Chương 9: Bản Năng Hoang Dã
"Chui Vào Đầu Kẻ Khác, Rốt Cuộc Có Bao Giờ Thật Sự Thoát Ra Được Khỏi Đầu Mình?"
Hồ sơ số 9. Tang vật: một cuốn sổ ghi chép cũ. Nhân chứng: chính tôi. Tình trạng: đang thực nghiệm.
Đêm đã khuya hẳn. Ngọn đèn bàn hắt một quầng vàng nhỏ. Ngoài quầng đó, tối.
Mưa nện đều lên mái tôn.
Về tới nhà tôi thay bộ đồ khô, vắt bộ ướt lên dây sau bếp, rồi ngồi xuống đây. Cái lạnh không đi theo bộ đồ đó. Nó bốc lên từ nền gạch, quyện với mùi giấy cũ và mùi bụi.
Trên mấy giá sách, bụi đóng thành lớp. Mặt bàn kê sát cửa sổ chưa dọn bao giờ. Nhà không có khách.
Chiều nay ngoài bãi đất tôi có nắm được một thứ. Cái tên đó cháy rồi, mà cái cách người ta xúm lại thổi giá thì vẫn nằm đó, chờ lớp vỏ sau. Rồi đàn chim quẹt qua đầu, tôi giật mình né, và tôi biết mình cũng ở trong đám ấy chứ chẳng đứng ngoài. Cái đó chưa lắng. Nó còn nóng.
Để qua đêm là mất. Sáng dậy chỉ còn lại cảm giác tối qua mình nghĩ ra được cái gì hay, hay chỗ nào thì không nhớ.
Tôi với tay ra ngăn bàn. Để mai hẵng hay, khuya rồi. Cái câu đó tới đúng lúc nó vẫn tới. Tôi để nó tới, không cãi. Rồi tôi kéo ngăn kéo ra, lấy cuốn sổ.
Lật tới đúng trang cũ, dòng đầu tôi viết năm nào vẫn còn nguyên: anh xuống tiền vì tin đồn, hay vì lý do khác. Ngay dưới, vẫn trống trơn, không khác gì lần cuối tôi gấp nó lại.
Giữ được cảm giác là một chuyện. Giữ đúng, lại là chuyện khác. Tôi thừa biết, dựng lại cho chính xác cái đầu của một người khác, tôi không đủ sức. Cái tôi nắm được, cùng lắm là một bức tranh gần đúng nhất có thể, dựng bằng đúng những gì tôi đã kiểm chứng, không thêm không bớt một nét.
Nghề cũ có tên riêng cho việc tôi sắp làm, không phải khám nghiệm hiện trường, cũng chẳng phải ngồi gặng hỏi ai, mà là dựng lại hiện trường để kiểm chứng những gì đã thu thập, không phải đi tìm chứng cứ mới. Luật viết rõ một điều tôi giờ mới để ý, muốn dựng lại cho đúng bài bản, cần chính người trong cuộc có mặt, đối chiếu với thực tế bên ngoài.
Chỉ có tiếng mưa gõ đều lên mái tôn, ngoài ra căn nhà không phát ra một âm thanh nào khác. Không tiếng ai trở mình ở phòng kế bên, không tiếng dép lê ngoài hành lang, không một giọng nào cất lên hỏi tôi đã ăn tối chưa. Trên nóc tủ, cái bát nhang nguội tanh, chân nhang cũ đã bạc màu, bụi phủ đều y như trên mấy giá sách. Cái ghế đối diện, tôi để trống từ ngày dọn vào, chưa một lần có ai ngồi, phủ một lớp bụi mỏng đều tăm tắp.
Kẻ bị tình nghi. Người gỡ tội cho hắn. Người ngồi ghi biên bản. Ba vai, một cái ghế. Ngoài kia không có ai coi tôi làm đúng luật hay không.
Tôi tắt bớt đèn bàn, chỉ chừa một khe sáng nhỏ, ngả người ra sau ghế, nhắm mắt lại.
Trong đầu tôi, Anh A hiện ra, không phải lúc đứng giữa bãi đất, mà lùi xa hơn, về đúng cái buổi sáng mẹ anh gánh rau ra khỏi ngõ từ ba giờ, để kịp phiên chợ Sơn Đồng, xa hơn hẳn mấy cái chợ gần nhà. Xa thì xa, nhưng đồng nào ra đồng nấy, không ăn gian của ai, mẹ anh vẫn bảo vậy. Anh A lớn lên giữa lối sống đó, mà lại chọn một canh bạc không cách nào tính trước được nước.
Lùi thêm nữa. Mâm cơm chiều ba mươi. Bà cô mở miệng câu đầu tiên trong năm. Không hỏi khỏe không. Hỏi tháng này lương lậu bao nhiêu. Anh cười trừ, buông một con số. Con số đó lố gần gấp đôi.
Tới màn lì xì, mấy đứa nhỏ xé bao ngay tại chiếu, so tờ to tờ nhỏ. Rồi có người trong họ nói lớn cho cả mâm nghe, biếu mẹ có nhiêu đó thôi à cháu. Miếng cơm nghẹn ngang cổ anh.
Mẹ anh ngồi kế bên. Bà rót thêm cho anh chén nước. Rồi thôi.
Từ đêm đó anh mang một món nợ. Không phải nợ ngân hàng.
Ông hàng xóm cũng nghèo y vậy, cũng bị đem ra so y vậy, mà ông không bỏ cái quầy tạp hóa chạy theo cơn sốt đất. Ông có cái để bám. Mỗi ngày có người bước vào, gọi đúng tên ông, mua một gói mì. Chừng đó đủ để ông thấy đời mình còn nằm ở đâu đó.
Anh A không có cái đó. Anh cũng không cần đắp tiền cao hơn ai. Anh cần cho cả họ thấy anh nhìn xa hơn họ. Xa hơn cả cái ông ngồi bán mì kia.
Tới đây tôi dừng lại, chưa cho anh xuống tiền vội.
Có một chỗ tôi cần gỡ cho xong trước đã. Cái tin huyện sắp lên quận đó, tại sao nguyên một xóm tin theo, tin tới mức đem cả cơ nghiệp ra đặt cược.
Vụ lư đồng bên xóm Đông, xử xong lâu rồi. Bận đó cũng nguyên một xóm rỉ tai nhau. Ai cũng chắc nịch chính mắt mình thấy một gã lạ mặt lảng vảng quanh nhà mất trộm. Tôi hỏi tới người thứ mười mấy mới ra cái gốc: một bà bán tạp hóa đầu ngõ. Bà thấy thật. Còn lại nghe kể rồi đinh ninh là mình thấy.
Chuyện đó méo, mà vẫn có đáy. Trộm có thật. Người thấy có thật. Chỉ khúc giữa là bịa. Thủ phạm là thằng cháu trong nhà, ra vào cả ngày, chẳng lạ mặt gì sất.
Tôi soi cái tin sắp lên quận bằng đúng cách đó. Ai nói trước, ai nghe lại từ ai, lần ngược cho tới đáy.
Không có đáy nào hết.
Chuyện này tôi đã dò tới cùng hồi còn hành nghề. Cuối chuỗi chỉ có một tấm biển tôn cắm nghiêng ngoài bờ ruộng, chữ bợt gần hết, lõm bõm mấy chữ khu đô thị mới, ký tên một công ty môi giới lạ hoắc. Không con dấu nào. Không có bà bán tạp hóa nào đứng ở đó. Không ai thật sự thấy cái ngày lên quận, vì cái ngày đó chưa từng có.
Một chuyện có đáy. Một chuyện rỗng ruột. Mà lúc đang chạy từ miệng người này sang tai người kia thì hai chuyện giống hệt nhau. Đứng trong xóm mà nghe, cái nào cũng chắc như đinh đóng cột.
Vậy ra cái làm người ta tin không nằm ở chỗ thật hay giả. Vụ lư đồng có thật mà vẫn đẩy cả xóm chạy sai hướng. Vụ lên quận rỗng mà vẫn moi được tiền của cả xóm. Cả hai lan được nhờ cùng một thứ, mà thứ đó không phải sự thật.
Chuyện lư đồng để trống một chỗ: cái gã lạ mặt, không tên, không mặt. Mỗi người tự điền vào đó nỗi sợ của mình. Kẻ điền một tay giang hồ xăm trổ. Người điền một gã nghiện.
Chuyện lên quận cũng để trống đúng một chỗ. Lên quận. Còn khi nào thì bỏ lửng.
Anh A tự điền vào chỗ lửng đó. Điền bằng cái món nợ anh mang về từ mâm cơm chiều ba mươi.
Một câu chuyện muốn lan cho xa, hóa ra không được kể trọn. Nó phải khuyết đúng một khúc, để người nghe lấy lòng mình ra trám vào cho đủ.
Tôi nhớ lại đàn chim chiều nay, cả đàn ngoặt cùng một lúc mà không con nào ra lệnh, mỗi con chỉ nhìn con sát bên mà quẹo theo. Cái tin đồn chạy trong xóm cũng ngoặt kiểu đó, không cần một cái đầu sỏ nào đứng ra hô hào, mỗi người chỉ cần thấy người bên cạnh xuống tiền là đủ để mình cũng nhào vô.
Ba thứ ráp lại vừa khít. Cái thôi thúc thấy người ta nhào vô thì mình cũng phải nhào theo. Cái chỗ trống trong tin đồn, chờ được trám. Cái món nợ sĩ diện sẵn sàng trám vào đó. Đủ cả, không thiếu một mảnh, để dựng lại trọn vẹn một quyết định mà nhìn từ ngoài tưởng chừng điên rồ.
Giờ thì tôi cho anh xuống tiền được rồi.
Tôi cho Anh A phân vân cả mấy tuần, rồi đứng giữa đúng cái hội nhóm mạng anh từng sa vào, người khoe lãi, người giục mua gấp kẻo lỡ, ai cũng như đã hoặc sắp xuống tiền, đứng ngoài chỉ có mình anh là dại. Một năm sau, tôi cho anh ký.
Tôi khựng tay. Một năm. Tôi vừa nói một năm.
Đếm lại. Từ cái Tết đó tới lúc ký, chưa đầy ba tháng. Một tháng nghe tin, hai tháng phân vân. Không có năm nào hết. Tôi xoa trán. Sao lại đếm lố xa vậy.
Ngoài mái tôn, mưa chậm lại một nhịp. Chỉ một nhịp.
Ông hàng xóm cản anh. Anh nghe rồi bỏ ngoài tai, như nghe một cơn gió. Không phải vì anh ngu. Anh tính rành mạch đủ thứ khác trong đời.
Cái chỗ trống trong lòng anh cần được trám. Lời ông không trám vào đó. Nó đâm ngang vào đó. Anh cần một người gật đầu để yên tâm rằng mình nhìn xa hơn thiên hạ. Ông lại lắc đầu, khuyên anh an phận. Đúng cái chữ anh sợ nhất.
Một lời cản, tới tai người đang cần được xúi, thành lời của một kẻ nhát gan.
Giờ tới câu chốt. Đây chỉ là Anh A tôi ráp lại bằng những gì tôi có. Không hơn. Tôi nhắc mình vậy trước khi hỏi.
Trong đầu tôi, Anh A quay lại nhìn thẳng, không né tránh như mọi lần tôi ngồi gặng hỏi anh ngoài đời thật. Tôi hỏi đúng cái dòng bỏ trống bao năm. Anh xuống tiền vì tin đồn, hay vì lý do khác.
Anh đáp. Giọng nghe lạ, không còn giống giọng Anh A tôi vẫn nhớ. Chẳng còn chút gì quê mùa, chậm rãi, rành rọt, như một người đang đọc lại đúng một câu ai đó vừa dặn phải nói. Và cái xưng hô cũng khác. Anh A ngoài đời gặp tôi luôn một điều anh hai điều em, khúm núm như đứng trước cửa quan. Cái giọng này xưng tôi, gọi tôi bằng ông, ngang phè.
Cả hai, ông ạ. Nhưng ông không hỏi đúng cái câu cần hỏi.
Tôi cau mày. Anh A không nói kiểu đó. Anh A chưa từng gọi tôi bằng ông.
Sấm nổ chát trên mái. Gió lùa, cánh cửa khép hờ bật ra, va tường một tiếng cạch. Tôi quay phắt lại. Cửa đung đưa. Không có ai.
Thức khuya thì nghe nhầm là thường. Dựng người ta kỹ quá thì đặt nhầm chữ vào miệng người ta cũng là thường.
Tôi ngồi với câu đó một lúc. Nó không đủ.
Cây bút rơi khỏi tay tôi lúc nào không hay, lăn một vòng trên mặt bàn rồi dừng lại. Dòng chữ vẫn còn bỏ trống. Không đủ can đảm viết tiếp đêm nay.
Cái câu đúng mà anh vừa bảo tôi chưa hỏi tới, là câu gì, tôi cũng chưa dám tự hỏi tiếp.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.