Chương 11: Đèn Dầu Chân Cầu Sắt
Phán Quan Nhân Gian
Mục lục
14 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 14/14 chương
Gió sông thổi thốc lên triền đê lạnh ngắt.
Đoạn đường đất chạy dọc bờ sông vắng hoe, hai bên là bãi sậy xào xạc trong bóng tối. Đèn pha chiếc xe máy cũ của Quang tù mù quét từng vệt vàng vọt trên mặt đất nứt nẻ lổn nhổn rễ cây. Cổ tay phải của cậu vẫn nhói lên mỗi khi bánh xe sụp phải ổ gà.
Đang rà phanh đi chậm, bên cạnh ghi-đông xe bỗng thoảng qua một mùi hương trầm dìu dịu.
Một bóng người mặc áo dài trắng, tay phe phẩy chiếc quạt xếp bước đi nhẹ tênh sát mép bánh xe máy. Gương mặt người đó trắng bệch, khóe miệng khẽ mỉm cười.
Quang giật thót mình, vội ghì chặt tay lái giữ thăng bằng:
"Chú Tạ..."
Tạ Tất An nghiêng đầu nhìn cậu:
"Chạy xe máy đêm trên đê thế này, thấy trong người thế nào rồi?"
Quang hít một hơi, thật thà đáp:
"Đỡ mệt hơn nhiều chú ạ. Mấy hôm trước cứ mỗi lần xuất hồn là sáng dậy người rã rời, đầu đau buốt. Giờ có lệnh bài thì người ấm, chỉ có điều... đi bằng cái xác này nặng nề quá, sụp ổ gà xóc ê ẩm cả lưng."
Tạ Tất An bật cười khẽ:
"Thế mới là người sống. Phạm lão đệ đưa lệnh bài gỗ mun cho cậu là để gánh quyền hạn cõi âm ngay trong lúc đang ở nhục thân, dùng được mắt trần lẫn tay trần mà làm việc dương thế. Chứ cứ hơi tí lại phải lột hồn ra ngoài thì chịu sao thấu."
"Thế sau này cháu không cần xuất hồn nữa hả chú?" Quang hỏi.
"Khi nào có việc cần xuống tận dưới kia mới tính," Tạ Tất An khép quạt lại, đưa mắt nhìn về phía rặng tre rậm rạp dưới chân cầu sắt. "Người biết dùng bùa chưa chắc hiểu hết thứ mình gọi đến đâu nhóc ạ. Nghe thì cứ nghe, tin hay không thì tự mình xem lấy."
Quang vừa chớp mắt một cái, bóng áo trắng bên cạnh đã không còn. Trên mặt đê chỉ còn lại vệt đèn pha xe máy và tiếng gió thổi ràn rạt qua bãi sậy.
Cậu dừng xe lại một nhịp rồi mới đạp số chạy tiếp.
Căn nhà ba gian lợp ngói âm dương nằm lọt thỏm dưới chân mố cầu sắt cũ, xung quanh là vườn chuối um tùm. Trong sân đất nện im ắng, chỉ có tiếng nước sông vỗ vào bờ đá bì bõm.
Quang tắt máy, dựng xe ngoài ngõ rồi bước vào hiên.
Cửa gỗ mở hé một cánh. Gian giữa thắp một ngọn đèn dầu le lói, khói hương bài nghi ngút. Trên chiếc chõng tre đặt sát vách, một ông cụ ngoài bảy mươi tuổi, lưng còng, mặc chiếc áo bà ba màu nâu sờn chỉ đang cặm cụi mài thỏi mực đỏ trên nghiên đá.
Quang tháo mũ bảo hiểm kẹp vào nách, đứng ngoài bậu cửa cất tiếng chào:
"Cháu chào cụ ạ."
Ông cụ dừng tay mài mực, ngước đôi mắt kèm nhem nhìn ra cửa. Thấy chiếc áo khoác gió đồng phục công chức dính bụi đường của Quang, ông nheo mắt hỏi:
"Ai đấy? Đêm hôm tìm tôi có việc gì?"
"Cháu làm việc bên xã, dạo này hay phải đi ca đêm qua mấy đoạn đường vắng," Quang lễ phép thưa. "Chiều nay cháu ngồi quán nước ngoài bãi xe chân cầu, nghe mấy anh lái xe bảo cụ có viết bùa bình an dán xe nên cháu vào xin cụ một lá để treo xe máy cho an tâm ạ."
Ông Bản nhìn Quang một lượt, từ chiếc mũ bảo hiểm trầy xước đến đôi giày dính bụi đất. Ánh mắt cảnh giác hơi giãn ra:
"Vào đi. Ngồi xuống cái ghế đẩu kia."
Quang bước vào gian giữa, kéo chiếc ghế đẩu gỗ ngồi xuống cạnh mép chõng tre.
Trên mặt chõng bày một xấp giấy bản màu vàng nghệ đã cắt thành từng mảnh dài bằng nửa bàn tay. Mặt giấy xơ rơm thô ráp, mép giấy xén bằng tay không đều — chất liệu và độ dày gợi nhớ đến mẩu giấy cháy mà Phạm Vô Cứu nhặt được ở dải hộ lan Km 14. Dưới chân chõng, một cuộn chỉ đỏ bện chặt đặt trong chiếc rổ mây cũ, sợi chỉ màu đỏ sẫm hơi bạc.
Quang nhìn cuộn chỉ, vờ như tiện miệng hỏi:
"Cháu thấy mấy anh lái xe ben bên bãi hay treo cái túi bùa buộc sợi chỉ đỏ ở gương chiếu hậu, cái đấy cũng do cụ làm ạ?"
"Ừ, bùa hộ thân cho tài xế," ông Bản vừa chấm đầu bút lông vào nghiên mực chu sa vừa thong thả đáp. "Nghề chạy xe đêm hay đi qua chỗ u ám. Tôi viết lá bùa bình an, gấp lại bỏ vào túi vải đỏ rồi lấy chỉ này buộc gá vào gương xe cho người ta yên tâm."
"Đợt này bên bãi xe có ai qua xin bùa không cụ?" Quang hỏi nhẹ.
Ông Bản đưa nét bút vẽ những đường ngoằn ngoèo lên mặt giấy vàng, ngẫm nghĩ một lát rồi nói:
"Dạo này ít người đến. Nhưng tầm năm sáu hôm trước, có người đến lấy hai lá."
Quang khẽ siết ngón tay:
"Hai lá cơ ạ?"
"Ừ, một lá dặn làm túi treo xe như mọi khi," ông cụ đặt bút xuống, với lấy bao thuốc rê châm lửa hút một hơi. "Còn lá thứ hai, người đó bảo viết loại giấy bản mỏng dễ bắt lửa, để mang ra ngã ba đường đốt hóa giải hạn."
Mảnh lệnh bài gỗ mun trong túi ngực Quang bỗng thoáng lạnh đi một nhịp. Cậu đưa tay xoa nhẹ ngực áo, không rõ do miếng gỗ mun hay do gió lạnh ngoài sân lùa vào khe cửa.
Quang hỏi thêm:
"Người đó cũng là tài xế bên bãi cát sang xin hả cụ?"
"Không phải dân lái xe ben ở đây đâu," ông Bản lắc đầu. "Trời nhá nhem tối người đó mới đến, đỗ cái ô tô con tít ngoài đường đê rồi đi bộ vào. Đội mũ kéo sụp xuống, lấy bùa xong là đi ngay. Đèn dầu lờ mờ tôi cũng chẳng nhìn rõ mặt."
"Cụ có nhớ trông người ấy trạc bao nhiêu tuổi không ạ? Có gầy gầy như anh Thắng lái xe không?"
"Không phải thằng Thắng," ông cụ gạt tàn thuốc. "Người đậm hơn, ăn mặc chỉn chu chứ không bết dầu mỡ như mấy đứa lái xe tải."
Ông cụ với tay lấy một mảnh giấy bản màu vàng đã vẽ xong, gấp làm ba lại rồi đưa cho Quang:
"Cậu đi xe máy thì chỉ cần lá này bỏ vào ví là được rồi. Đêm hôm đường xá trơn trượt, chạy chậm tay ga thì thần linh mới độ cho, chứ bùa chú cũng chỉ là để người ta vững cái tâm thôi."
Quang nhận lá bùa xếp gọn gàng từ tay ông Bản, gửi tiền lễ rồi đứng dậy cảm ơn.
Cậu bước ra sân, cất lá bùa vào túi ví rồi cài cẩn thận. Gió sông vẫn thổi ràn rạt qua rặng chuối dưới chân mố cầu sắt.
Quang dắt xe máy ra tới đường đê rồi nổ máy. Tiếng xích xe lách cách lăn trên mặt đường sỏi, trong đầu cậu lặp lại lời kể của ông cụ về người đàn ông đậm người đi ô tô con đến xin một lá bùa treo xe và một lá bùa để đốt trước ngày xe tải gặp nạn.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.