Một Thoáng Nhân Gian

Chương 11: Thiên Hạ Vô Đạo

Đăng: 19/09/2026 16:15 5,266 từ 78 lượt đọc

Bản thu tác giả

Đăng nhập để nghe bản thu

Nghe playlist liên tục

Chỉ còn manh áo cộc vải thô phong phanh trên người, Vọng Thư men theo những lối mòn hoang vắng đi miết về phương Nam.

Hắn tránh xa các thị trấn lớn, tránh những ngã ba trạm dịch nơi quan phủ cắm cột treo bảng cáo thị. Lệnh truy nã của nha môn kinh kỳ dán khắp các cổng thành lớn, chỉ cần sơ sẩy bước vào một quán nước ven đường quan đạo cũng đủ rước lấy gông cùm. Hắn lần theo bờ ruộng cằn, men theo những con rạch cạn rậm rạp cỏ dại, chỉ ghé vào những xóm nghèo xơ xác nằm nép bên mé nước.

Ở những nơi ấy, người ta bận lo bữa ăn từng ngày hơn là chuyện kinh thành thay đổi. Vọng Thư đổi vài nét vẽ phong thổ trên vách đất, chép thuê dăm dòng sớ khấn mùa màng cho người già cả để đổi lấy một củ khoai nướng sượng sùng hay một gáo nước mưa lóng phèn. Đêm đến, hắn tá túc trong những gian chòi lá hoang phế bên mé rạch, co ro nghe gió chướng rít qua rặng lau sậy khô khốc.

Hắn đi qua ba bận mặt trời lặn rồi lại mọc, rồi bốn bận, chẳng buồn đếm nữa. Đôi dép cỏ mòn vẹt đế lạo xạo trên sỏi đá, đất bùn bết vào kẽ ngón chân khô lại thành từng mảng nứt nẻ. Vết đá dăm toạc ống chân từ đêm chạy trốn khỏi kinh thành đã se miệng, đóng thành một vệt vảy đen sần sùi cộm lên dưới gấu quần gai. Mỗi lần bước hụt xuống rãnh cày, vệt sẹo lại giần giật nhói buốt, nhưng hắn cứ cắm cúi bước, chẳng dám nán lại lâu ở bất cứ xóm đò nào.

Cánh cửa nách trường thi đã khép chặt sau lưng hắn. Tấm ván gỗ sơn son thếp vàng, những bài văn chương đạo lý thánh hiền cùng ước vọng đổi đời của một đứa con chốn nghèo khó đều đã vỡ vụn dưới gót giày bọn mua quan bán tước. Phía trước mặt hắn bây giờ là lau sậy xao xác rạp mình trong gió chướng, những gò đất cằn cỗi trơ sỏi đá và con đường độc đạo dẫn sâu vào xứ lạ.

Mỗi khi đêm xuống, nằm co quắp trên nền đất lạnh nghe tiếng dế rỉ rả dưới gầm chòi hoang, bàn tay hắn lại lần vào trong ngực áo cộc. Chiếc nhẫn bạc xỉn màu của mẹ treo lủng lẳng trên sợi dây vải gai áp sát vào da thịt, buốt nhói. Hắn nắm chặt chiếc nhẫn trong lòng bàn tay, cảm nhận từng đường khía sờn mòn mà mẹ hắn đã giữ gìn suốt mười mấy năm qua giữa bùn lầy gió bụi. Nhớ lời mẹ dặn bên bến sông năm nào, nhớ con đường cha hắn đã liều mình chạy về hướng núi để dắt mối truy binh mở lối sống cho hai mẹ con, lồng ngực hắn lại thắt lại. Hắn nhắm mắt, nuốt khan một ngụm nước bọt chát đắng. Rạng ngày, khi sương mù còn giăng mờ trên mặt nước rạch, hắn xốc quai đãy vải rách lên vai, cất bước đi tiếp.

Buổi chiều hôm ấy, bầu trời mạn tây bỗng đổi sắc. Những dải mây thâm sì từ dãy núi xa cuộn tròn từng khối lớn, kéo về che khuất ánh ráng chiều le lói cuối ngày. Gió đổi chiều đột ngột, thốc ngược từ lòng kênh lên mang theo mùi bùn tanh nồng và hơi nước nặng trịch báo hiệu một cơn dông lớn sắp đổ ập xuống đồng bãi. Bỏ lại sau lưng hơn trăm dặm đường đất kinh kỳ, Vọng Thư dừng chân bên bìa một xóm chài nhỏ nằm nép mình ven con kênh dẫn nước mạn nam.

Xóm chài chỉ vỏn vẹn chừng dăm nóc nhà xiêu vẹo, lợp bằng lá dừa nước mục nát xơ xác, cắm cọc tràm lỏng lẻo bên mép nước cạn trơ đáy phèn. Mùa này nước kênh kiệt, lòng rạch nứt toác thành những rãnh nẻ sâu hoắm, cá tôm hiếm hoi. Trên những chiếc giàn tre cắm xiêu vẹo trước sân, vài con cá vụn teo tóp phơi mình ruồi bâu đen đặc. Cả xóm chài im lìm trong cảnh nghèo đói cùng cực, ngột ngạt dưới áp lực của cơn dông đang chực chờ trút nước.

Vọng Thư nép mình vào bóng rậm của rặng tre già đầu xóm, toan ngồi nghỉ chân trên bờ đất, chờ cơn mưa đi qua rồi mới tính đường tìm chỗ ngủ trọ. Hắn tháo quai đãy vải, đặt con đoản đao rỉ sét lên đùi, vừa xoa bóp bắp chân đang căng cứng vừa dõi mắt nhìn xuống con đường đất đỏ chạy dọc bờ đê.

Đúng lúc ấy, tiếng móng sắt gõ lọc cọc trên mặt sỏi đá truyền lại từ đầu thôn, phá tan cõi tĩnh mịch oi nồng.

Tiếng vó ngựa mỗi lúc một dồn dập, kéo theo tiếng kim loại va chạm leng keng và tiếng bánh xe gỗ kẽo kẹt nghiến trên nền đất khô. Một cỗ xe ngựa thô sơ nẹp đồng nặng trịch tiến vào xóm. Thùng xe phía sau quây kín bằng những thanh nan gỗ dày, khóa bằng xích sắt hoen rỉ, khe hở chỉ vừa đủ thò ra vài ngón tay. Đó là loại xe chuyên dùng để áp giải phu dịch hoặc lùa nô dịch về nha môn huyện.

Ngồi trên đệm lót phía trước thùng xe là một tên quan thu thuế béo núc ních, khoác chiếc áo gấm xanh thêu hoa văn chìm nhưng gấu áo đã lấm lem bụi bặm. Tay gã kẹp chặt cuốn sổ bộ bọc da dê đã ố vàng, gương mặt phị ra đầy những ngấn mỡ thịt, đôi mắt ti hí đảo quanh với vẻ cau có ghê tởm cảnh nghèo nàn bẩn thỉu nơi xóm chài. Đi bộ tản mát hai bên hông xe là bốn tên nha sai mặc giáp vải thô nẹp da, chân quấn xà cạp cẩn thận, tay lăm lăm những thanh đại đao bản rộng tuốt trần sáng loáng.

Cỗ xe ngựa dừng xịch lại ngay trước khoảnh sân đất của gian nhà lá rách nát nhất xóm, nằm sát mép kênh.

Gã quan béo lặc lè chống tay vào thành xe, tụt phịch xuống đất. Đôi ủng da trâu bóng loáng của gã giẫm lên nền đất khô khốc bốc mùi tanh nồng bên giàn phơi cá vụn. Gã rút chiếc khăn lụa trong bọc ra chấm mồ hôi trên cổ, đưa mắt nhìn soi mói vào căn chòi liếp.

Trước sân, một lão nông gầy gò trơ cả khung xương sườn run rẩy buông rơi manh lưới rách đang vá dở. Nơi ngạch cửa đất nứt nẻ, người vợ luống tuổi đang ngồi bện dây gai vội buông rơi cuộn dây, mặt mày xám ngoét như tro tàn. Một thiếu nữ chừng mười lăm tuổi trong manh áo vá chằng vá đụp lấm lem bùn phèn hoảng hốt nép sát vào sau lưng mẹ. Nàng giấu cả hai bàn tay vào vạt áo, vai run rẩy từng chập.

Tóc nàng thắt bím gọn gàng sau lưng bằng một sợi dây vải thô màu đỏ điều đã phai bạc mép, sợi chỉ viền sờn rách để lộ từng mối chỉ tơ cũ kỹ. Khuôn mặt thiếu nữ xương xương, gầy gò vì thiếu ăn lâu ngày, đôi mắt đen láy cụp xuống đượm vẻ trầm tư, tĩnh lặng lạ thường giữa cảnh khốn cùng. Nơi cổ tay trái khẳng khiu, chiếc vòng bằng bạc trơn xỉn màu có một vệt xước sâu lấp ló sau mép vải áo cộc. Dù khoác manh áo vá rách rưới thảm hại, cần cổ nàng vẫn để lộ làn da sáng màu, khác hẳn vẻ thô ráp xạm đen của đám dân chài suốt ngày phơi nắng ngâm phèn quanh vùng.

"Lệ Tam!" Tên quan béo cầm đầu roi da ngựa gõ cồm cộp lên thành xe, giọng lè nhè hách dịch. "Hôm nay là hạn chót của kỳ thuế lương vụ hạ. Ba mươi cân lúa nộp kho của nhà ngươi đâu?"

Lão nông run bắn người, quỳ rạp xuống nền đất lổn nhổn sỏi đá. Hai bàn tay khẳng khiu như cành củi khô nâng chiếc sọt tre nhỏ lên quá đầu, bên trong chỉ vỏn vẹn dăm đấu lúa lép xẹp, hạt vàng hạt đen lẫn lộn với trấu vụn:

"Bẩm quan lớn..." Giọng lão run rẩy, nghẹn ngào như sắp khóc. "Năm nay trời làm hạn hán khốc liệt, nước kênh cạn trơ đáy, rồi lại sâu rầy cắn phá sạch mùa màng... Cả nhà con gom góp, vay mượn khắp lượt họ hàng chòm xóm cũng chỉ chắt chiu được ngần này nộp lên... Đội ơn quan lớn thương xót, mở lượng hải hà cho gia đình con khất lại sang vụ đông... Bằng không, cả nhà con thực sự hết đường sống, chỉ có nước chết đói bên bờ kênh mất thôi..."

"Nhà ngươi chết đói thì can hệ gì đến quốc khố triều đình?" Tên quan béo hừ lạnh một tiếng, nhếch mép khinh bỉ.

Ánh mắt ti hí của gã quét qua chiếc sọt lúa lép rồi bất chợt dừng sững lại trên người thiếu nữ đang co rúm sau lưng người mẹ. Cái nhìn nhớp nhúa của gã lướt từ cần cổ trắng ngần, trượt qua bờ vai gầy đang run rẩy rồi dừng lại trên vóc dáng mảnh mai lấp ló sau vạt áo cộc. Cơn gió dông thốc ngược từ lòng kênh thổi bạt manh áo vải thô mỏng manh, ép chặt vào thân thể thiếu nữ, để lộ đường cong vừa chớm nở giữa cảnh bần hàn. Gã nhướng đôi mày rậm rạp, khóe miệng giật giật để lộ hàm răng ố vàng khói thuốc:

"Chiếu theo điển lệ trưng thu của nha môn, phàm kẻ nào trốn thuế, thiếu thuế kho quá hạn đều bị phạt trượng năm mươi, sung vào đoàn đinh phu đi khai mỏ biên ải, gia quyến tịch biên bán làm nô tỳ. Nhưng bản quan xưa nay vốn có lòng từ bi, thấy gia cảnh ngươi bần hàn cũng ráng mở cho một con đường sống. Con gái ngươi tên là Lệ Chi phải không? Nhan sắc này mà chôn vùi nơi vũng bùn xóm chài thì uổng phí cả tạo hóa. Đưa nó về phủ bản quan nạp làm thiếp thất hầu hạ sớm hôm, vừa hay bản quan xóa sạch số nợ ba mươi cân lúa trong sổ bộ, lại thưởng thêm cho nhà ngươi vài quan tiền mua gạo ăn qua ngày."

"Quan lớn tha cho con nhỏ!" Người mẹ nghe thấy thế thì rụng rời chân tay, hoảng loạn quỳ lết tới ôm chầm lấy đôi ủng da của tên quan, dập đầu chan chát xuống nền đất cứng đến toát máu trán. "Con bé còn nhỏ dại ngây thơ, chưa hiểu sự đời, xin quan lớn rủ lòng thương tha cho con nhỏ! Có bắt thì bắt thân già cỗi tàn tạ này đi làm trâu làm ngựa đền nợ thay cho con!"

"Cút ra! Thứ tiện tỳ già nua dơ dáy như ngươi, đem cho không ngoài chợ cũng chẳng ma nào thèm dòm ngó!"

Tên quan béo cau mày quát lớn, giật mạnh chân áo rồi phất tay ra hiệu cho đám nha dịch phía sau.

Một tên lính lực lưỡng sải bước tới, thẳng chân đá tung chiếc sọt tre trên tay lão nông. Chiếc sọt lộn nhào giữa không trung, những hạt lúa lép ít ỏi văng tung tóe khắp mặt sân, rơi lả tả xuống những kẽ nứt nẻ trên nền đất khô. Chiếc ủng da bẩn thỉu của tên lính giẫm mạnh lên mu bàn tay gầy còm của lão già, nghiến chặt xuống khiến xương khớp ngón tay kêu răng rắc dưới lớp sỏi dăm. Lão nông đau đớn kêu lên một tiếng nghẹn ngào, mu bàn tay dập nát ép chặt vào nền đất bụi cằn cỗi.

Tên lính tiện đà vung chân đạp thẳng vào hông người mẹ đang quỳ van lạy bên cạnh. Cú đạp mạnh hất người đàn bà khốn khổ văng xa mấy trượng, lăn lông lốc xuống triền dốc bờ kênh, va mạnh vào cọc tràm gãy trơ gốc bên triền đất khô.

"Mẹ!"

Tiếng kêu thét kinh hoàng của thiếu nữ vang lên rách toạc bầu không khí oi nồng trước cơn mưa.

Lão nông dưới đất trừng mắt nhìn vợ con bị hành hạ tàn độc. Sự uất hận dồn nén đến tột cùng khiến lão quên bẵng nỗi sợ hãi roi vọt quan nha. Lão gầm lên một tiếng như dã thú trúng tên, vùng dậy vớ lấy chiếc cọc rào tre nhọn hoắt cắm bên giàn phơi, điên cuồng lao thẳng về phía tên quan béo.

"Lũ súc sinh cướp ngày! Tao liều mạng với chúng mày!"

Gió dông thốc mạnh làm bụi cát bay mù mịt.

Xoẹt!

Một đường sáng lạnh lẽo chém rách màn gió bụi.

Tên nha sai đứng cạnh cỗ xe vung tay dứt khoát. Thanh đại đao bản rộng vẽ nên một vòng cung chết chóc giữa thanh thiên bạch nhật.

Mũi đao ngọt sớt xén qua cần cổ gầy gò của lão nông. Thủ cấp lão lìa khỏi cổ, rơi ầm xuống nền đất nứt nẻ trước sân, hai mắt vẫn mở to giận dữ. Thân hình mất đầu lảo đảo bước thêm nửa bước rồi đổ vật xuống đất. Máu tươi từ cuống họng phun xối xả như suối, nhuộm đỏ manh lưới rách, nhuộm đỏ những hạt lúa lép đang vương vãi trên nền đất bụi và bắn tung tóe lên vạt áo cộc của thiếu nữ.

"Cha!"

Tiếng thét xé ruột xé gan của Lệ Chi vang lên chói gắt bên bờ kênh. Nàng vùng khỏi ngạch cửa, điên cuồng lao tới bên xác cha. Chưa kịp chạm vào manh áo đẫm máu của người đã khuất, hai tên nha dịch đã xốc tới, tóm chặt lấy hai bả vai nàng bẻ ngoặt ra sau lưng.

"Buông ta ra! Lũ ác nhân, buông ta ra!"

Nàng giãy giụa dữ dội, vặn mình đến mức khớp vai kêu khục một tiếng khô khốc. Trong cơn tuyệt vọng cùng cực, nàng nghiến răng cắn ngập vào cổ tay tên lính đang giữ chặt mình. Tên lính đau đớn chửi thề một tiếng thô tục, giáng thẳng một cái tát nảy lửa vào má nàng.

Cú tát khiến khóe môi thiếu nữ rách toạc ứa máu. Bím tóc thắt gọn sau lưng bung ra, sợi dây vải màu đỏ điều bay tuột khỏi mái tóc rối bời, rơi tọt xuống nền đất khô bụi dưới chân. Vài hạt mưa dông to như hạt bắp bắt đầu lộp bộp quất xuống nền đất khô khốc, bốc lên mùi đất khét nồng. Chiếc vòng bạc trơn xỉn màu nơi cổ tay trái va mạnh vào xích sắt khóa thùng xe, phát ra những tiếng kêu lanh lảnh buốt óc giữa những giọt mưa đầu tiên chát chúa.

Bốp!

Tên nha sai còn lại lật ngược chuôi đao sắt, nện một đòn vào sau gáy nàng.

Tiếng thét tắt ngấm trong cổ họng. Đôi mắt thiếu nữ dại đi rồi lịm dần, thân hình mềm nhũn như sợi bún. Hai tên lính lấy dây thừng trói gô hai tay hai chân nàng lại, quẳng mạnh vào sàn thùng nan gỗ phía sau cỗ xe như quẳng một bao hàng. Tiếng then cài sắt đóng sầm lại đánh cạch một tiếng lạnh lùng.

Dưới mép kênh, người mẹ ngắc ngoải bò ngược lên triền dốc. Bụi đất và cỏ khô nhơ nhớp phủ kín thân hình tàn tạ của bà. Trông thấy xác chồng cụt đầu nằm vắt ngang sân và con gái bị nhốt vào thùng xe, bà há miệng muốn gào thét nhưng trong họng chỉ phát ra những tiếng nấc nghẹn ứ nước dãi tanh tưởi. Bàn tay xương xẩu cào cấu trên mặt đất khô khốc, cố vươn về phía cỗ xe ngựa.

Tên quan béo đứng trên bậc xe, liếc nhìn người đàn bà đang quằn quại dưới đất với vẻ khinh miệt xen lẫn bực bội:

"Ồn ào chết đi được. Lôi nó vào trong chòi lá, dạy dỗ lại cho biết phép tắc nha môn."

Hai tên lính còn lại nhìn nhau, nhếch mép cười thỏa hiệp. Chúng sải bước xuống triền kênh, nắm lấy hai mắt cá chân người mẹ kéo lê ngược vào trong gian lều tranh ẩm thấp. Cánh cửa liếp đan bằng tre mục đóng sầm lại, ngăn cách mọi ánh nhìn.

Từ bên trong căn lều, tiếng van xin rách nát của người mẹ vọng ra từng chặp. Tiếng van xin khàn đục, ngắt quãng, hòa lẫn với tiếng áo quần bị xé rách toạc và tiếng cười đùa tục tĩu của lũ lính nha môn. Rồi tiếng van xin nhỏ dần thành những tiếng thở dốc nghẹn ngào. Tiếng thở dốc cũng lịm dần theo từng nhịp roi vọt và tiếng đạp chân huỳnh huỵch trên nền vách nứa.

Đến khi chỉ còn lại tiếng mưa rào rào dội xuống mái lá rách, bên trong căn lều đã lặng ngắt như tờ, mọi hơi thở đều tắt lịm.

Hai tên lính bước ra ngoài, kéo lại vạt áo giáp và lau mồ hôi trên trán, vẻ mặt thỏa thuê man rợ.

Tên quan béo trèo lại lên đệm lót cỗ xe, thong thả thò tay vào đãy gấm rút ra một xâu tiền đồng han rỉ. Gã vung tay ném xâu tiền xuống bên cạnh xác chết cụt đầu của lão nông:

"Đây là tiền sính lễ nạp thiếp cho nhà ngươi. Nha môn huyện phụng sắc chỉ thu thuế lương, định đoạt vụ này hoàn toàn chiếu theo luật triều đình. Đi thôi, mưa lớn ngập đường bây giờ!"

Tiếng roi da quất mạnh vào mông ngựa. Con ngựa hí vang một tiếng kéo cỗ xe nặng nề quay đầu, bánh gỗ nghiến qua vệt máu sẫm màu rồi hối hả lăn bánh rời khỏi thôn xóm.

Đúng lúc cỗ xe vừa khuất sau rặng tràm, bầu trời như vỡ trận. Mưa đổ ập xuống như thác lũ trắng trời, sấm rền vang núi làm rung chuyển cả mặt đất. Dòng nước xối xả cuốn sạch lớp bụi đất, biến con đường đê thành bãi bùn lầy thụt và nhấn chìm bốn bề xóm chài trong màn mưa mịt mùng. Sau những khe liếp của vài căn chòi lân cận, những đôi mắt của đám dân chài nghèo hé nhìn ra ngoài rồi vội vã rụt lại, then cài cửa đóng chặt trong sự câm lặng đến rợn người. Người ta sợ hãi gông cùm và lưỡi đao quan nha hơn sợ ma quỷ. Cái chết của một gia đình nghèo nơi xó kênh chẳng đổi lại được một lời than khóc của người đời.

Nấp sau bụi tre già rậm rạp, Vọng Thư đứng chôn chân tại chỗ.

Lưng hắn ép chặt vào bờ tre đầy gai nhọn, gai cào rách manh áo cộc, cắm sâu vào da thịt buốt nhói nhưng hắn đứng im phăng phắc. Các khớp ngón tay hắn bấu chặt vào thân tre già đến mức tê dại, trắng bợt. Môi dưới của hắn bị hàm răng nghiến chặt đến rách toạc, vị máu tanh mặn chát tràn ngập trong khoang miệng. Hắn nuốt ngụm máu ấy vào cổ họng để ghìm chặt từng hơi thở đang sôi sục trong lồng ngực.

Bàn chân hắn trong đôi dép cỏ từng nhấc lên khỏi mặt đất khi lưỡi đao hạ xuống. Cơ bắp toàn thân từng căng cứng như dây cung chực bung ra. Nhưng lý trí lạnh lùng đã ghìm chặt gót chân lại trên nền đất đang tan rã dưới dòng nước xối xả.

Trước mặt hắn là bốn tên nha dịch mang giáp sắt, lăm lăm đại đao đã quen tay chém giết, cùng một tên quan huyện đại diện cho cả bộ máy nha môn. Hắn chỉ là một thiếu niên mười sáu tuổi mang thân phận kẻ trốn nã, tấc sắt trên tay chỉ có một con dao róc rễ cùn mẻ. Lao ra lúc ấy chẳng khác nào đem mạng sống ném vào lưỡi đao như lão nông kia. Hắn ngã xuống nơi bờ kênh này, mẹ hắn ở thôn Thanh Sa xa xôi sẽ vĩnh viễn mất tin tức về con, và đứa con gái bị nhốt trong thùng xe kia cũng sẽ mất đi tia hy vọng sống sót duy nhất.

Hắn đứng im như một tảng đá trong bụi rậm, đôi mắt dán chặt vào cỗ xe ngựa đang xa dần, nhìn dòng nước mưa cuồn cuộn cuốn theo vệt máu loang lổ trên mặt kênh phèn.

Sấm rền vang trên đỉnh núi phía tây không dứt.

Khi tiếng lục lạc ngựa và tiếng bánh xe đã hoàn toàn chìm nghỉm trong tiếng mưa gió gầm rít, Vọng Thư mới bước ra khỏi bụi tre.

Bước chân hắn đặt lên nền sân đất sũng nước. Nước mưa cuồn cuộn chảy tràn qua mặt sân, xối sạch vệt máu tươi và cuốn trôi lớp bụi đất ban nãy, để lộ ra những hạt lúa lép nằm vùi dập cạnh xác lão nông. Cánh tay người chết vẫn duỗi thẳng về hướng cỗ xe chở đứa con gái đã đi xa.

Vọng Thư bước vào bên trong gian lều lá rách nát.

Mùi ẩm mốc của mái tranh mục hòa cùng mùi máu tanh nồng xộc thẳng vào mũi. Nơi góc vách tối tăm, thi thể người mẹ nằm co quắp trên nền đất lạnh, manh áo vá bị xé rách tả tơi để lộ những vết bầm loang lổ khắp da thịt. Đôi mắt người đàn bà trợn trừng nhìn lên những kẽ hở dột nát trên mái lá, nơi nước mưa đang nhỏ tong tòng xuống khuôn mặt xám ngoét. Đôi mắt ấy mở to trừng trừng, uất nghẹn và tuyệt vọng đến cùng cực, không sao khép lại được.

Cổ họng Vọng Thư nghẹn đắng lại, một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng lên tận đỉnh đầu.

Hắn quỳ một bên gối xuống nền đất ẩm bên cạnh thi thể người mẹ. Bàn tay hắn vươn ra, nhẹ nhàng khép mi mắt người chết lại. Hắn đứng dậy, gỡ tấm chiếu rách treo nơi vách nứa, cẩn thận phủ kín thân thể tàn tạ của người phụ nữ khốn khổ. Sau đó, hắn bước tới góc lều, cầm lấy chiếc cuốc sắt cùn mẻ lưỡi bị vứt chỏng chơ cạnh đống rơm mục.

Nước mưa trút xuống rát mặt, cuốn bùn đất chảy tràn qua kẽ ngón chân. Thời gian gấp gáp, cỗ xe ngựa chở Lệ Chi đã rời đi trước một quãng, mỗi khắc chần chừ là một khắc tính mạng nàng thêm hiểm nghèo. Hắn không thể tốn hàng buổi để đào một chiếc huyệt kép sâu hoắm giữa nền đất sét ngậm nước nặng trịch.

May thay, ngay sát mép rặng tre đầu kênh có một con rãnh hào đất xói lở sâu hoắm do mùa lũ năm trước khoét vào triền gò. Hắn vội vã bế thi thể người mẹ bọc trong manh chiếu rách đặt xuống lòng hào trước. Sau đó, hắn quay lại sân, cõng thi thể của lão nông cùng phần thủ cấp đặt ngay ngắn bên cạnh vợ lão. Hắn nhặt lấy xâu tiền đồng dính máu ném trên sân, đặt gọn ghẽ vào giữa hai bàn tay đan chéo của hai người chết dưới đáy rãnh hào.

Cầm chiếc cuốc sắt cùn, Vọng Thư dồn sức bạt đất từ thành hào sụp xuống, vun đất lấp vội kín hai thân xác bất hạnh. Hắn khuân một phiến đá xanh nhặt dưới lòng rạch đè chặt lên trên nấm đất để nước mưa khỏi cuốn trôi và ngăn thú rừng đào bới. Dùng đầu nhọn của lưỡi cuốc sắt, hắn dồn sức khắc sâu bốn chữ ngoằn ngoèo lên mặt đá:

Lệ thị phu phụ.

Mưa như trút nước dội xuống phiến đá xanh, rửa trôi những vụn đá dăm vừa cạo ra.

Đứng trước nấm đất đè phiến đá xanh bên bờ kênh hoang vắng, Vọng Thư đứng lặng hồi lâu giữa trời mưa gió. Nước mưa buốt lạnh chảy dài trên trán, rỉ qua khóe mắt, hòa cùng vị mặn chát của máu nơi bờ môi bị cắn nát.

Hắn cúi đầu nhìn xuống đống bùn đất nhão dưới chân mình, nơi xâu tiền đồng vừa rồi từng nằm vùi lấp bên xác chết.

Xâu tiền đồng, dấu triện son đỏ, cuốn sổ bộ da dê của tên quan gấm xanh, cùng một nhát đao chém đứt đầu kẻ bần hàn ngay trước sân nhà. Tất cả những thứ đó nhân danh quốc khố và vương pháp triều đình. Phàm đạo lấy xương máu dân đen làm nền móng, luật lệ chỉ dùng để trói buộc kẻ nghèo hèn. Dưới lưỡi đao ấy, một mạng già tan biến như bèo bọt.

Bàn tay Vọng Thư áp chặt lên ngực áo cộc.

Nơi đó, phiến ngọc hình giáp lân cộm lên trên xương sườn, phả ra từng đợt hơi lạnh ngấm sâu vào da thịt. Khí lạnh buốt giá lưu chuyển trong ngực hắn, xoa dịu buồng phổi đang bỏng rát vì kiệt sức. Nhưng phiến ngọc ấy vẫn câm lặng như tảng đá chìm dưới đáy sông Vọng Nguyệt năm nào. Cõi tiên mây bay gió thổi, những kẻ tu tiên cầu trường sinh ngự trên chín tầng trời cao, coi phàm nhân trần thế chẳng khác loài sâu kiến dưới cỏ. Giữa cơn dông xé rách trời đất này, bóng kiếm tiên xa vời vợi, mây trời mặc nhiên gầm rít trên đầu hai nấm mồ đất lạnh. Tiên đạo cao sang cũng chẳng màng tới một manh chiếu rách.

Tiên đạo buông tay. Phàm đạo bóp nghẹt.

Những uất hận dồn nén từ những ngày trốn chạy, từ bài văn mấy ngàn chữ bị rọc phách tráo tên nơi trường thi, từ bóng lưng người cha liều chết chạy về hướng núi mở đường cho đến cảnh máu nhuộm đỏ manh lưới rách của gia đình lão nông bỗng trào lên nghẹn ứ nơi cuống họng.

Hai hàm răng Vọng Thư nghiến chặt ken két đến buốt tận chân tóc. Khóe môi rách toạc rỉ thêm một vệt máu tươi mặn chát.

"Tiên đạo không cứu được thế gian. Phàm đạo cũng không cứu được thế gian." Hắn nghiến răng, từng chữ bật ra khàn đục giữa tiếng mưa gầm. "Vậy thì ta sẽ cứu được thế gian."

Bàn tay hắn rời ngực áo, nắm chặt lấy chuôi đoản đao rỉ sét nơi cạp quần gai. Chuôi gỗ mộc thô ráp cọ vào lớp da thịt trầy xước buốt rát.

Nếu trời đất đã vô đạo, nếu cả thần tiên lẫn vương pháp đều ngoảnh mặt làm ngơ trước máu và nước mắt của kẻ bần cùng, thì bàn tay trần này sẽ tự mở lấy một lối đi giữa dông bão. Thế gian này ai nấy đều câm lặng, muốn giành giật lại một chút hơi tàn cho người sống sót, chỉ có thể tự mình bước vào tử địa.

Hắn thò tay vào đáy chiếc đãy vải rách, lấy ra gói giấy dầu bọc kín.

Bên trong lớp giấy dầu là một nắm bột mịn màu nâu sẫm của rễ Đoạt Hồn Thảo. Thứ thảo dược này hắn đã tự tay dùng mũi dao cạy đá đào được nơi vách đá mỏ hoang chân núi Huyễn Mộng trong những ngày lang bạt trước khi vào kinh. Mẹ hắn từng dặn rễ cây này độc tính dữ dằn, phu mỏ hít phải hơi bột rễ sẽ cay xè mắt mũi, cuống họng sưng tấy thở dốc mà gục ngã. Hắn bọc ghém gói giấy dầu cẩn thận, nhét chặt vào cạp quần gai bên hông trái, nơi ngón tay có thể chạm tới trong chớp mắt.

Bên hông phải, con đoản đao rỉ sét cùn mẻ mép cọ xát vào lớp da thịt trầy xước. Thanh dao con này từng cùng hắn róc rễ đào củ qua bao cánh rừng đói kém, lưỡi dao tuy cùn và ngắn ngủn nhưng đâm trúng chỗ hiểm ở cự ly gang tấc, máu tươi vẫn sẽ chảy ra xối xả.

Vọng Thư ngẩng đầu lên, ánh mắt dán chặt vào con đường đê phía trước.

Màn mưa trắng xóa giăng kín bốn bề khiến con đường đất đỏ dẫn ngược về phía bắc nhão nhoét thành những vũng lầy lội sâu hoắm. Cỗ xe ngựa tuy đi trước một quãng đường, nhưng thùng xe chở nặng, bánh gỗ nẹp sắt to bản ắt sẽ lún sâu dưới sình lầy. Con ngựa kéo xe lại mệt mỏi vì ngược gió dông, bốn tên nha dịch mang giáp vải vướng víu sẽ phải vừa đi vừa đẩy xe phụ lực. Hơn nữa, lúc nãy đứng trong bụi rậm, hắn đã nhìn thấy chốt gỗ giữ trục bánh xe sau bên tả đã nứt toác một đường dài, kêu cót két theo từng vòng quay.

Cách xóm chài chừng ba dặm về phía trước có một khúc quanh ngoằn ngoèo men theo triền đồi dốc. Nơi đó lòng đường hẹp đến mức chỉ vừa đủ một cỗ xe đi qua, một bên là vách đất dựng đứng cheo leo, một bên là rãnh bùn sâu hoắm nước chảy cuồn cuộn. Đi qua đoạn dốc lầy lội ấy, cỗ xe ngựa bắt buộc phải hãm cương vượt dốc từ từ, khó lòng đi nhanh.

Nếu hắn men theo sườn đồi ngược lên, cắt ngang bãi lau sậy rậm rạp rồi băng qua con đường mòn nhỏ hẹp vắt ngang triền dốc, hắn hoàn toàn có thể đón đầu cỗ xe trước khi nó vượt qua khỏi khúc quanh hiểm trở.

Vọng Thư cúi người, siết chặt lại nút thắt lưng bằng dây gai thô, buộc ống quần lại cho gọn gàng để tránh vướng víu vào cành mục. Hắn khom thấp trọng tâm xuống triền đất, hai mắt nheo lại ngắm chừng phương hướng giữa màn mưa mịt mùng.

Hắn phóng mình lao đi.

Nước mưa táp rát bỏng vào mặt mũi, gió dông rít từng hồi quất ngược vào lồng ngực phong phanh manh áo cộc. Bùn nhão dưới chân bám chặt lấy đôi dép cỏ nặng trịch, sỏi đá lạo xạo cọ xát dưới lòng bàn chân buốt lạnh, nhưng bước chân hắn cứ thoăn thoắt dấn tới. Hắn nén từng luồng khí lạnh từ phiến bích ngọc vào sâu trong lồng ngực, ép sức lực căng tràn xuống hai bắp chân đang gồng cứng.

Trong bóng chiều tà rền rĩ tiếng sấm chớp giăng đầy trời, bóng thiếu niên thoăn thoắt lướt qua những bờ bụi gai góc, thoắt ẩn thoắt hiện giữa bãi lau sậy xao xác như một con thú săn mồi đơn độc trong đêm tối.

Từ phía triền dốc xa xăm bên dưới khúc quanh tử địa, tiếng bánh xe gỗ nghiến kẽo kẹt trên đá sỏi và tiếng chửi thề của đám nha dịch bắt đầu vọng lại, mỗi lúc một rõ dần giữa tiếng mưa rơi rào rạt.

0
Ủng hộ tác giả Phù Vân Nhất Mộng Thưởng thức ý cảnh, ngộ đạo nhân sinh. Nếu tác phẩm này làm đạo hữu đẹp lòng, xin hãy hộ trì cho...