Nhà Hát Niềm Tin

Chương 4: Con Lắc Và Cỗ Máy Gộp

Đăng: 24/07/2026 14:46 2,593 từ 2 lượt đọc


"Giá Có Thể Sai, Hay Giá Chính Là Sự Thật Duy Nhất Có Thể Có?"


Hồ sơ số 4. Tang vật: một ly trà đá. Nhân chứng: Marx, Hayek, Fama. Tình trạng: đang điều tra.



Người ta gặp cái chuyện một đêm hóa giấy lộn đó thì chạy đi đâu. Chạy qua vàng. Ông bà mình xưa giờ vẫn vậy, loạn lạc thì gói vàng chôn dưới gốc cây, đời nào cũng thế.


Nên khi tiếng cãi bàn bên rõ dần lên, tôi ngồi im nghe cho hết. Không phải nghe cho vui.
Hai người ngồi quay lưng lại phía tôi. Một ông đội nón lá bạc màu, tay cầm điếu thuốc rê chưa châm, cái chân rung rung dưới gầm bàn. Ông kia cắm cúi nhìn xuống cái điện thoại cũ, ngón tay cà qua cà lại trên màn hình, không buồn ngẩng lên.


Cái điếu thuốc kia cầm cả buổi mà chưa châm. Ông đội nón đã quyết trong bụng rồi, giờ chỉ đợi ai đó gật đầu giùm một cái cho yên tâm. Còn ông cầm điện thoại thì ngược lại, cà tới cà lui trên màn hình, coi đi coi lại đúng một thứ, kiểu người vẫn chưa tìm ra cái mình muốn tìm.


“Ê, giá vàng bữa nay lại lên nữa mày.” Ông đội nón lên tiếng trước, giọng oang oang không thèm hạ.


“Lên gì nữa, tuần trước rớt cái đùng còn gì.” Ông kia vẫn cắm mặt vào điện thoại.


Ông đội nón gõ gõ điếu thuốc chưa châm xuống mặt bàn. “Thì giờ nó lên lại đó. Tao tính táng thêm hai chỉ, để dành cưới vợ cho thằng cu. Hồi đầu năm tao mua có bốn mươi mấy, giờ nó vầy rồi, đợi nữa chắc hết mua nổi.”


“Mày mua đầu năm.” Ông kia nói, giọng bằng bằng. “Tao mua tháng chín năm ngoái.”


Ông đội nón không đáp. Chuyện đó chắc cả hai đều biết rồi, khỏi cần nói thêm.


Ông cầm điện thoại xoay màn hình về phía bạn, chỉ chỉ ngón tay vào đó. “Mày coi nè. Mấy bữa nay tao ngồi canh cái bảng này hoài, cứ tới gần trưa là có một cục mua vô bự chảng, ngày nào cũng đúng giờ đó, đều như vắt chanh. Tao thấy ngộ ngộ, không biết ai mua, mua chi mà kỳ vậy.”
Ông đội nón liếc qua màn hình đúng một cái, rồi châm điếu thuốc, khói tỏa lên một vòng tròn rồi tan. “Ai mua kệ người ta, miễn nó lên là được. Thằng cu tao cưới tháng chạp, tao không mua bây giờ thì mua hồi nào.”


Cái màn hình vẫn còn chìa ra giữa bàn thêm một lúc nữa. Rồi ông kia rút về, úp xuống.


“Tao thì tao đợi. Cái cục mua đó lát nó ngưng, giá rớt cái đùng cho coi. Tao đợi rớt tao mới vô.”


“Ừ, mày đợi mày. Chiều tao ghé tiệm.”


Hai ông không ai nói thêm câu nào. Ông đội nón rít một hơi thuốc. Ông kia cầm ly trà đá lên uống. Chuyện coi như dừng lại đó, mỗi người một đường, không ai buồn thuyết phục ai thêm.
Tôi ngồi nghe hết mà lòng còn nặng hơn lúc chưa nghe. Tôi tìm một chỗ trú, tưởng vàng là chỗ chắc ăn nhất còn lại. Hóa ra ngay cả hai ông ngồi cách tôi có một cái bàn, cùng nhìn một thứ vàng đó, mà một ông nói lên, một ông nói xuống, chẳng ai chắc hơn ai.


Tôi giật mình nhận ra tay mình đang siết chặt cái ly trà đá của chính mình lúc nào không hay. Càng nghĩ tay càng siết, đá bên trong kêu lộp cộp. Tôi buông ly ra, lau tay vào ống quần.
“Cãi cả buổi, rốt cuộc chẳng ai chịu ai.” Tôi lắc đầu, buột miệng.


“Chịu chi cho mệt chú.” Cậu shipper và một miếng cơm, nói tỉnh bơ. “Hai ổng có cần chịu nhau đâu. Ông này thấy chuyện của ổng, ông kia thấy chuyện của ổng, ai lo phần nấy. Vậy chứ lát nữa ai mua ai bán, cái giá ngoài tiệm vàng nó biết hết à.”


“Nó biết cái gì mới được.” Tôi nhấp một ngụm trà. “Vàng nó nằm dưới đất, phải có người đào lên, có người sàng, có người nấu. Cái đó là công thiệt, mồ hôi thiệt, ai đào cũng tốn chừng đó. Cái giá ngoài tiệm nay lên mai xuống, tôi thấy nó giống cái kim đồng hồ hơn. Kim chỉ trúng thì tốt, chỉ trật thì cũng chỉ là cái kim trật, chứ giờ giấc thiệt ngoài kia có đổi theo nó đâu.”


“Cái gì mà ai cũng biết rồi thì nó nằm sẵn trong giá hết rồi chú.” Cậu gạt miếng cơm cuối vào hộp. “Chú thử nghĩ coi, giả bộ ai cũng biết chắc mai vàng lên, thì bữa nay đâu còn ai chịu bán rẻ nữa, mua vô hết trơn. Vậy là giá bữa nay nó phải nhảy lên liền chứ đợi gì tới mai.”


“Vậy tôi hỏi cậu.” Tôi chỉ ngón tay xuống mặt bàn. “Giả bộ giá vàng vọt lên cao hơn hẳn cái công người ta bỏ ra đào. Chuyện gì xảy ra?”


Cậu nhún vai: “Thì ai có vàng người đó hưởng.”


“Không phải. Chuyện xảy ra là đào vàng đang lời to. Mà lời to thì thiên hạ đổ xô vào nghề, chủ mỏ mở thêm hầm, thuê thêm người, vàng đào lên nhiều hơn, giá tự nó tuột xuống lại.”


“Rồi ngược lại thì hết người đào chớ gì chú.”


“Ừ. Không ai họp bàn ra quyết định gì hết, chỉ có mấy ngàn người thợ mỏ tính khôn riêng cho mình. Rốt cuộc cái giá nó cứ đong đưa quanh cái công thiệt đó, y như quả lắc đồng hồ, đưa qua đưa lại chứ không bay đi đâu được.”


Cậu ngồi thẳng hẳn lên, ngón tay gõ gõ vào nắp hộp cơm. “Nghe cũng có lý ha chú. Mà con thấy có chỗ kỳ kỳ.”


“Kỳ chỗ nào?”


“Chú tính thử coi. Bỏ nghề rồi học nghề khác, mở thêm một cái hầm mỏ, thuê thêm người, cỡ đó phải tính bằng năm chứ ít gì. Còn cái giá vàng hai chú kia vừa cãi thì nó nhảy từng ngày, có bữa nhảy từng giờ. Cái quả lắc của chú nó về tới trục chắc mất mấy mùa, mà giá thì nó giật cái đùng ngay trong buổi sáng. Vậy hồi sáng tới giờ nó đong đưa quanh cái gì?”


Tôi ngồi im, không đáp ngay được. Cậu nói trúng.


“Vậy để tôi kể cậu nghe vụ này.” Tôi đẩy ly trà sang một bên. “Hồi tôi còn làm, có vụ trộm ở một cái xóm nhỏ. Nhà bị mất bộ lư đồng thờ với ít vàng cưới của bà chủ nhà. Tôi xuống, hỏi vòng vòng, ai cũng khai y hệt nhau. Một gã lạ mặt, cao ốm, mặc áo khoác đen, đội nón lưỡi trai, chạy chiếc xe cà tàng, lảng vảng trong xóm mấy bữa trước đó.”


“Vậy là ra rồi còn gì chú.”


“Tôi cũng tưởng vậy. Cả xóm hai chục người, ai cũng chắc nịch, có người còn tả được cái nón lưỡi trai bạc màu chỗ nào. Tôi lần theo cái gã đó gần một tháng, không ra. Sau tôi mới ngồi hỏi lại từng người, hỏi kỹ hơn: chị thấy hắn lúc mấy giờ, đứng chỗ nào, có ai đứng chung với chị lúc đó không. Hỏi tới người thứ mười mấy tôi mới lạnh sống lưng.”


Cậu buông đũa xuống, không ăn nữa. “Sao chú?”


“Cả xóm hai chục người, rốt cuộc chỉ có đúng một bà bán tạp hóa đầu ngõ là thật sự thấy một gã lạ đi ngang. Bà kể lại cho hàng xóm, hàng xóm kể lại cho hàng xóm nữa, kể đi kể lại chừng ba bữa. Tới lúc tôi xuống hỏi thì ai cũng tin chắc là chính mắt mình thấy, tả rõ ràng, thề thốt được luôn. Không ai nói dối tôi hết. Họ tin thiệt.”


“Rồi thủ phạm là ai?”


“Thằng cháu ruột trong nhà, thiếu nợ. Nó ở ngay trong nhà đó, ra vào cả ngày, chẳng ai thấy nó lạ hết.”


Tôi để yên một nhịp cho cậu ngấm, rồi mới quay đầu, hất nhẹ về phía bàn bên.


“Giờ tôi hỏi cậu. Cái cục mua bự chảng trưa nào cũng đúng giờ đó, ông kia thấy thiệt, không phải đồn. Nếu có một tay nào đó đủ to, ngày nào cũng đúng giờ đó mua vô, để cả chợ nhìn cái giá nhích lên rồi mua theo, thì cái giá lúc đó gộp cái gì? Gộp hai chục cái đầu, hay chỉ chép lại đúng một cái đầu, y hệt cả xóm chép lại lời bà bán tạp hóa?”


Cậu mở miệng, rồi ngậm lại. Một lúc mới nói: “Thì… lâu dài thị trường tự sửa mà chú. Ai làm bậy trước sau gì cũng lòi ra, cũng mất tiền.”


“Lâu dài là bao lâu?” Tôi chỉ về phía bàn bên. “Hai ông đó, một ông chiều nay ghé tiệm, một ông ngồi đợi. Tới chiều là biết ai đúng chưa?”


“Chiều thì chưa…”


“Mà giả bộ chiều nay giá lên thiệt đi. Vậy là ông đó mua đúng, hay ổng chỉ hên? Cậu tách được hai cái đó ra không?”


Cậu ngồi thừ ra, không đáp. Một lúc lâu sau mới nói, giọng nhỏ hẳn: “Con học cả học kỳ, thầy giảng nghe hay lắm chú, con thấy cái nào cũng có lý hết. Mà giờ chú hỏi vậy con mới thấy, hình như mấy cái con học nó chỉ giải thích được sau khi chuyện xảy ra rồi thôi. Chuyện xong rồi thì cái nào cũng giải thích được hết. Còn đứng trước, chẳng cái nào nói giùm con được câu nào.”


Cậu nhìn xuống cái hộp cơm đã hết sạch, gấp nắp lại. Mắt cậu liếc ra phía chiếc xe đậu trước quán, cái thùng hàng vuông vẫn còn nguyên đó, rồi liếc xuống cái điện thoại màn hình nứt úp sấp bên cạnh hộp cơm. Cậu không nói gì thêm.


Tôi ngồi lại chỗ cũ, im lặng.


Đáng lẽ tôi phải thấy nhẹ, vì cãi cũng coi như tôi không thua. Mà trong bụng lại nặng hơn hồi nãy.


Tôi nhìn xuống ly trà đá của mình. Mấy cục đá tan dần, chỗ nào đã thành nước, chỗ nào còn là đá, không ai chỉ ra được cái lằn ranh. Cái giá ngoài kia chắc cũng tan theo đúng kiểu đó. Chỗ nào nó còn dò theo cái thật, chỗ nào nó đã bắt đầu tự đẻ ra cái thật, cũng không có lằn ranh nào mà chỉ. Hay có khi nó làm cả hai việc cùng một lúc, mỗi giây một chút.


Suốt nãy giờ tôi vẫn tin có một cái cân. Cân thường thôi, kiểu ngoài chợ, đặt hòn đá lên đĩa, kim chỉ đúng con số hòn đá vốn đã nặng chừng đó. Cân hay không cân, hòn đá vẫn nặng như vậy. Còn theo đúng lối cậu kia nói, thì cái cân phải là một thứ quái gở khác hẳn: chưa cân thì hòn đá chưa có trọng lượng nào hết, cân xong con số hiện ra bao nhiêu thì đó là tất cả, trước đó trống trơn.


Tôi từng cầm cái cân quái gở đó trong tay rồi, ngay tại cái bàn này, mới hồi nãy thôi. Lúc đó tôi chấm thử một chút mật ong lên đầu lưỡi, và cái ngọt chỉ sinh ra đúng lúc đầu lưỡi chạm vào, không sớm hơn một tích tắc nào. Hồi đó chỉ có một cái lưỡi, của tôi, hỏi một câu nhỏ xíu, ngọt là thiệt hay chỉ có khi được nếm. Giờ là mấy triệu cái lưỡi cùng nếm một lượt, gộp lại thành đúng một con số treo trên bảng giá tiệm vàng. Mà không cái lưỡi nào biết được nó đang nếm ra một vị thiệt, hay chỉ đang nếm lẫn nhau, nếm cái vị mà cái lưỡi bên cạnh vừa bảo là ngọt.


Muốn nói cái giá ngoài kia sai, tôi phải có sẵn trong tay một cái giá đúng để đem ra so. Mà cái giá đúng đó ở đâu ra. Cũng do tôi tự đặt lấy, tự vẽ ra từ cái tôi cho là hợp lý. Rốt cuộc tôi lấy đúng cây thước của mình đi đo xem cây thước ngoài kia có cong hay không, mà cây thước trong tay tôi thì chưa ai từng đo giùm tôi lấy một lần.


Ba mươi năm cầm hồ sơ, tôi vẫn ngồi phán ai có tội, ai vô tội, luôn đinh ninh mình đứng ngoài, khách quan, không nghiêng bên nào. Cái xóm đó hai chục người cùng tin một chuyện không có thiệt, mà chính tôi lần theo cái gã áo đen đó cả tháng trời. Tôi cũng ở trong đám đó chứ có đứng ngoài đâu. Cái khung tôi vẫn mang sẵn trong đầu để phán, chính nó, chưa từng một lần bị đem ra tra hỏi.


Tay tôi lại thò vào túi áo trong, chạm phải cuốn sổ tiết kiệm. Một con số nằm im trong đó, tôi vẫn quen gọi là của để dành, phòng thân lúc về già.


Ba mươi năm cầm hồ sơ, quy ra đúng con số đó. Tôi ngồi tính thử xem nó đáng bao nhiêu, tính hoài không ra được cái đáy nào. Con số đó cũng chỉ là kết quả gộp của hàng triệu phán đoán về chuyện tôi còn sống được bao lâu, đồng tiền còn mất giá cỡ nào, thiên hạ có còn cần cái nghề vá manh mối của tôi hay không, y hệt cách cái giá ngoài tiệm vàng gộp từ phán đoán của mấy ngàn người tôi chưa từng gặp mặt.


Ngực tôi thắt lại. Không phải giá vàng ngoài kia đáng ngờ nữa. Chính con số tôi định sống nhờ vào nốt quãng đời còn lại cũng đang treo lơ lửng y như vậy, không chắc hơn nó lấy một milimet nào.


Tôi ngoái nhìn sang bàn bên. Ông đội nón lá đang dụi điếu thuốc, tính chuyện chiều ghé tiệm, tin vào đúng cái ông biết chắc: thằng con ông cưới vợ tháng chạp, chuyện đó thật, sờ được, không ai cãi. Ông kia vẫn lật cái điện thoại lên coi, coi lại đúng cái bảng giá lúc nãy đã chìa ra giữa bàn mà không ai thèm ngó.


Hai ông đó cãi nhau cả buổi mà chẳng ai nghe ai lấy một câu.


Còn tôi với cậu ngồi bàn này thì nghe nhau kỹ lắm. Nghe từng chữ, vặn từng câu, tôi hỏi cậu đáp, cậu hỏi tôi đáp, cãi tới nơi tới chốn. Cậu dốc từng cuốc xe vào một người, tin rằng đầu bên kia sẽ còn cần tới mình. Tôi dốc ba mươi năm vào một con số trong cuốn sổ, tin rằng cái hệ thống đứng sau nó sẽ còn đứng đó chờ tôi. Chẳng ai trong hai người có gì bảo đảm, ngoài đúng cái lòng tin rằng bên kia sẽ không đổi ý.


Nghe kỹ như vậy, mà rốt cuộc cũng chẳng ai đỡ được ai một chút nào.


Tôi lớn hơn cậu ba mươi mấy tuổi, và không đứng cao hơn được lấy một tấc.

0