Chương 23: Tàng Thư Đáy Nước
Nhân Gian Có Màn
Mục lục
23 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 23/23 chương
Mặt sông Đáy lúc tảng sáng chìm trong một thứ ánh sáng nhờ nhờ, xám ngoét như màu mắt cá ươn.
Màn sương mù không tan đi mà càng lúc càng sà thấp xuống, là là sát mặt nước phù sa, quấn chặt lấy mũi thuyền tuần giang như những dải vải sô ẩm ướt. Chiếc thuyền ba ván gỗ lim chầm chậm rẽ nước trôi xuôi về hướng bến Đáy. Tiếng mái chèo bằng gỗ nghiến khua nước phát ra từng nhịp lách... bõm... nặng nề, rạch vỡ sự tĩnh mịch của buổi sớm tháng Chạp.
Trên khoang thuyền, gió sông thổi thốc qua mui nứa làm những hạt nước buốt giá tạt thẳng vào mặt Vương Quang. Hắn ngồi co ro ở góc lái, hai đầu gối kéo sát vào ngực, hai bàn tay thọc sâu vào ống tay áo chấn thủ rách vai. Dưới lớp vải thô ráp cáu bẩn, ngón tay trỏ của hắn vẫn không ngừng tỳ miết vào ngón cái theo thói quen nghề nghiệp. Vệt mực tím bã trầu dưới kẽ móng tay trỏ lúc này buốt rát như có một mảnh dằm tre cắm sâu vào thịt. Thứ mực son ngâm dầu trám trăm năm ấy dường như đã ngấm qua lớp da chai sạn, rửa qua bao nhiêu gáo nước sông cũng không phai đi nửa phần.
Ngồi đối diện hắn ở giữa khoang thuyền là Đàm Thông phán.
Viên quan vẫn khoác nguyên bộ áo bào xanh chàm thêu sóng nước, cổ áo dựng cao che kín cằm, hai tay giấu trong tay áo rộng. Đàm Thông phán nhắm nghiền hai mắt, đầu tựa hờ vào cột mui, dáng vẻ như đang chợp mắt sau một đêm thức trắng nơi gò mai rùa. Nhưng Vương Quang hiểu rõ viên quan không hề ngủ. Cứ sau mỗi nhịp mái chèo khua nước, cơ má gầy guộc của Đàm lại giật nhẹ một cái, và hàng mi rậm rạp khẽ rung lên, để lộ hai tia nhìn lạnh ngắt qua khe mắt hẹp đang âm thầm quan sát từng cử động nhỏ nhất của tên chép mướn.
Ở đầu mũi thuyền, Trần Tam đứng cắm sào lái. Cánh tay phải bị thương của người lính tuần giang quấn chặt vải sô, nẹp cứng vào mạn sườn, chỉ còn một tay trái gầy guộc gồng lên bẻ lái. Mỗi lần chiếc sào tre chạm xuống bùn lầy, thân hình Trần Tam lại run bần bật. Hắn không ngoảnh nhìn về phía khoang mui, mà ánh mắt cứ dại đi, dán chặt vào những vệt váng dầu loang lổ trên mặt sông trôi lững lờ.
Khi mũi thuyền chạm vào chân kè đá của bến Đáy, trời vừa hửng một ráng hồng nhạt nơi chân mây.
Nha môn Giang Hà Đốc Vận hiện ra sau lũy tre ngà sũng nước. Đó không phải là một công đường huyện lỵ xây bằng gạch ngói uy nghiêm với trống kêu oan và cột cờ đại, mà là một dãy nhà sàn bằng gỗ dầu đồ sộ cắm sâu hàng trăm cọc lim xuống lòng lạch. Khắp các hiên nhà sặc lên mùi dầu trám, mùi hắc ín trét vỏ thuyền và mùi ẩm mốc của những thớ gỗ ngâm nước lâu năm.
Hai tên lính thủy nhảy xuống bờ kè quăng dây néo thuyền. Đàm Thông phán mở mắt, chậm rãi đứng dậy. Hắn đưa tay chỉnh lại mép mũ cánh chuồn, vuốt phẳng nếp áo trước ngực, lấy lại trọn vẹn phong thái khô khốc của một viên quan coi sông:
"Lên bờ."
Vương Quang bước thấp bước cao theo sau bóng áo xanh chàm. Chân hắn tê dại vì cóng lạnh, lớp phù sa khô cứng lại quanh mắt cá chân cọ vào da thịt rát buốt. Hắn không bị đưa về gian phòng hồ sơ cũ. Đàm Thông phán dẫn hắn đi vòng qua dãy hành lang ván gỗ dài hun hút, hướng thẳng về góc sâu nhất của nha môn—nơi có một gian nhà ba gian xây hoàn toàn bằng đá tảng nẹp sắt, nằm chìm nửa thân dưới taluy đê sông Đáy.
Trước cửa gian nhà đá, hai người lính tuần giang mang đoản đao bọc da cá đuối đứng gác nghiêm ngặt. Phía trên xà ngang treo một tấm biển gỗ sơn then đen nhánh, khắc ba chữ Hán thếp vàng đã xỉn màu:
“HỮU TÀNG CÁC”
"Mở cửa," Đàm Thông phán buông một câu nhát gừng.
Hai người lính canh lập tức cúi đầu dạ ran, rút ra một chùm chìa khóa bằng đồng thau nặng trịch to bằng bàn tay trẻ con.
Rột... rột...
Tiếng then sắt han rỉ cọ vào ổ khóa đá khô khốc vang lên giữa sương sớm. Cánh cửa bằng gỗ lim dày nửa gang tay bọc kín những tấm tôn sắt gỉ từ từ đẩy vào trong.
Một mùi hương đặc quánh xộc thẳng vào mũi Vương Quang: mùi giấy dó mục nát, mùi long não nồng nặc át mùi gián bọ, và đặc biệt là mùi giấm chua thoang thoảng—thứ giấm gạo chuyên dùng để lau rửa bề mặt các bản đồ da và hồ sơ bị nấm mốc thủy triều xâm lấn.
Bên trong Tàng Các tối om om. Một tên lính châm bó đuốc dầu trẩu cắm vào giá sắt gắn trên tường đá. Ánh lửa bập bùng hắt lên hàng chục dãy kệ gỗ dầu cao chạm trần nhà. Trên kệ là hàng ngàn chiếc ống tre ngâm dầu trám, những tráp gỗ bọc da trâu, và những cuộn giấy bản được thắt nút bằng dây gai, trên mỗi cuộn đều treo một thẻ bài gỗ con ghi năm tháng và địa hạt.
Vương Quang đưa mắt quét nhanh qua gian phòng đá. Nơi này tuy là kho lưu trữ giấy tờ cũ, nhưng không hoàn toàn bị lãng quên như vẻ bề ngoài. Trên lớp bụi xám bám dày nơi mép kệ thứ hai, có những vệt quẹt ngón tay còn khá mới; chiếc bàn gỗ con dùng để tra cứu ở góc tường có một ngọn đèn dầu lạc còn đọng lưng bát dầu sóng sánh; và dưới chân kệ đá mé tây, vương vãi vài hạt bùn khô đã vỡ vụn—dấu vết của một đôi ủng nẹp sắt từng dừng lại đây cách đây không lâu.
Nơi này gần đây đã có người lui tới lục lọi.
Đàm Thông phán dừng chân ở lối đi hẹp giữa hai dãy kệ, quay lại nhìn Vương Quang. Ánh lửa đuốc rọi nghiêng một bên mặt viên quan, làm gò má hóp sâu như một lưỡi rìu chém:
"Huyện nha Sơn Nam các ngươi chỉ quản đinh, quản điền trên mặt đất nẹp bờ. Nhưng tất cả những mảnh đất nào từng bị nước sông Đáy nuốt chửng rồi nhả ra thành bãi bồi, hồ sơ gốc đều nằm trong căn phòng này."
Ngón tay khô khẳng của Đàm chỉ về phía dãy kệ thứ tư ở góc tối mé tây:
"Cảnh Hưng năm thứ mười. Đó là năm vỡ đê Cổ Loang, ngã ba sông Đáy đổi dòng, bãi bồi Cổ Miễu lần đầu tiên trồi lên khỏi mặt nước. Năm đó, Thủy Bộ cử người về đây đo đạc phân giới. Một bản văn tự đã được lập, nhưng trát lệnh lưu chuyển giữa bản hạt và tỉnh đường... đã bị rút mất một bản sao."
Đàm bước sát lại gần Vương Quang, giọng nói chìm hẳn xuống thành một tiếng thì thào sắc như dao cạo:
"Ngươi là kẻ quanh năm cầm bút đối chiếu sổ đinh huyện nha. Ngươi biết cách nhìn vết chỉ khâu gáy sách, biết cách nhận ra trang nào bị xé, cuốn nào bị cạo mực sửa tên. Trong vòng ba ngày, ngươi phải lùng sục toàn bộ tráp tài liệu của năm Cảnh Hưng thứ mười ở góc kia. Tìm ra bản trát lệnh gốc mang dấu triện vuông mẻ góc 'Sơn Nam' mà ngươi đã thấy dưới móng miếu."
Vương Quang khom lưng, hai mắt nhìn xuống mũi hài đầy bùn của mình:
"Bẩm quan lớn... nếu kẻ hèn tìm thấy, thì phải làm sao?"
Đàm Thông phán im lặng hai nhịp thở. Khóe mắt viên quan khẽ giật một cái rất nhẹ:
"Mang nguyên bản đến nộp cho ta. Không được sao chép, không được hé răng với bất kỳ ai nửa chữ. Nếu đến hết giờ Hợi ngày thứ ba mà ngươi không tìm ra... hoặc dám giấu giếm một tờ giấy vụn... thì Trần Tam sẽ đích thân đưa ngươi ra giữa xoáy nước Thần Đáy mà học cách chèo đò."
Hắn không đợi Vương Quang đáp lại, quay ngoắt người bước ra cửa:
"Khóa cửa ngoài lại. Cơm nước mỗi ngày hai bữa sẽ có lính đưa qua khe ván. Cho hắn một ngọn đèn dầu và năm thẻ que mồi lửa."
RẦM!
Cánh cửa gỗ lim bọc sắt sập mạnh lại. Tiếng then cài va vào ngàm khóa đánh chát một tiếng vang dội trong gian nhà đá kín mít.
Thời gian trong gian phòng đá không trôi qua theo tiếng chuông điểm canh, mà chìm dần theo màu ánh sáng lọt qua ba lỗ thông hơi khoét hẹp trên đỉnh tường đá sát trần.
Đến giữa giờ Thìn, vạt sáng mỏng manh chiếu xiên qua lỗ thông hơi còn mang sắc trắng đục của sương sớm.
Vương Quang đã ngồi bệt dưới sàn đá, kéo chiếc tráp tre đầu tiên xuống bàn. Bụi bặm bốc lên mù mịt làm hắn ho sặc sụa. Hắn cẩn thận lật qua từng cuộn giấy bản ghi chép các khoản tu bổ đê điều, những bản kê nhân đinh phu dịch đắp bờ bến Đáy năm Cảnh Hưng thứ mười. Ngón tay hắn lần theo từng đường chỉ gai, kiểm tra từng nếp gấp. Không có dấu vết chắp vá. Mực nho muội thông đen nhánh, triện tròn của Ty Tuần Giang đỏ au ngay ngắn.
Sang đến đầu giờ Mùi, dải sáng rọi qua lỗ thông hơi chuyển sang màu vàng nhạt, rồi dần ngả sang sắc xám chì ảm đạm.
Lưng Vương Quang mỏi nhừ, hai đầu gối tê dại vì quỳ lâu trên nền đá lạnh. Bụng hắn réo lên từng hồi cồn cào, nhưng mẩu bánh đa khô và bát nước lã lính canh đẩy qua khe ván lúc ban trưa hắn mới chỉ nuốt vội được hai miếng. Hắn đã lật đến chiếc tráp thứ năm. Toàn bộ hồ sơ về bãi bồi Cổ Loang, vụ tranh chấp bến đò giữa giáp Đông và giáp Nam đều nằm rải rác ở đây, nhưng tuyệt nhiên không thấy bóng dáng tờ trát lệnh nào nhắc đến gò mai rùa.
Cho đến khi bóng tối hoàn toàn nuốt chửng lỗ thông hơi trên trần đá, báo hiệu đêm đen đã buông xuống sông Đáy, ngọn đèn dầu lạc trên bàn làm việc đã vơi đi một nửa bát dầu.
Vương Quang cầm que khêu bấc đèn cho ngọn lửa bùng lên một chút, rồi tiến sâu vào góc tối nhất của dãy kệ thứ tư.
Ở tầng dưới cùng, lấp sau một chồng ống đồng rỉ xanh, nằm ép mình trong góc kẹt là một chiếc tráp tre đan mắt cáo nhỏ hơn bình thường. Trên nắp tráp không dán giấy đỏ ghi mục lục, mà chỉ có một vết mực son hình tam giác quẹt vội ở góc mép.
Hắn cẩn thận nhấc chiếc tráp ra đặt lên bàn, tháo nút thắt bằng dây lạt đã giòn vụn.
Bên trong chỉ có vỏn vẹn một cuốn sổ mỏng bọc bìa giấy dó phất cậy nâu sẫm, mép giấy bị gọt nham nhở bằng một nhát dao cùn. Trên mặt bìa chỉ đề sáu chữ Hán viết bằng lối chữ chân:
“Cổ Miễu bãi — Trù hoạch địa bạ”
Tim Vương Quang khẽ nảy lên một nhịp. Hắn đưa ngón tay miết nhẹ dọc theo sống gáy cuốn sổ.
Các lỗ xỏ kim... hoàn toàn trống trơn.
Cuốn sổ này đã bị rút sạch chỉ khâu từ rất lâu, rồi được ai đó dùng một sợi dây tơ tằm màu xanh chàm thắt lỏng lẻo lại ở hai đầu. Dấu vết này chứng minh cuốn sổ từng bị tháo rời từng trang để trích lục hoặc loại bỏ một phần nội dung bên trong.
Hắn cẩn thận lật trang bìa ra.
Trang đầu tiên là bản đồ phác thảo địa giới gò mai rùa miếu Cổ Miễu năm Cảnh Hưng thứ mười. Nét vẽ bằng mực đen sắc sảo, chỉ rõ ba dặm bãi bồi mới trồi lên giữa lòng sông Đáy, bao quanh một cồn đất có hình mai rùa.
Nhưng khi lật sang trang thứ hai—nơi theo lệ thường của sổ địa bạ phải ghi rõ danh tính các bên tham gia ký kết giao nhận đất—toàn bộ mặt giấy đã bị cạo sạch bằng dao trích lục. Vết cạo sâu hoắm làm thớ giấy dó xơ xác, sần lên như lông tơ, chỉ còn trơ lại những vệt mực lem nhem mờ mịt không tài nào đọc nổi.
Vương Quang nheo mắt, kéo ngọn đèn dầu sát lại gần trang giấy bị cạo.
Đột nhiên, vệt mực tím bã trầu dưới kẽ móng tay trỏ của hắn lại nhói lên một cơn buốt lạnh quen thuộc.
Một giọt mồ hôi từ trán hắn trượt xuống sống mũi, rơi trúng vào mép dưới cùng của trang giấy bị cạo—ngay chỗ vết dao trích lục dừng lại nơi góc trang.
Chất ẩm của giọt mồ hôi hòa lẫn với vệt mực son bã trầu ngấm từ móng tay hắn khi hắn vội vã đưa ngón tay thấm nước để tránh làm rách giấy.
Và trên nền giấy dó xơ xác ẩm ướt ấy, một đường viền son tím thẫm mờ ảo bỗng từ từ hiện hình dưới lớp bụi giấy bị cạo.
Đó là góc còn sót lại của một dấu triện vuông. Vết mẻ hình bán nguyệt ở góc ngoài... trùng khớp hoàn toàn với dấu triện mà hắn đã nhìn thấy qua khe hở nắp tráp sắt dưới đáy móng miếu Cổ Miễu!
Nhưng điều khiến các ngón tay Vương Quang run bắn lên không phải là dấu triện.
Mà là một dòng chữ nhỏ bằng mực son nằm lẩn khuất ngay dưới chân dấu triện bị cạo—dòng lạc khoản chỉ thị lưu hành nội bộ của quan chức lập hồ sơ năm đó, viết bằng lối chữ thảo nguệch ngoạc:
“Khế ước này lập thành hai bản. Bản âm chôn cùng Thủy Cốt dưới chân thần. Bản dương... giao cho Tri phủ Sơn Nam đương nhiệm làm bằng.”
Vương Quang không lập tức đứng dậy.
Ngọn đèn dầu trong tay hắn run rẩy rất nhẹ, hắt bóng chiếc bóng lưng gầy guộc của hắn lên vách đá lạnh ngắt.
“Tri phủ Sơn Nam đương nhiệm...”
Sáu chữ ấy không nói bản dương còn tồn tại. Cũng không nói nó hiện giờ được cất giữ ở đâu, hay đã bị dòng lũ lịch sử và những lần thay đổi quan viên thiêu hủy thành tro bụi.
Nhưng một kẻ quanh năm vùi đầu vào đống sổ đinh nơi huyện nha như Vương Quang hiểu rất rõ một quy luật ngầm của chốn công môn: Một văn tự khi đã được chuyển giao cho quan đầu phủ làm bằng, thì trong đống hồ sơ bàn giao giữa các đời quan lại, nhất định phải từng tồn tại một dấu vết lưu chuyển—một dòng mục lục giao nhận, một tờ trát hồi báo, hoặc chí ít là một biên bản ghi nhận việc thất lạc hồ sơ.
Một tờ giấy có thể mất, nhưng dấu vết của một tờ giấy rất khó biến mất cùng lúc.
Bản khế ước đẫm máu dưới móng miếu Cổ Miễu kia không phải là một giao kèo câm lặng giữa thần linh và ma quỷ. Nó từng được hợp thức hóa bằng thủ tục hành chính của chính quyền sở tại.
Đúng lúc ấy, từ phía cánh cửa đá lớn của Tàng Các, một tiếng động rất khẽ bỗng vang lên xé toạc màn đêm tĩnh mịch.
Lách cách...
Không phải tiếng chùm chìa khóa đồng thau va đập của lính canh gác đêm.
Đó là tiếng kim khí mỏng mảnh cọ vào khe đá.
Tại góc chân cửa đá sát mặt đất—nơi có một lỗ thông hơi nhỏ bằng nửa bàn tay khoét qua bậu cửa để thoát ẩm—một thanh sắt dẹt, mỏng như lưỡi dao cạo đang chầm chậm thò vào trong, mò mẫm tìm kiếm lẫy then gài bên dưới.
Vương Quang lập tức nín thở.
Hắn không la hét gọi lính canh, cũng không lao ra cửa. Bản năng sinh tồn mách bảo hắn rằng kẻ dám lén lút cạy then kho lưu trữ mật giữa đêm khuya chắc chắn không phải đến để cứu một tên chép mướn.
Hắn nhanh như cắt đưa hai ngón tay nhúng vào bát dầu lạc, bóp tắt ngúm bấc đèn.
Xèo.
Ánh sáng lịm tắt. Toàn bộ gian Tàng Các rơi tõm vào bóng tối đen như mực.
Vương Quang cúi thấp người, bước lùi từng bước không phát ra một tiếng động trên nền đá, nép mình vào khoảng trống tối tăm giữa dãy kệ gỗ thứ tư và vách đá lạnh ngắt. Bàn tay phải của hắn thò vào túi áo chấn thủ, rút ra một chiếc dùi sắt dùng để đục lỗ sổ sách, siết chặt trong lòng bàn tay đầy mồ hôi lạnh.
Ngoài cửa, thanh sắt mỏng vẫn kiên nhẫn dịch chuyển từng phân một trên mặt sàn đá.
Cộc.
Tiếng mũi sắt chạm vào chốt then bên trong.
Nó dừng lại hai nhịp thở.
Cộc.
Lại nhích thêm một phân nữa.
Rồi đột nhiên, tiếng sắt cọ vào đá ngưng bặt. Người bên ngoài dường như nhận ra then cài bên trong đã bị khóa bằng một chốt ngạnh kép không thể cạy mở từ phía dưới.
Thanh sắt mỏng từ từ rút lui qua lỗ thông hơi.
Nhưng cánh cửa đá không hề yên tĩnh trở lại. Qua khe hở tối om dưới chân bậu cửa, một vật thể nhỏ, dẹt, phát ra tiếng sột soạt khô khốc bỗng được ai đó luồn sâu vào bên trong gian phòng đá, nằm trơ trọi ngay trên nền đất lạnh cách chỗ Vương Quang ẩn nấp chưa đầy một trượng.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.