Quyển 1: Thức Tỉnh: Đoản Kiếm Tỉnh Mộng
Chương 2: Kiếm Hồn Truyền Pháp
Lạc Hồng Kiếm Ấn
Mục lục
16 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 16/16 chương
Nắng sớm luồn qua liếp nứa, vạch lên nền đất một vệt dài mỏng dính như vết chém.
Mùi tro bếp quyện với rơm ẩm và thứ tanh nồng đặc trưng của bùn sông xộc thẳng vào mũi. Khánh vẫn ngồi bệt góc ổ rơm. Trên đùi, thanh đoản kiếm hoen gỉ nằm im lìm. Ánh ngày rọi rõ những lỗ rỗ li ti ăn mòn thân thép, xám xịt như mắt cá ươn. Nhưng áp lòng bàn tay vào, sắt nguội lại âm ấm. Cảm giác như sâu bên trong thanh sắt mục có một mạch máu li ti đang đập chầm chậm.
Lão Phúc Anh đã gượng ngồi dậy từ sớm, lưng tỳ vào cây cột cái. Trông lão như vừa đội mồ sống lại. Mặt bớt trắng bệch, ngực phập phồng đều hơn, song khóe mắt trũng hoắm thì hằn đỏ những tia máu mệt mỏi. Lão nhìn đăm đắm ra triền sông. Nước sông Đáy sớm nay vẫn đục ngầu, cuộn chảy như chẳng hề biết đến cơn thập tử nhất sinh đêm qua.
"Cha," Khánh khẽ gọi, "đêm qua... cha nhớ được gì không?"
Lão già lắc đầu. Mắt không dời mặt nước.
"Chỉ thấy chìm nghỉm vào cái hố đen ngòm. Lạnh thấu xương. Xa xa có tiếng người gọi giật giọng, nghe như tiếng ông nội mày."
Khánh rụt rè thuật lại đầu đuôi. Lão tướng giáp đồng, trận pháp dưới đáy lạch sâu, chiêu kiếm lạ và vệt máu trên lưỡi tàn kiếm. Lão Phúc Anh ngồi nghe, mí mắt sụp xuống, bất động như tảng đá ven đê.
Đến khi thằng bé nhắc lại lời khấn quỳ van xin rách trán trước thanh kiếm gỉ, lồng ngực lão già mới giật thót một cái. Một tiếng thở dài nặng như chì tuôn ra:
"Nghiệp non sông... Cuối cùng vẫn không buông tha."
Giọng lão xé ra từ cổ họng khô khốc:
"Năm xưa trăn trối, ông nội mày từng bảo cây kiếm này sẽ tự mò về họ Nguyễn khi mạch đất rách toác. Tao không tin. Tao tưởng lão già mê sảng vì uất hận thời binh đao. Ai ngờ..."
Lão quay phắt lại. Đôi mắt già nua vằn đỏ bóp nghẹt lấy mặt con:
"Dòng họ này, từ thời cụ tổ Nguyễn Công Trấn, gánh mạng giữ Thổ Ấn trong Ngũ ấn Hồng Bàng. Loạn lạc triều đổi, ấn thất lạc. Ông nội mày mò mẫm cả đời trong vô vọng. Đến lượt tao... Tao lặn xuống vực sông Đáy, chạm tay vào thanh kiếm này. Nhưng tao run. Tao sợ nhổ nó lên rồi thì cái nợ máu ngàn cân lại tròng vào cổ mày. Tao chỉ muốn mày làm thằng chài lưới cùi bắp, lấy vợ đẻ con, rồi chết già ở mé bãi này."
Lão bấu chặt gấu áo nâu vá chằng đụp:
"Trời không cho tao giấu mày nữa."
Gió lạnh thốc qua khe liếp.
Khánh rùng mình. Từ thân kiếm hoen gỉ, một luồng khói xám mỏng như dải lụa rách lừ đừ bốc lên, xoắn lại giữa không gian mờ tối rồi ngưng tụ thành hình người.
Vẫn bộ giáp da thêu hình chim Lạc dang cánh, vẫn râu tóc bạc phơ như cước. Nhưng vị chiến thần đêm qua sáng nay lại nhăn tít mũi, hếch mặt lên trần nhà như chó săn đánh hơi.
"Thơm thế?" Tiếng lão tướng cất lên, đục ngầu mà hám hởi. "Cái mùi gì đấy?"
Khánh ngớ người:
"Dạ... mùi rạ mục với bùn..."
"Mày điếc mũi à?" Cao Lỗ trừng mắt, lại hít đánh soạt một hơi dài. "Cháo cá diếc nấu rau răm! Lại còn bén chút mùi men nếp cái hoa vàng! Phải không?"
Lão Phúc Anh vội chống gối chắp tay:
"Bẩm tiền bối, làng vừa tan hội cầu ngư, chòm xóm có biếu vò rượu nhạt. Còn nồi cá diếc tôi ủ tro từ chập tối qua..."
Đôi mắt sâu hoắm của Cao Lỗ sáng rực lên:
"Nếp cái hoa vàng! Ba trăm năm rồi! Ba trăm năm nằm dí dưới đáy bùn, mở mắt ra là rêu nhớt với xác ốc, mồm mọc rêu xanh! Trần gian có cái tội hình nào khốn nạn hơn thế không hả?"
Khánh há hốc mồm. Vị dũng tướng lẫy lừng trong huyền tích mà nói năng bộp chộp chẳng khác gì mấy lão phu thuyền ngồi lê quán nước đầu bến. Thấy thằng bé nhìn mình trân trối, kiếm hồn quắc mắt:
"Nhìn cái gì? Ma thì không biết thèm à? Sống được nhai được nuốt mà không biết đường hưởng. Bưng lại đây cho ta ngửi nhờ tí xem nào!"
Lão phất tay áo, ngồi xếp bằng lơ lửng cách mặt đất một gang tay, mặt dán chặt vào nồi đất bốc khói mà Khánh vừa lúng túng bê lên.
Cao Lỗ nhắm nghiền mắt, hít trọn luồng hơi nghi ngút từ bát cháo cá. Gương mặt khắc khổ giãn ra từng nếp nhăn, khóe miệng nhếch lên thỏa thê:
"Đúng vị rồi. Cá diếc sông Đáy lắm xương dăm nhưng thịt ngọt lịm, phải có ngọn răm cay nồng với gừng già nướng mới át nổi tính hàn. Hồi xưa đóng quân bên bờ Tô Lịch, ta với quân sĩ bắt cá chuối nướng rơm, tu rượu nếp trắng cả đêm... Ôi chao, cái thời ấy..."
Nói nửa chừng, lão chợt khựng lại. Biết mình lỡ lời trước mặt đám hậu sinh, lão ho hắng một tiếng, kéo vạt giáp rỉ sắt lại cho ngay ngắn, đổi giọng lạnh tanh:
"Hừ, ngửi thế đủ rồi. Vào việc chính."
Cao Lỗ xoay người, ánh mắt sắc như dao lia khắp người Khánh:
"Đêm qua mày rút kiếm cứu cha, nghĩa là tự thò chân vào vạc dầu. Muốn sống sót ra khỏi vạc, mày phải học kiếm. Ngay bây giờ."
Lão Phúc Anh cúi đầu, lặng lẽ nhấc cái giỏ tre lên nách:
"Hai người ra vườn sau. Tôi... tôi ra sông trông mấy cái lờ."
Chân khập khiễng, lão già lê từng bước nặng trịch ra cửa. Đến bậu cửa tre, lão đứng chết trân. Bóng lưng còng gập in sẫm lên nền đất ẩm. Một tiếng thở hắt ra, nghẹn ứ nơi cổ họng. Lão không ngoái lại. Sợ nhìn thấy mắt con rồi lại mềm lòng, lão dứt khoát bước xuống thềm, nuốt bóng mình vào sương sớm.
Vườn sau vỏn vẹn vài sải đất nện, góc vườn có gốc bưởi già sần sùi rêu mốc.
Khánh đứng chân trần trên nền đất lạnh, hai tay siết chặt thanh đoản kiếm.
Cao Lỗ lơ lửng ngang tầm mắt cậu, chỉ tay về gốc bưởi:
"Gốc bưởi kia hai mươi năm mới bén rễ sâu, vỏ mới cứng cỏi. Người luyện võ thông thường cũng mất chừng ấy năm. Nhưng mày không có hai mươi năm. Sóng gió kinh kỳ sắp đổ ụp xuống đầu, mày chỉ còn vài ngày. Vì thế, ta không dạy hoa hòe bài bản. Ta ném cho mày cái 'Ý' của kiếm. Nắm được ý, vào chỗ chết, thịt xương tự khắc biết đường mà xoay."
Lão khép hai ngón trỏ và giữa thành kiếm quyết, vạch một đường sắc lẹm trong gió:
"Chiêu một: Lạc Điểu Quy Sào. Chim về tổ."
Lão hạ trọng tâm, gối sau chịu bảy phần lực, vai hơi nghiêng để giấu yếu huyệt. Cổ tay lão mềm như bún, đảo ngược lưỡi kiếm vào lòng rồi thu gọn sát sườn trái, đầu mũi kiếm chúi xuống đất.
"Ý niệm là co mình và lắng nghe. Chân sau cắm chặt như rễ si, cổ tay lỏng như ngọn cỏ. Gặp thế cùng lực kiệt, chớ có cậy sức mà lao vào. Thu người lại là để dưỡng khí, mượn lực đất mà thở."
Khánh hạ tấn bắt chước. Bắp đùi run bắn lên vì ép cơ đột ngột. Cậu cố buông lỏng khớp vai, giấu thanh kiếm vào hông. Bàn chân trần bấm xuống đất ẩm bỗng đón lấy một luồng khí lạnh nhàn nhạt chạy thốc lên gót.
"Khá. Chiêu hai: Long Du Cửu Thiên. Rồng vượt chín tầng trời."
Từ thế ép sát đất, Cao Lỗ đột ngột đạp gót chân sau, thân hình vươn thẳng tắp. Cổ tay lật ngửa, mũi kiếm xoắn ốc từ dưới háng bốc ngược lên đỉnh đầu, rồi chém bổ xuống một nhát xé toạc không khí.
"Ý niệm là bùng thoát. Nhún gối mượn kình từ đất, lật cổ tay đưa kiếm khí xé gió. Nhưng nhớ: vút cao đến mấy, tâm trí cũng phải ghim chặt vào cội rễ. Quên gốc, rồng bay cao mấy cũng bị gió bẻ gãy cánh."
Khánh nghiến răng dậm chân nhảy lên. Nhưng vì gồng cứng bắp tay, mũi kiếm chao đảo, cả người loạng choạng ngã chúi về phía trước.
"Ngu!" Cao Lỗ mắng gắt. "Kình phát từ eo, mượn qua vai, cổ tay chỉ là cái then cài mở cửa! Lại! Chiêu ba: Hồng Bàng Trảm."
Lão bước chéo chân, đóng chặt thế trung bình tấn vững như đá tảng. Hông xoay hết biên độ từ phải sang trái, cánh tay phạt ngang một đường phẳng lì ngang ngực. Đanh gọn. Khốc liệt như nhát búa chặt đứt cây gỗ lim.
"Ý niệm là che chở. Muốn bảo bọc người thân, bộ tấn phải như núi đá, vung kiếm là phạt đứt mọi hiểm họa. Nhớ kỹ: che chở khác với đồ sát. Kiếm chém vì hận là tà đạo, vung lên vì chở che mới là vương đạo."
Khánh đứng chôn chân, xoay hông phạt ngang tàn kiếm. Lưỡi thép rỉ sét rít lên xé gió, nghe sắc gọn hơn hẳn.
"Chiêu bốn: Vũ Trụ Trống Đồng."
Cao Lỗ thu hai chân song song, khoảng cách vừa bằng vai. Hai tay nâng kiếm ngang ngực, cổ tay khẽ vẽ một vòng tròn khép kín trong không gian. Chậm rãi, nhịp nhàng như nhịp giã gạo đêm.
"Ý niệm là cân bằng. Trong kiếm có cương có nhu, trong lòng người có tiến có thoái. Đối đầu với kẻ mạnh, đừng hoảng loạn. Vẽ vòng tròn này để gạt đòn, giữ tâm mình phẳng lặng như mặt nước giếng khơi."
Khánh vung kiếm vẽ thử. Khớp vai cậu kêu lục cục. Dù chưa hiểu hết cái vòng tròn vô hình kia, nhưng khi xoay tròn mũi kiếm, lồng ngực cậu bỗng nhẹ bẫng, hơi thở chìm sâu xuống bụng dưới.
"Chiêu cuối: Gióng Trận Vươn Vai."
Cao Lỗ đột ngột thụp sâu người xuống, gối gập sát đất, thanh kiếm giấu kín sau bắp vế. Rồi bất thình lình, lão bật tung người như cánh cung bung dây. Mũi kiếm từ sau hông hất chéo từ dưới lên trên, gầm lên một tiếng rợn người.
"Ý niệm là phản kích khi bị dồn vào chân tường. Thế kiếm lấy từ lúc Phù Đổng vươn vai. Khi mày ngã dúi dụi xuống bùn, khi sau lưng là vực sâu, hãy nén toàn bộ uất hận vào đan điền rồi dùng một nhát này mà chẻ đôi màn đêm!"
Cao Lỗ dừng kiếm, thở ra một làn khói mỏng:
"Năm chiêu, năm ý niệm, năm bộ tấn. Mày mới học, gân cốt còn thô, đừng ham bài bản. Nhớ lấy cái thần trong đầu. Lúc chạm trán sinh tử, máu thịt sẽ tự biết xoay xở."
Khánh lau mồ hôi đầm đìa trên trán, chắp tay cúi rạp:
"Đệ tử xin nhớ."
Bóng lão tướng tan biến thành làn khói chui tọt vào chuôi kiếm:
"Hôm nay thế thôi. Ta hao tổn linh lực rồi, phải ngủ."
Xế chiều, nắng vàng rộm rải nghiêng qua rặng tre.
Khánh ngồi bệt nơi bậc cửa mài lại mũi kiếm cùn thì nghe tiếng bước chân lạo xạo ngoài ngõ đất.
Một lão già gánh củi lừ đừ đi ngang qua. Áo nâu vá chằng đụp, râu tóc bạc xơ xác che gần hết mặt. Trên vai lão là hai bó củi gộc nặng trĩu làm chiếc đòn gánh tre uốn cong như cánh cung.
Đến trước ngõ, lão đứng sững lại. Đôi mắt sau hàng mày rậm như chổi xể quét thẳng vào thanh đoản kiếm đặt trên đầu gối Khánh. Ánh nhìn sắc lạnh như mũi dao cạo.
"Kiếm cổ... cuối cùng cũng bò lên..."
Giọng lão già khàn đục như tiếng đá cọ vào nhau.
Khánh giật thót, đứng bật dậy:
"Ông là ai? Nói gì đấy?"
Lão già không đáp. Lão nhấc gánh củi, thoăn thoắt sải bước. Nhanh như một bóng ma lướt qua mặt đất, chớp mắt đã mất hút sau rặng tre đực đầu thôn.
Làn khói mỏng lại khẽ cuộn quanh vành tai Khánh, giọng Cao Lỗ thì thào:
"Đừng đuổi. Kẻ đó cắm rễ ở dải đất này lâu hơn cả mấy gốc đa cổ thụ. Hắn ngửi thấy mùi kiếm, và hắn đang chờ. Sau này khắc gặp lại."
"Mảnh đất này rốt cuộc còn giấu cái gì nữa?" Khánh lẩm bẩm.
"Nhiều hơn đống phù sa dưới đáy sông. Tối nay ta kể cho nghe vì sao thanh kiếm nằm dưới lạch."
Đêm sâu hoắm. Gió ngoài sông thốc từng cơn buốt rát qua khe cửa. Lão Phúc Anh ngủ vùi trên ổ rơm, tiếng thở khò khè nhọc nhằn.
Khánh ngồi chồm hổm bên đống tro tàn, ngọn lửa củi bưởi lép bép rọi đỏ nửa gương mặt.
Cao Lỗ hiện ra mờ ảo phía đối diện:
"Biết vì sao thanh đoản kiếm này cắm sâu dưới đáy lạch ba trăm năm không?"
Khánh lắc đầu: "Cha con chỉ bảo là đồ trấn yểm..."
"Là cái chốt phong ấn." Cao Lỗ gằn giọng, mắt long lên. "Năm xưa, viên Tiết độ sứ Cao Biền cậy tà thuật phương Bắc, sang đây rà tìm long mạch hòng bẻ gãy vương khí đất Nam. Hắn cướp lấy thanh kiếm này, thứ vũ khí đẫm khí thiêng Lạc Việt, đóng ngập vào mắt rồng sông Đáy. Ba trăm năm, thanh kiếm nằm đó chịu âm khí và bùn thối gặm nhấm, vừa khóa chặt long mạch non sông, vừa giam cầm tàn hồn của ta dưới đáy lạch."
Lão ghé sát mặt vào Khánh, giọng trầm u uất:
"Mày nhổ kiếm lên, phong ấn vỡ một góc. Mạch đất cựa mình, nhưng những thứ tà ma bị Cao Biền đè dưới lòng sông ngàn năm qua cũng bắt đầu ngửi thấy hơi sống mà trồi dậy. Đêm nay, nước sông Đáy tanh nồng mùi tử khí. Giông bão tới nơi rồi."
"Chúng nó sẽ tìm đến đây?" Khánh bóp chặt chuôi kiếm.
"Chúng sẽ xé xác kẻ nào cầm kiếm. Đấy là luật." Kiếm hồn nhìn xoáy vào mắt cậu. "Năm chiêu ta dạy chỉ cứu được mạng mày khi tâm mày phẳng lặng như đất. Cầm kiếm lên là dẫm chân vào đường máu. Liệu hồn."
Khói tan. Bóng lão tướng chìm nghỉm vào bóng đêm đặc quánh.
Khánh ngồi trơ trọi bên bếp lạnh. Ngoài hiên, gió sông Đáy giật từng chập làm tấm liếp rung lên bần bật. Từ sâu dưới lòng đất, một tiếng gầm gừ trầm đục, nghẹn uất như tiếng sấm ngầm dưới đáy sông dội lên, làm râm ran cả mặt đất dưới bàn chân trần của thằng bé chài lưới.
Mười bảy năm bình yên trôi dạt mé sông, đến đêm nay là chấm hết.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.