Lạc Hồng Kiếm Ấn

Quyển 1: Thức Tỉnh: Đoản Kiếm Tỉnh Mộng

Chương 13: Nhân Gian Muôn Nẻo Đường Đời

Đăng: 11/09/2026 07:36 5,648 từ 31 lượt đọc

Chùa Hư Vân nằm ở ngoại thành Thăng Long, thuộc vào hàng tứ đại danh tự của đất kinh kỳ.

Ngôi đại tự này quản lý hàng trăm mẫu nông viên trù phú, thóc lúa thu về chật kín các dãy kho lớn. Phía sau Hậu viện là khu xưởng rèn khổng lồ đỏ lửa quanh năm, vừa đúc nông cụ cho dân quanh vùng, vừa nhận lệnh triều đình rèn giáo mác, mũi lao mỗi bận có biến. Tăng binh trong tự đông tới vài trăm người, võ nghệ cao cường, giới luật sâm nghiêm, thế nên từ chốn miếu đường cho tới kẻ buôn bán bến bãi đều phải kiêng nể ba phần.

Trụ trì đời trước là một bậc cao tăng đắc đạo, tương truyền lúc viên tịch đã đạt tới Bồ Tát Bất Động Địa. Ngài truyền lại y bát cho hai đệ tử: người kế vị là Giác Thông, người còn lại dứt áo rời chùa bặt vô âm tín. Hòa thượng Giác Thông năm nay tuổi đã cao, râu tóc bạc phơ nhưng dáng đi thoăn thoắt, mắt sáng như đuốc và gương mặt đượm nét từ bi. Ai nấy đều tin đạo hạnh của ngài đủ sức tiếp nối ân sư.

Tin tức trụ trì đích thân đăng đàn thuyết pháp trong tiết Thanh Minh lan khắp hang cùng ngõ hẻm từ mấy hôm trước.

Mưa xuân giăng màn sương mỏng mát rượi, cây bồ đề trước sân chùa đâm chồi xanh biếc. Cờ phướn ngũ sắc cắm rợp từ mặt đê vào tận nội tự. Dưới chân các hàng cột lim, từng dải biểu ngữ bằng chữ Nho giăng dài trang nghiêm.

"Khổ hải vô biên, hồi đầu thị ngạn..."

Một gã phu xe lừa đứng nép dưới mái hiên, ngửa cổ vừa nhẩm đọc vừa bảo đứa con nhỏ: "Biển khổ không đáy, quay đầu là bờ đấy con ạ. Nay có duyên được nghe Thầy giảng giải, liệu mà mở tai ra nghe để biết đường ăn ở."

Bên chái tây, tiếng gậy gỗ gõ lộc cộc xuống thềm đá cùng giọng the thé của quản sự Viên Thông vang lên cắt ngang dòng người:

"Thằng Khánh! Mày đứng chết dí ở đấy làm gì? Vác nốt dãy ghế gỗ sang bên mạn quan lại cho tao! Còn đám phu trâu chúng mày, bồ đoàn rơm lau sạch chưa mà đứng thở dốc thế hả?"

"Dạ, xong ngay đây ạ."

Khánh đáp, cắm cúi xốc hai chiếc ghế lim nặng trịch lên vai, bước thoăn thoắt qua sân. Cậu vừa làm vừa quan sát dòng người thập phương đang nườm nượp đổ về.

Mặt trời lên bằng con sào, cổng Tam Quan nghẽn cứng. Ngựa xe lọng gấm của đám phú thương, quan chức chen lấn với áo nâu sồng chân đất của dân cấy lúa. Chiếu hoa rải kín mé trên, bồ đoàn rơm ken chặt dưới sân gạch.

Hương trầm tỏa mù mịt trong sương sớm. Tiếng khánh đồng gióng giả từng hồi mở màn cho khóa kinh cầu siêu. Hàng trăm tăng chúng cất giọng tụng niệm trầm hùng, nhịp mõ dẫn dắt lời kinh chiêu tuyết cho những vong hồn phiêu bạt trận mạc, những kẻ chết chìm dưới sông sâu được nương nhờ cửa Phật vãng sinh. Khánh nép bên góc hiên chái tây, im lặng dõi theo từng nhịp lễ.

Nghi lễ cầu siêu dứt, khói hương trên sân bắt đầu loãng dần. Tăng chúng dừng kinh, tiếng mõ thưa rồi dứt hẳn.

Hòa thượng Giác Thông đi đến ngồi lên bục sen bằng gỗ đàn hương, chắp hai tay niệm:

"A Di Đà Phật."

Tiếng niệm trầm ấm lan xa, khiến cả khoảnh sân đang ồn ào lập tức nín lặng. Ngài nhìn khắp lượt đại chúng, chậm rãi hỏi:

"Hôm nay tiết trời ấm mát, các vị tới đây đông đủ nhường này... là vì điều gì? Cầu siêu cho linh hồn người đã khuất, hay cầu mong cho sự an bình trong chính tâm hồn mình?"

Dưới sân im phăng phắc. Bên hàng ghế danh dự, một gã lái buôn gỗ quặng ngoài ngũ tuần trù trừ một lát rồi đứng dậy, cung kính chắp tay vái dài:

"Bạch Thầy. Đệ tử buôn gỗ quặng dọc sông Cái mấy chục năm qua. Thanh Minh năm nào đệ tử cũng sắm sửa lễ nghi, cung kính dâng cúng hàng chục lạng bạc vào hòm công đức của bản tự, lại phát chẩn gạo muối khắp các bến bãi. Vậy mà đêm về nhắm mắt lại vẫn nghe tiếng sóng cuộn đòi mạng, tâm thần bấn loạn không một đêm ngon giấc. Bạc tiền dâng cúng không tiếc, sao lòng đệ tử chưa ngày nào được an?"

Giác Thông chỉ tay vào chiếc tráp sơn son tên gia nhân đang ôm:

"Mang lên đây."

Chiếc tráp nặng trịch được tên gia nhân khúm núm mang lên, đặt ngay ngắn trên mép bục gỗ.

"Đặt xuống rồi. Giờ thì buông tay ra."

Gã lái buôn ngơ ngác: "Bạch Thầy, con buông tay rồi đấy chứ ạ."

"Ta bảo ngươi buông xuống."

Gã hoang mang, sợ tấm lòng mình chưa đủ thành kính, vội vàng tháo phăng chiếc nhẫn ngọc bích gia bảo trên ngón tay, hai tay cung kính đặt ghé vào mép tráp, rồi xòe hai bàn tay trống trơn ra: "Đến vật quý báu nhất trên người con cũng dâng lại cửa Phật rồi. Hai tay con nay rỗng không, lấy gì buông nữa?"

Giác Thông lắc đầu:

"Thuở xưa có kẻ mang hai bó hoa sen rực rỡ đến cúng Phật. Phật bảo buông cành bên trái, gã buông. Phật bảo buông cành bên phải, gã buông. Phật lại bảo buông tiếp, gã ngơ ngác hỏi hai tay đã rỗng thì buông cái gì. Phật mới dạy: buông là buông cái tâm tham cầu công đức, buông cái danh của kẻ bố thí, buông nỗi sợ nghiệp báo trong đầu. Ngươi mang bạc lên chùa đổi lấy sự thanh thản, ấy là đem thói con buôn vào quấy nhiễu cửa Phật. Trong lòng còn đầy toan tính với sợ hãi thì lấy đâu ra chỗ cho sự yên ổn?"

Gã nhà giàu ngồi thụp xuống bồ đoàn, xấu hổ không cãi được nửa lời.

Mé sau sân gạch, một bà lão mặc áo tơi lá rách bươm, gót chân nứt nẻ bết phèn bùn run run ngẩng lên: "Bạch Thầy... Kẻ giàu có bạc để tiếc, còn lũ làm thuê cuốc mướn chúng con không có mảnh đất cắm dùi, sớm tối lo bữa cháo bữa rau còn không đủ, thì lấy cái gì để mà buông?"

Giác Thông nhìn đôi chân trần của bà cụ, giọng chùng xuống:

"Muốn qua sông lớn thì phải đốn tre làm bè. Sang tới bờ bên kia rồi, có ai cõng chiếc bè nứa lên vai mà đi tiếp không? Kẻ nghèo không tiếc bạc, nhưng lại hay vác theo cái tủi phận. Vác cái oán hận vì sao đời mình cơ cực, vác nỗi sợ mai này con đói, sợ chết không manh chiếu rách bó thân... Nắm chặt nắm cát thì cát lọt qua kẽ tay, ghì chặt nỗi sợ thì thân xác xương tủy mòn mỏi. Bổn phận làm lụng nuôi thân thì cứ làm cho trọn, nhưng đừng biến cái nghèo thành gông cùm trói tâm mình. Đi qua sông rồi, để chiếc bè lại mé nước. Tùy duyên mà làm, tùy tâm mà định."

Ngài đưa mắt nhìn khắp lượt sân chùa, giọng đanh lại mà âm vang:

"Nhưng các vị chớ có lầm: buông không phải là buông xuôi, càng không phải là hèn nhát khoanh tay cúi đầu để mặc cho đời xô đẩy! Thấy kẻ ác hại người mà làm ngơ, thấy người thân đói rét mà buông tay mặc kệ, ấy là vô hạnh, đâu phải đạo của Phật môn? Đất nước này ngàn năm đứng trước họa ngoại bang, nếu tiền nhân chỉ biết buông tay ngồi gõ mõ thì nay lấy đâu ra đất cho các vị dựng chùa cắm dùi?

Đã mang thân cư sĩ sống giữa trần thế, người tu học tại gia phải có tâm Bồ-đề kiên cố, có cái dũng mãnh của bậc Hộ Pháp Kim Cang! Nắm là nắm lấy hạnh nguyện, nắm lấy trách nhiệm phụng dưỡng mẹ cha, đùm bọc xóm làng; khi giặc tràn bờ cõi, tay phải cầm chắc ngọn giáo để chở che giống nòi, gìn giữ non sông. Đó là đại nguyện nhập thế, là tinh tấn hành trì, nào phải chấp niệm phàm phu? Còn buông là buông lòng tham lam vơ vét, buông thù hận mù quáng, buông nỗi khiếp nhược sợ chết của cái tôi nhỏ bé. Kẻ tu học giữa đời biết nắm lấy gánh vác việc đời, nhưng việc xong rồi thì tâm xả bỏ nhẹ tựa mây trôi, không để tham luyến hay oán hận níu chân. Biết nắm vì muôn người, biết buông vì giải thoát, đó mới là chân hạnh giữa cõi hồng trần!"

Giác Thông khép mắt niệm Phật, dứt lời.

Nép sau thân cột lim chái tây, Khánh chăm chú lắng nghe từng lời của vị đại sư, không bỏ sót một câu. Từng lời giảng về chiếc bè qua sông và tâm đại dũng hộ pháp rót vào lòng cậu rành rọt. Cậu không nghĩ ngợi nhiều, lẳng lặng cất từng lời vào đáy lòng rồi quay về Hậu viện.

Buổi thuyết giảng kết thúc, dư âm vẫn còn sâu sắc. Khách thập phương còn nán lại thắp hương, vãn cảnh quanh chùa, hoặc trao đổi tâm đắc với nhau và với các vị sư.

~~~~

Sáng sớm hôm ấy, ở một góc phố nhỏ ven bến sông, Lê Văn Hoan ghé tiệm Bà Cháo gọi một bát cháo cá nóng.

Từ hôm xảy ra trận hỗn chiến ở bến Đông Bộ Đầu, đến tận bây giờ hắn mới dám mò tới đây, vừa để ăn sáng lót dạ, vừa nghe ngóng tin tức của thằng nhỏ mới quen là Khánh.

Húp cạn đáy bát cháo, Hoan ngập ngừng hỏi:

"Bà Cháo ơi... cái thằng nhỏ người Đường Lâm đi cùng cháu hôm nọ... bà có biết giờ nó dạt đi đâu rồi không?"

Bà Cháo đảo muôi gỗ vào nồi, khói bốc nghi ngút:

"Không biết. Sống chết có số, duyên đến thì gặp, hỏi làm gì."

Thấy bà lão hôm nọ ra tay điểm hóa cho Khánh rõ ràng là cao nhân ẩn thế, máu láu cá trong người Hoan nổi lên. Hắn sáp lại gần bếp than, xoa xoa hai bàn tay cáu bẩn:

"Bà Cháo này, cháu thấy hôm trước bà truyền cho thằng Khánh mấy câu mà người nó dẻo dai khỏe khoắn lạ thường. Cháu với bà quen biết bấy lâu, hay bà thương tình truyền cho cháu một hai chiêu bí kíp hộ thân đi? Ở cái đất Thăng Long này không có miếng võ lận lưng, cháu bị đám chủ nợ dần cho nhừ tử mất!"

Bà Cháo ngừng tay muôi, liếc cái thân gầy như dải khoai của hắn, bật cười:

"Thằng khỉ đáo để, cơ duyên của cậu ở chỗ khác."

Bị từ chối thẳng thừng, Hoan đành ôm tráp mực và manh chiếu rách quay lại Quốc Tử Giám để mưu sinh.

Đến trước ngạch cổng đá xanh, Hoan dừng bước. Một nửa trong hắn thèm được bước vào chốn miếu đường chữ nghĩa, nhưng nửa kia lại co rúm trước manh áo the vá đụp và chiếc tráp gỗ mốc meo trên tay. Nhìn đám nho sinh áo mũ là lượt dập dìu qua lại, chân hắn cứ chùng xuống, lùi một bước lại muốn tiến một bước. Đứng phân vân một thoáng, Hoan bặm môi, siết chặt quai tráp rồi quyết ý sải bước qua ngạch cửa.

Vừa đặt chân qua ngạch, hai môn sinh áo the xanh nẹp lụa hoa cúc liền chặn đứng đường đi, kẻ hất hàm gắt:

"Này gã kia! Tráp mực vá víu rách nát mang vào đây làm gì? Muốn viết sớ thuê thì ra bờ rãnh ngoài cổng mà ngồi, chốn miếu đường đâu phải chỗ cho ngữ cùng đinh la cà!"

Hoan nuốt khan, mười đầu ngón tay siết chặt quai tráp. Hắn không đôi co nửa lời, ôm chặt tráp gỗ vào ngực rồi lách người đi thẳng qua khe hở giữa hai kẻ nọ.

Gian phòng sau nhà Giảng Văn vắng lặng, không hương khói phụng thờ, chỉ có nắng sớm rọi nghiêng qua hàng chấn song con tiện. Bốn bề vách gỗ treo kín những trục biểu viết bằng mực tàu chân phương, sắc như mũi giáo:

*"Vi thiên địa lập tâm, vi sinh dân lập mệnh, vi vãng thánh kế tuyệt học, vi vạn thế khai thái bình."*

*"Thiên hạ dĩ kỷ nhậm, tử nhi hậu dĩ."*

*"Tự phản nhi súc, tuy thiên vạn nhân, ngô vãng hĩ."*

Hoan đi chầm chậm qua từng trục chữ. Bước chân hắn khựng lại trước một mảnh lụa bạch treo chính diện. Bốn chữ đại tự viết bằng mực son vẫn đỏ tươi như máu:

**"ĐƯƠNG NHÂN BẤT NHƯỢNG."**

Chân Hoan như chôn chặt xuống nền gạch nung.

Mười ngón tay khẳng khiu bấu chặt đến trắng bệch nơi mép tráp gỗ. Trong lòng hắn như có một hạt mầm ngủ quên bao năm tách vỏ nảy mầm. Một luồng khí mạnh mẽ cương trực khởi sinh, chạy dọc sống lưng bốc thẳng lên lồng ngực. Hắn nhận ra: cái "Nhân" không thuộc về riêng lũ áo gấm nhiều tiền. Đứng trước lẽ phải và điều nhân nghĩa, kẻ hèn mọn nhất dẫu đối diện với bậc thầy quyền thế cũng quyết không được nhượng bộ nửa phân!

Gã cứ đứng thế tần ngần rất lâu giữa gian phòng vắng.

Ở xa xa sau rặng cây, một vị quân tử Nho gia vận áo thụng lam nhìn thấy, ánh mắt sáng ngời, gật đầu khen:

"Thật thiện, thật thiện."

~~~~

Lý Trường Phong hôm qua ngủ ở một ngôi miếu vắng mé ngoại thành. Xưa nay người ta vẫn nói đạo sĩ đạo trường gần với miếu thờ, chắc cũng có nguyên do. Gã tự an ủi mình như thế, rồi gom đồ đạc lên đường.

Tạm thời gã cũng chưa biết đi đâu. Nếu chưa tìm được đầu mối của kỳ vật xuất thế, chắc gã phải làm sạp xem bói mưu sinh qua ngày. Nghĩ nghĩ một hồi, gã bèn bấm ngón tay lấy quẻ, được quẻ *Sơn Lôi Di* biến thành *Hỏa Địa Tấn*.

"Chà chà, quẻ tốt, chuyến này không lo đói nữa."

Gã nhủ thầm rồi cất bước lên đường, chẳng mấy chốc đã đi vào một khu xóm nghèo ở mép kinh thành.

Trước đây, thân là thiên tài tu luyện của Bạch Vân Quán, cuộc đời gã là một đường thẳng tắp. Mười hai tuổi lên đạo quán, gã một đường băng băng tu luyện thành tài, chỉ mất mấy năm lần lượt phá cảnh Luyện Khí, tới nay đã là cảnh giới Trúc Cơ đỉnh phong. Tuy nhiên, không hiểu sao tới đây thì có một vách ngăn chắn trước mặt hắn, không thể tiến tới được nữa. Hắn có hỏi thì sư phụ chỉ cười hề hề: *"Thời chưa tới."* Trong khi hắn thì nóng ruột vô cùng, bí bách không kể xiết.

Hoàn cảnh trên núi tốt thế, nên căn bản hắn không tiếp xúc nhiều với nhân gian, không hiểu mấy về nhân tình thế sự và nỗi khổ cuộc đời. Đây cũng là lần đầu tiên hắn bước tới khu nhà nghèo, khung cảnh khiến hắn vô cùng bỡ ngỡ: rãnh nước đen ngòm bốc mùi xú uế, những mái tranh dột nát xiêu vẹo, những đứa trẻ gầy trơ xương ngồi co ro bên bậc cửa đất bới vỏ củ ấu.

Đang ngơ ngác nhìn quanh, một ông lão từ ngõ cụt hớt hải chạy tới, quỳ sụp xuống vái lạy:

"Tiên trưởng! Cầu xin tiên trưởng cứu mạng con lão!"

Trường Phong đỡ lão dậy: "Bác bình tĩnh, dẫn đường cho bần đạo."

Hắn theo lão về nhà. Đó là một ngôi nhà tranh vách đất nghèo đến cùng cực, đồ vật có giá trị nhất chỉ là một cái lu đựng gạo vơi đáy và mấy cái niêu đất sứt mẻ. Vừa bước chân qua bậu cửa, một bà lão đầu tóc bạc phơ từ góc tối lảo đảo nhào ra, sụp lạy như tế sao dưới chân Trường Phong, nước mắt giàn giụa:

"Tiên trưởng ơi! Trăm lạy ngài cứu cháu với! Vợ chồng già chúng tôi gần đất xa trời mới mót được mụn con muộn màng này... Nó mà có mệnh hệ nào thì thân già này cũng đâm đầu xuống sông thôi tiên trưởng ơi!"

"Bác cứ đứng dậy, để bần đạo xem bệnh."

Trường Phong đỡ bà cụ dậy rồi bước tới bên đống rơm khô. Đứa bé chừng năm tuổi nằm trên ổ rạ gói ghém sạch sẽ, đắp manh chăn rách có lẽ là thứ lành lặn nhất trong nhà, người sốt nóng hầm hập, nằm rên hừ hừ mê sảng.

Lý Trường Phong bước lại nắm tay bắt mạch. Nhận thấy luồng tà khí đầm lầy quấn chặt kinh mạch đứa nhỏ, hắn dùng ngón tay ấn mạnh vào huyệt Ấn Đường, truyền một luồng sinh khí thanh thuần vào trong. Từ đỉnh đầu người bệnh, một bóng đen nhờ nhờ thoát hơi bay vụt lên.

Lý Trường Phong nhanh tay rút kiếm gỗ đào chém bóng đen tan biến vào vách đất. Đoạn, hắn rút một lá bùa, thổi phù một tiếng cho bùa cháy rực. Hắn lấy tàn than hòa vào bát nước mưa, bảo lão già cho đứa con uống.

Một lát sau, đứa con thở ra làn hơi nóng đục ngầu, hạ sốt nhanh chóng rồi mở mắt tỉnh táo, cất tiếng gọi mẹ. Cặp vợ chồng già mừng mừng tủi tủi ôm chầm lấy con khóc nấc lên, rồi quay lại dập đầu lia lịa:

"Tạ ơn tiên trưởng, tạ ơn tiên trưởng cứu mạng con lão!"

Hai vợ chồng nhìn quanh căn nhà rách nát, mặt đỏ bừng lúng túng. Người cha phân trần:

"Tiên trưởng ơn sâu như trời bể, mà nhà lão kiết xác quá, chẳng có lấy một đồng kẽm tạ ơn..."

Lý Trường Phong mỉm cười:

"Không sao, bần đạo chỉ xin một bữa cơm đạm bạc là đủ rồi."

Bà lão vội vã chạy ra ngõ vay mượn hàng xóm. Một lát sau, mâm cơm dọn ra trên chiếc chõng tre gãy chân gồm một bát cơm đầy ắp bốc khói thơm nức mùi gạo mới, đĩa rau muống luộc già và vài con tép đồng rang muối mặn chát.

Bà run run đặt đôi đũa tre xuống, giọng áy náy: "Bát gạo này lão vừa chạy vội sang mượn bên nhà thợ rèn, đồ ăn quê mùa sơ sài, mong tiên trưởng đừng chê..."

"Cơm gạo mới thơm ngọt thế này, sơn hào hải vị trên núi cũng chẳng sánh bằng. Bác đừng bận tâm."

Trường Phong và một mạch hết mấy bát, thấy ngon vô cùng. Nhìn đôi bàn tay nứt nẻ cáu bẩn của người cha nghèo, hắn thấm thía nhận ra: quả thật lòng người không thể dựa vào giàu nghèo mà đo.

Vách ngăn Trúc Cơ đỉnh phong bấy lâu trong đan điền gã khẽ lay động một nhịp, hé mở một tia sinh cơ thông suốt.

Ở xa xa, trên đỉnh Bạch Vân Quán mây mù bao phủ, lão sư Trường Xuân đang cời lò than mỉm cười:

"Thế mà lại chọn Nhân đạo. Ừ, cũng là số mệnh."

~~~~

Trời tối, khuôn viên chùa Hư Vân bớt hẳn huyên náo. Khách thập phương đã về hết, chỉ còn các tăng lữ đang niệm chú thường nhật trong Chánh điện.

Khánh hôm nay không ra bãi củi tập kiếm. Cậu nằm ngửa trên chiếc sạp nứa cạnh chuồng trâu, gác tay lên trán.

Bên cạnh, một gã tá điền lớn tuổi nhổ toẹt bãi nước trầu vào góc cột, càu nhàu:

"Này Khánh, mày nằm đực mặt ra đấy làm gì? Ban trưa nghe Thầy giảng giải chữ buông với chữ bỏ, mày có hiểu được tí cóc khô nào không? Tao thì chỉ thấy buông cuốc là đói mốc mồm. Mai lại phải gánh thêm hai mươi xe phân trâu ra đồng bãi kia kìa, lo mà ngủ sớm đi con ạ!"

Khánh "Vâng" một tiếng rồi nhắm mắt lại.

Nằm nghĩ vẩn vơ về những điều sư Giác Thông giảng ban trưa... nghĩ mãi, nghĩ mãi... Khánh rơi vào một trạng thái khác thường.

Tiếng thở phì phò của trâu, mùi rơm mục nồng nặc và tiếng ngáy của gã tá điền bên cạnh lùi xa dần rồi biến mất sạch. Thế giới bên ngoài chìm nghỉm, chỉ còn lại tâm tư tĩnh lặng của Khánh và chuỗi âm vang *Ohm... Ohm...* trầm đục từ Chánh điện dội về.

Làn sóng vô hình theo tiếng *Ohm* tràn vào da thịt, chạm trán đám tà độc Thủy Tinh tích tụ nơi bả vai trái. Vết thương cũ buốt thốc lên như bị kim độc châm vào tủy. Khắp mình mẩy, từng khớp xương nhức nhối như bị bẻ gãy. Đầu cậu căng trướng, hai bên thái dương giật nảy từng cơn đau buốt.

Cùng lúc đó, những thương đau tích tụ bấy lâu bị lôi tuột ra ngoài. Hình ảnh người mẹ qua đời từ thuở cậu còn ẵm ngửa ùa về, lạnh ngắt và côi cút. Rồi đến bóng lưng còng của cha — người lính dạn dày tên đạn trở về làng với những vết thương chưa lành, chôn chặt chí lớn chưa thỏa vào từng mẻ lưới rách bên sông Đáy. Sự im lặng nhẫn nhục cả một đời cùng gánh nợ của cha bóp nghẹt lấy trái tim Khánh, khiến lồng ngực cậu đau thắt từng cơn.

Hai hàm răng Khánh cắn chặt vào môi đến bật máu tươi, nước mắt giàn giụa ướt đẫm gối rơm. Cậu quằn quại trên sạp nứa trong cơn đau đớn xé ruột xé gan.

Ngay vào khoảnh khắc Khánh quằn quại đến cùng cực ấy, tít sâu trong Tàng Khố của bản tự, dưới lớp bụi phủ và những đống nông cụ han gỉ, khúc đoản kiếm đồng gãy bỗng rung lên một nhịp. Trên thân kiếm rỉ xanh, một vệt sáng màu đồng cổ chợt lóe lên rực rỡ qua kẽ nẹp rương gỗ, âm thầm cộng hưởng với luồng khí tức đang cuộn trào nơi chuồng trâu Hậu viện.

Giữa lúc mê loạn, lời dạy của Giác Thông về cái dũng hộ pháp rền vang trong tâm trí. Khánh không gồng mình cự tuyệt cơn đau nữa. Cậu mở lòng, đem trọn vẹn ý thức nương tựa vào từng nhịp *Ohm*.

Tích Thủy Châu dưới chân răng lập tức ứa ra dòng hàn khí tinh khiết, hòa cùng hơi ấm lá bùa Địa Linh nằm sâu trong da thịt. Dòng khí thanh lương cuồn cuộn chảy tràn, không làm cơn đau dứt ngay tức khắc, mà chầm chậm bao bọc lấy từng ổ bệnh, xoa dịu những khớp xương đang rạn nứt. Từng thớ cơ bầm dập được dòng nước mát ấy từ từ khâu lành, âm độc Thủy Tinh bị nghiền nhỏ từng chút một rồi bài tiết qua da.

Cơn buốt nhức rút dần như thủy triều xuống. Trong đầu Khánh vang lên một tiếng nổ giòn tan sâu thẳm.

Trước mắt cậu bừng lên một luồng ánh sáng chói lòa, tựa dòng nước cam lộ mát rượi tưới từ đỉnh đầu chảy tràn khắp tứ chi. Toàn bộ kinh lạc thông suốt, các thớ thịt dẻo dai liên kết chặt chẽ, ngũ tạng thư thái an bình. Đan điền cậu ấm áp, ngưng tụ lại thành những nhịp đập êm ả, vững chãi tựa bàn thạch.

Khánh thở hắt ra một hơi dài, mở mắt nhìn lên mái tranh. Thân thể nhẹ bẫng, sảng khoái. Cậu đã chính thức bước chân vào **Minh Tâm Trung Kỳ**, nhưng bản thân chỉ ngỡ mình vừa qua một cơn ác mộng đau đớn thấu xương rồi tỉnh giấc.

~~~~

Khuya. Khuôn viên chùa Hư Vân chìm trong tĩnh mịch, mưa xuân rỉ rả đọng giọt trên tàu lá bồ đề.

Một bóng đen xuất hiện. Nàng đi chân đất, cổ chân đeo chiếc vòng bạc sáng loáng, gót chân trắng muốt lướt trên nền đá lạnh như một làn khói.

Nàng đi qua dãy hành lang vắng ngắt, dừng trước tòa lầu có bảng hiệu: **Tàng Kinh Các**.

Đôi mắt sau làn mạng the sáng lên. Nàng bay là là mặt đất tiến tới cửa. Nhưng chưa chạm được vào cánh cửa gỗ, một luồng lực bài xích vô hình dội ngược lại, đánh văng nàng ra sau hai trượng.

Nữ nhân rút từ búi tóc ra chiếc trâm huyền ngọc đen tuyền chạm huyết văn, kết ấn rồi truyền chân khí vào trâm. Một luồng sáng đỏ đen sẫm từ mũi trâm bắn ra, công phá dữ dội vào bức tường vô hình. Tiếng *xèo xèo* vang lên, kết giới dần dần bị khoét một lỗ nhỏ rồi lan rộng ra.

"A Di Đà Phật!"

Một tiếng niệm Phật trầm đục vang lên xé toạc màn đêm.

Từ đằng xa, một bóng người vạm vỡ lao tới, theo sau là mười võ tăng tay lăm lăm côn trượng, lập tức dàn trận bọc kín mười phương. Đi đầu chính là Thủ tọa Tăng Binh Đường – hòa thượng Thích Đạo Nghiêm!

Nhìn thấy bộ dạng kẻ xâm nhập, Thích Đạo Nghiêm cắm mạnh cây trượng xuống đất:

"A Di Đà Phật, không biết nữ thí chủ có việc gì mà lại đại giá quang lâm Tàng Kinh Các vào lúc đêm khuya thanh vắng thế này?"

Nữ nhân không hề bối rối, giấu chiếc trâm ngọc vào tay áo, cất giọng ngọt xớt:

"Tiểu nữ thấy đêm xuân mát mẻ, lòng tràn hoan hỷ nên vào chùa vãn cảnh. Chẳng hay đại sư đêm xuân khởi giấc mộng xuân nên chưa ngủ, hay vì cớ gì mà trằn trọc dẫn cả đệ tử ra đây tiếp đón tiểu nữ long trọng thế này?"

Mười võ tăng tức đỏ mặt, quát lớn:

"Yêu nữ chớ buông lời hoang đường! Đêm xuống tới đây không phải phường thảo tặc thì cũng là đạo tặc ma môn!"

Mười ngọn côn đồng loạt vung lên xông tới, tiếng gió rít xé toạc màn mưa phùn.

Nữ nhân không lùi. Nàng nhón gót chân trần lướt đi trên nền đá. Mỗi bước tiến thoái, chiếc vòng bạc nơi cổ chân va chạm phát ra tiếng kêu *đinh đang... đinh đang...* lảnh lót. Nhịp điệu *đinh đang* lúc khoan lúc nhặt, dồn dập như tiếng trống trận thôi thúc, len lỏi vào từng kẽ hở giữa tiếng côn trượng vun vút. Thân ảnh nàng mềm như dải lụa, khi nghiêng mình né mũi đâm, lúc xoay gót luồn qua khoảng hẹp giữa hai bóng trượng bủa vây.

*Vút!*

Đầu trượng sắt sượt sát mép sườn nàng trong gang tấc. Kình gió cuốn thốc lên làm bung búi tóc mây, những lọn tóc đen nhánh bay tạt ra sau, để lộ cần cổ trắng và bờ vai thon dưới làn the. Nàng nhếch môi, chiếc trâm huyền ngọc gạt nhẹ một cái khiến ngọn trượng chệch hướng, mượn đà xoay người lướt ra sau lưng đối thủ.

Tiếng vòng bạc lại rung lên từng hồi thúc giục: *đinh đang... đinh đang...*

Mười võ tăng càng đánh càng dồn dập, nhịp thở bắt đầu hỗn loạn theo từng tiếng *đinh đang* lảnh lót. Từng làn hương mỏng u nhã phả ra từ tay áo nàng theo gió len lỏi theo từng hơi thở tăng binh.

Bất thần, nữ nhân áo đen dừng lại giữa trận địa. Nàng nghiêng đầu, đôi mắt dưới làn mạng the chớp nhẹ. Con ngươi đen láy ánh lên sắc xanh biếc lạnh lẽo, ma mị nhìn xoáy vào từng người.

Chỉ một ánh nhìn ấy, không gian trước mắt mười vị võ tăng bỗng chốc méo mó, vặn xoắn lại.

Màn mưa bụi lất phất quanh sân chùa nhòe đi, loang ra thành một lớp sương mờ ảo mang sắc đỏ nhạt chập chờn. Trong tầm mắt mười người, bóng dáng kẻ thù mặc dạ phục tan biến, chỉ còn lại những tàn ảnh lướt đi dập dờn hư thực. Làn the đen dường như tan nhòa vào bóng đêm, thấp thoáng để lộ những đường cong da thịt mềm mại, nhấp nhô lượn sóng theo từng nhịp lắc mình. Tấm lưng thon, vòng eo mềm cùng những vệt sáng màu ngà chập chờn đan cài vào nhau trong làn sương đỏ, lớp này vừa mờ đi thì lớp khác lại lả lướt hiện ra ngay sát tầm mắt, nửa kín nửa hở khiến lòng người mê muội khôn cùng.

Cơn nóng ban đầu chỉ âm ỉ nơi cuống họng, nay theo từng ảo ảnh ma mị ấy xộc thẳng lên làm đầu óc mười vị tăng binh quay cuồng, đất trời chao đảo. Mắt ai nấy vằn lên tia máu đục ngầu, hơi thở đứt quãng.

Họ nghiến răng vận cương khí đè xuống, nhưng càng gồng thì dục hỏa càng bốc lên ngùn ngụt. Toàn bộ dòng chân khí trong kinh mạch lập tức tuột dốc, cuồn cuộn đổ dồn cả xuống bụng dưới.

Khớp gối bủn rủn, hai cánh tay mất sạch lực.

*Keng! Choang!*

Mười cây thiết trượng tuột khỏi tay, rơi loảng xoảng xuống mặt đá.

Bao nhiêu kình lực tích tụ dường như nghẽn cứng lại ở một điểm duy nhất dưới hạ bộ, vừa trướng căng vừa nóng ran như phải bỏng. Mặt người nào người nấy đỏ bừng bốc hỏa, mồ hôi túa ra đầm đìa. Không ai còn đứng thẳng nổi, cả mười người lảo đảo khuỵu chân xuống, vội vã đưa hai tay giữ chặt lấy vạt áo sồng che phía trước, gập người thở dốc từng cơn.

Đạo Nghiêm đứng phía sau thấy cảnh tượng đồi bại ấy thì giận dữ quát lên:

"Yêu nữ chớ làm càn!"

Lồng ngực ông phồng to, quát lên một tiếng sấm rền:

"**OHM!**"

Tiếng Kim Cang Hống nổ vang dội, quét sạch tà khí. Mười vị võ tăng bừng tỉnh, xấu hổ sụp xuống ngồi thiền sám hối. Thân hình nữ nhân áo đen khựng lại một nhịp. Thích Đạo Nghiêm vung quyền trượng bọc kim quang đánh xuống một đòn sấm sét, kình lực ngập tràn giáng thẳng xuống đầu nàng!

*Ầm!*

Nền đá nứt toác. Thế nhưng dưới đất chỉ còn lại một hình nộm bằng rơm nát bét. Một tia thần thức xé gió bay vút ra ngoài không gian.

Cách chùa chừng vài dặm, trên một gò đất hoang ven sông vắng, một bóng người ngã chúi xuống cỏ. Nàng vội đưa tay quẹt vệt máu tươi bên mép, lẩm bầm:

"Mấy gã đầu trọc này không đùa được..."

Nàng tung người dùng độn thuật biến ảo đi. Trong không gian đêm vắng còn văng vẳng tiếng cười lanh lảnh:

"Hôm nay tiểu nữ chỉ tiếp tới đây thôi nhé! Nếu các vị muốn thưởng thức tuyệt phẩm trên đời thì hoàn tục đi, lúc đó tiểu nữ sẽ tiếp đãi chu toàn hơn!"

Thích Đạo Nghiêm tức giận tím mặt, quay sang mắng đám đệ tử:

"Có một con yêu nữ mà cũng để mất đạo hạnh bao nhiêu lâu nay! Sáng mai tất cả vào sám hối đường chịu phạt trăm roi giới luật, phạt quỳ tụng kinh ba tháng ròng!"

Cùng lúc đó, trên tầng cao tòa lâu chùa Hư Vân, hòa thượng Giác Thông bước tới mép hành lang nhìn về xa xăm. Trong tầm mắt ngài xuyên qua hàng chục dặm sương đêm, bóng đen kia đang bay lướt đi ven bờ sông. Ngài đưa bàn tay gầy guộc ra, đánh nhẹ xuống một chưởng vào hư không.

Nữ nhân áo đen đang phi hành, bụng thầm nghĩ thoát thân được khỏi chùa Hư Vân cũng đủ tự hào. Từ trên trời, một bàn tay Phật quang vàng rực khổng lồ đánh úp xuống!

Nàng như một con muỗi, bị người ta đánh bẹp dí xuống đất!

Nàng rơi tõm xuống một vũng bùn lầy ven đầm, người lem luốc từ đầu đến chân nhưng gân cốt bên trong không hề xây xát.

Nữ nhân lóp ngóp bò dậy từ bãi bùn đen thui, cả người ướt sũng nhếch nhác. Bực mình vì lớp bùn bết dính nham nhở, nàng đưa tay giật phăng mảnh the đen che mặt vứt toẹt xuống mé nước, nghiến răng tức tối:

"Lão già thù dai!"

Một tiếng cười trầm ấm và thong dong vang vọng giữa gió đêm:

"Ha ha... Cô nương nửa đêm quá bộ quấy quả cửa thiền, bần tăng bất đắc dĩ đáp lễ một phen, âu cũng là để vừa lòng khách quý ghé chơi."

Đoạn, giọng nói trở nên trang nghiêm:

*"A Di Đà Phật. Cô nương vốn có hạt giống thiện căn, cớ sao lại đi vào tu luyện con đường ma đạo không lối? Đi đi, lão già này không giữ khách nữa."*

Cô nàng giật mình, bờ môi mọng cắn chặt lại, không dám buông thêm nửa lời trêu cợt. Nàng vội ôm bả vai khập khiễng lướt nhanh vào màn đêm. Dưới ánh sao nhờ nhờ, khuôn mặt trắng đến tinh khiết cùng thân hình đầy đặn kiều diễm hiện ra: Tố Nga của lầu Phong Nguyệt.

0