ngụp dưới bùn sông mò đá mới dám tháo ra vì sợ ngâm nước mục đứt.
Bóng dáng mảnh khảnh của thiếu niên nhanh chóng hòa tan vào màn đêm đen đặc ngoài ngõ vắng. Tiếng đế dép cỏ giẫm lạo xạo lên cát sỏi xa dần rồi chìm hẳn vào tiếng ếch nhái râm ran ngoài đồng bãi.
Trong gian thư quán xiêu vẹo, tim đèn dầu phụng lụi dần, tỏa ra làn khói xám khét lẹt quyện chặt lấy hơi sương ẩm ướt lùa qua phên nứa.
Tống phu tử ngồi lặng lẽ bên phiến đá xám, một mình nhấp nốt ngụm trà đắng ngắt đã lạnh tanh từ lâu. Trên mặt bàn cờ đá bỏ lại sau lưng, một viên sỏi trắng thô ráp méo mó vẫn kẹt cứng sâu trong rãnh đục xiêu vẹo, trơ trọi bám trụ giữa phiến đá xám, mặc cho từng cơn gió đêm mùa hạ thổi bụi tro mờ mịt phủ lên.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.