Chương 5: Đất Không Còn Tên
"Con Người Mưu Cầu Cái Cần Dùng, Hay Mưu Cầu Chính Đồng Tiền?"
Hồ sơ số 5. Tang vật: một tờ giấy bạc, một mảnh đất bỏ hoang. Nhân chứng: Marx, Menger, Hayek. Tình trạng: đang điều tra.
Chân tôi đã đứng giữa bãi đất này trước khi cái đầu kịp hỏi tại sao. Một bãi đất tôi từng đinh ninh đời mình sẽ không bao giờ quay lại.
Nắng chiều hắt xuống mặt đường nhựa mới tráng, chói tới mức phải nheo mắt. Hơi nóng bốc từ mặt đường phả thẳng vào ống chân, rin rít khó chịu.
Mười mấy năm trước, đúng khúc này còn một vũng bùn ngập tới mắt cá. Chân tôi vẫn nhớ nguyên phản xạ đó, tự nhấc cao, sải một bước dài để né.
Không có gì để né cả. Gan bàn chân hẫng hụt như vừa lọt vào một quãng không tự mình bịa ra, cảm giác đó xộc lên tới đầu gối. Người tôi chao hẳn một bên, hai tay quờ quạng tìm chỗ bám, cuối cùng chụp trúng một cái cọc gỗ cắm ven đường mới đứng lại được. Gỗ dưới tay ram ráp và hơi ẩm, mùi mục lẫn trong mùi đất nung dưới nắng, xộc thẳng vào mũi.
Đứng yên rồi, tôi ngó dọc ngó ngang một lượt. Không một bóng người, không cả một tiếng xe máy xa xa vọng lại, chỉ tiếng ve rời rạc đâu đó, nghe càng lúc càng trơ trọi giữa cái vắng lặng này. Mắt tôi lia sang một tấm biển cắm gần cọc, sơn còn mới.
Không phải chữ Huyện Hoài Đức tôi nhớ suốt bao năm. Chữ Xã Hoài Đức.
Ngực tôi nhói lên một cái, hơi thở hụt mất nửa nhịp.
Tôi đứng đọc lại tấm biển một lần nữa, chậm hơn, như đọc một cái tên viết sai trong bản khai. Chữ vẫn vậy. Sơn còn mới thật, mới tới mức viền chữ chưa kịp bám bụi đường.
Đâu đó tôi có nghe loáng thoáng chuyện sáp nhập, gộp xã gộp phường, bỏ hẳn cái tầng ở giữa. Hồi đó tôi chẳng buồn để tâm, tưởng chuyện chẳng dính dáng gì tới đời một thằng về hưu non chỉ biết ngồi quán trà đá.
Ba mươi năm tôi ghi cái tên đó lên đầu không biết bao nhiêu tờ biên bản. Huyện Hoài Đức. Ghi tới mức tay tự chạy, khỏi cần nghĩ. Giờ cái tầng đó không còn nữa, mà đất thì vẫn nằm y đây, cỏ vẫn mọc y vậy, không thiếu một tấc nào.
Cái nhói đó không chịu tan theo câu tự trấn an. Nó cứ nằm lì đó, không rõ hình dạng, không rõ vì sao.
Tiện đường, tôi tự nhủ. Cứ theo lối này mà về thì tắt hơn hẳn.
Tôi chững lại. Lối này vòng qua đúng ba cái ngã tư, xa hơn cả cây số so với đường tôi vẫn đi mọi khi. Chẳng tắt tí nào.
Chắc già rồi, tôi tặc lưỡi, nhớ nhầm đường là chuyện thường.
Cỏ dại quanh chân bốc lên mùi hăng hắc, lẫn trong mùi đất nung. Tôi ngồi thụp xuống bên cọc gỗ, tay chống đất cho đỡ mỏi gối.
Có một cái tên nổi lên trong đầu, chưa kịp mời đã tới. Anh A. Cái tên khiến tôi về hưu non.
Anh xấp xỉ tuổi tôi, có khi còn nhỏ hơn đôi chút, hồi đó cùng đang vào cỡ tuổi làm ăn hùng hục nhất đời người. Buổi anh tìm tới, tôi còn thuê một căn gác nhỏ ngay đầu chợ làm chỗ tiếp khách, quạt trần kêu cọt kẹt một nhịp đều trên đầu, mấy tập hồ sơ cũ chất nghiêng trên nóc tủ sắt.
Anh A đứng ở cửa một lúc, tay ôm khư khư một cái cặp da đã tróc, chưa bước hẳn vào.
“Anh… anh cho em hỏi cái này được không.”
Tôi gật, đẩy ghế mời anh ngồi. Anh ngồi xuống mép ghế, mở cặp, lấy ra một xấp giấy tờ đã kẹp sẵn từng tệp bằng ghim giấy, mỗi tệp một cái mẩu giấy nhỏ dán mép ghi chữ gì đó. Anh đặt lên bàn nhưng tay chưa rời hẳn, ngón cái vẫn đè lên góc trên cùng.
“Cái vụ đất em mua đó anh…” Anh dừng, mắt nhìn xuống xấp giấy chứ không nhìn tôi. “Anh thấy vậy có… có bình thường không?”
“Bình thường là bình thường cỡ nào? Chú nói rõ hơn coi.”
“Dạ ý em là…” Anh siết nhẹ mép giấy. “Có ai đó biết trước không anh? Kiểu như biết giá sắp rớt mà vẫn bán cho em?”
Tôi cầm bút lên, chưa hạ xuống giấy. “Chú em nghi ai cụ thể?”
Anh không đáp ngay câu đó. Anh xoay xấp giấy trên bàn nửa vòng, đẩy sang phía tôi, cho tôi coi cái tên đóng dấu ở góc dưới, thay vì gọi thẳng tên đó ra miệng.
Tôi liếc, ghi vào sổ. “Chú em biết cô ta bán cho chú ngày nào không?”
“Dạ, ngày hai mươi tháng ba.” Anh đáp ngay, không cần lật giấy, không cần nhớ lại. “Sáng thứ năm, mười giờ hơn, ra công chứng ở phòng ngoài thị trấn. Bữa đó trời mưa.”
“Giá rớt ngày nào?”
“Dạ…” Anh ngừng, mắt đảo lên trần một nhịp. “Cỡ một tháng sau. Chắc vậy.”
Tôi ghi xong, ngẩng lên. “Chú em muốn tôi tìm cái gì?”
“Em muốn biết bả có biết trước không.” Anh nhoài người tới trước, hai khuỷu tay chống hẳn lên bàn. “Anh nghĩ coi, đời nào có chuyện trùng hợp cỡ đó. Bả ôm miếng đất đó cả năm trời, tự nhiên tháng ba bả kiếm được người mua, mà tháng tư giá rớt cái đùng. Bả phải nghe được cái gì đó chứ anh.”
“Nghe được từ đâu?”
“Thì…” Anh khựng một nhịp. “Thì bả quen biết rộng. Bả buôn đất mấy năm rồi, quen đủ hạng người. Chớ em thì em biết ai đâu.”
Tôi để yên câu đó một lúc, không ghi.
“Anh.” Anh hạ giọng xuống. “Anh nhận vụ này giùm em đi. Tiền công anh cứ tính, em không kỳ kèo đồng nào. Mà nếu anh tìm ra được… anh tìm ra là em hậu tạ riêng, đàng hoàng.”
“Tôi ăn tiền công theo bữa, không ăn theo kết quả.”
“Vậy em trả gấp đôi theo bữa.” Anh nói liền, như đã tính sẵn cả câu này trong đầu từ trước khi bước vào. “Anh cần bao lâu? Một tháng đủ không anh? Hai tháng?”
“Chưa coi hồ sơ thì tôi không hứa được thời hạn nào hết.”
“Nhưng anh làm được chớ?” Anh nhìn thẳng vào tôi lần đầu tiên từ lúc ngồi xuống. “Em hỏi rồi, người ta nói anh làm nghề này hai chục năm rồi. Cỡ này với anh chắc không khó lắm đâu ha anh?”
Tôi đặt bút xuống. “Chú em nghe tôi nói cái này. Tôi đi coi, tôi ghi lại đúng cái tôi thấy. Tôi không hứa trước là sẽ thấy cái chú muốn.”
Anh im. Mấy ngón tay anh vẫn đặt trên xấp giấy, gõ nhẹ hai cái rồi thôi.
“Em biết em ngu.” Anh nói, giọng thấp hẳn xuống. “Ai đời đi tin cái tin đồn ngoài quán nước. Ông hàng xóm em ổng cản em rồi, em không nghe.”
Anh dừng, ngước lên chờ.
Tôi không nói gì. Từ ngày vào nghề tôi vẫn giữ đúng cái luật đó, khách thuê tôi coi cái gì thì tôi coi đúng cái đó, không kèm một lời khuyên nào, cũng không kèm một lời an ủi nào.
Anh chờ thêm một nhịp nữa, rồi tự lấp vào chỗ trống đó bằng chính giọng mình, lần này cao hơn hẳn.
“Mà em ngu thì em chịu. Em không đổ cho ai hết. Em chỉ hỏi có mỗi một chuyện, bả có biết trước hay không thôi. Bả biết mà bả giấu thì đó là chuyện của bả, đúng không anh? Cái đó khác chớ.”
“Khác.”
“Đó!” Anh vỗ nhẹ lên xấp giấy. “Em có đòi bồi thường đồng nào đâu. Em chỉ muốn biết cho rõ. Giá mà hồi đó bả nói thiệt một câu thôi, em đâu có ra nông nỗi này.”
Anh ngồi lặng một lúc.
“Anh biết má em làm gì không?”
Tôi không đáp. Câu đó anh cũng không hỏi để tôi đáp.
“Má em bán rau. Bả dậy từ ba giờ sáng, gánh ra chợ Sơn Đồng, xa hơn mấy cái chợ gần nhà cả mấy cây số. Em có hỏi bả sao không bán chợ gần, bả nói chợ gần người ta ép giá, chợ đó xa mà đồng nào ra đồng nấy, không ăn gian của ai.”
Anh nói tới đó thì dừng, tay xoay xoay cái ghim giấy trên mép tệp hồ sơ.
“Cái đòn gánh tre bả xài mấy chục năm, một đầu mòn bóng, lõm hẳn xuống đúng chỗ tì vai. Em kêu bả bỏ đi mua cái mới, bả không chịu, nói cái mới nó cấn.”
“Bả biết chuyện này chưa?”
“Chưa.” Anh đáp gọn. “Mà chắc không bao giờ biết.”
Anh ngước lên, mắt hơi đỏ, nhưng giọng thì rắn lại.
“Nên anh hiểu vì sao em phải biết cho ra chuyện này chớ anh. Em thua thì em chịu. Nhưng nếu có người biết mà giấu em, thì em phải biết là có, chớ không thể để nó trôi vậy được.”
Anh ngồi thêm một lúc nữa, rồi hạ giọng, gần như nói cho mình nghe.
“Giá mà em nghe ông hàng xóm.”
Câu đó anh nói nhỏ hơn hẳn mọi câu trước, và không chờ tôi đáp nữa.
Tôi cụp mắt xuống sổ, ghi nốt cái tên với hai cái mốc ngày tháng, rồi gấp sổ lại.
Đứng giữa bãi đất bây giờ, tôi lật lại đúng buổi đó bằng con mắt vừa già thêm mười mấy năm. Hồi ấy tôi cắm cúi ghi, coi như một vụ nghi án bình thường, cần dữ kiện, cần thời điểm, đúng bài. Có một chuyện nhỏ tôi bỏ qua: cái ngày hai mươi tháng ba anh nhớ tới cả giờ giấc, cả chuyện bữa đó trời mưa, mà cái ngày giá rớt, ngày đáng ra phải đau hơn, anh lại áng chừng, chắc vậy.
Người ta nhớ kỹ cái mốc mình định dùng để buộc tội ai đó, còn cái mốc mình mất trắng thì nhớ mờ mờ. Tôi cầm bút hồi đó, tưởng đang chép một lời khai.
Tôi đứng dậy, phủi quần, bước tiếp dọc mấy lô đất kế bên. Cỏ dại mọc cao quá đầu gối, ngả rạp một phía theo chiều gió, phần còn xanh, phần héo úa vì cháy nắng.
Đất tăng giá tới cỡ đó, tôi buột nghĩ, chắc hồi đó phải có ai đổ tiền vào san lấp, làm hạ tầng gì đó, chớ không thì lấy đâu ra.
Tôi dừng trước một cọc mốc, gỗ mục quá nửa. Sờ thử, nó mủn dưới tay, để lại lớp bụi gỗ mịn bám đầu ngón. Mùi ẩm mốc xộc lên rõ hơn lúc nãy. Quanh đó không một viên gạch, không một nhát cuốc cắm xuống.
Chưa ai động tay gì ở đây hết. Tôi đứng nhìn thêm một lúc rồi cũng đành chịu, gạt cái ý vừa nghĩ đi cho nhẹ.
Tôi định rụt tay lại, coi như xong. Nhưng ngón tay tôi, đúng lúc rút ra, cấn phải một cạnh cứng hơn hẳn lớp gỗ mục, giấu ngay dưới lớp mùn ải. Tôi bới lớp gỗ mủn sang một bên. Một mẩu bê tông cũ lộ ra, một góc còn dính vụn sắt gỉ, cắm sâu dưới cọc gỗ giả, như một cột mốc thật bị người ta phủ gỗ mục lên che mắt.
Tay tôi cứng lại, chưa rút hẳn ra được.
Tôi ngồi thụp xuống, đem hai cây thước tôi vẫn dùng đo mọi thứ ra đo lại miếng đất này. Một cây đo công đổ vào. Một cây đo cái người ta còn cần tới.
Cây thước công đổ vào chỉ ra gần bằng không. Chẳng ai cuốc, ai tưới, ai dựng lên đây một viên gạch nào suốt bấy nhiêu năm. Cây thước tôi vẫn tin cứng cựa nhất, lần đầu tiên báo trớt quớt trước mắt tôi.
Ngón tay vẫn cấn trên mẩu bê tông, tôi ngẫm cho ra lẽ. Cây thước không sai. Nó chỉ đo thiếu một khoản, khoản không nằm trong công cán, mà nằm trong cái quyền giữ riêng miếng đất này cho một người. Người đó chỉ việc giữ khư khư rồi ngồi chờ, không cần động móng tay, đợi tới lúc kẻ khác cần chỗ này mà nộp lại một phần công sức của họ để đổi lấy quyền bước chân vào. Bốn năm chục triệu một mét vuông hồi đó chưa từng là tiền công cho ai cày cấy. Nó là cái khoản chờ đó, gộp hết lại, tính trước thành một con số ngay bây giờ.
Đúng ra tôi phải nhẹ hẳn người, vì lại có cớ đi tiếp, hồ sơ chưa phải khép non nửa chừng. Nhưng cái nhẹ đó chưa kịp giữ lâu, một gợn gì nhỏ, hơi vướng, lướt qua rồi tắt ngay, như con muỗi vừa đậu đã bay, tôi chưa kịp phủi đã hết ngứa.
Vậy cái khoản chờ đó có cơ sở thật hay không.
Chắc phải có cơ sở gì thật, tôi tự nhủ, chớ tin đồn không tự dưng mọc từ đất lên được.
Một cơn gió lùa qua, đủ mạnh lay mấy ngọn cỏ dại quanh chân và khiến tà áo tôi phất nhẹ. Mắt tôi bắt gặp một tấm biển tôn cắm nghiêng hẳn một góc gần bờ ruộng. Chữ trên biển bợt gần hết, chỉ còn lõm bõm mấy chữ khu đô thị mới. Bên dưới là hình phối cảnh nhà cửa cây xanh vẽ tay, màu bạc thành một thứ xám xịt. Gió lay tấm biển, một góc tôn long ra, kêu lạch cạch khe khẽ.
Vậy là có dự án thật, tôi bám ngay lấy chỗ đó. Có biển tức là có người vẽ ra, có người duyệt, có con dấu ở đâu đó.
Tôi lội quanh tấm biển một vòng, vạch cỏ tìm cái móng, tìm một mảng bê tông san lấp, tìm cả cái cột điện hạ thế người ta hay kéo vào trước tiên. Không có gì hết. Rồi tôi nhớ ra hồi làm vụ này tôi đã lên phòng quản lý đô thị hỏi, và người ta lật sổ cho tôi coi, không có số quyết định nào ứng với miếng này.
Tôi biết chuyện đó từ mười mấy năm trước rồi. Nãy giờ tôi vẫn đứng đây lội cỏ đi tìm.
Cái vụ trộm lư đồng tôi vừa lôi ra kể cho cậu shipper hồi trưa chợt vọng lại. Cả xóm hai chục người, ai cũng chắc nịch chính mắt mình thấy một gã lạ mặt lảng vảng. Tôi hỏi kỹ tới người thứ mười mấy mới lần ra cái gốc, một bà bán tạp hóa đầu ngõ, người duy nhất thật sự thấy, còn lại toàn nghe kể lại rồi đinh ninh là mình chứng kiến.
Tôi thử vặn ngược đúng bài đó vào tấm biển này. Ai tung ra cái tin sắp lên quận trước nhất, ai nghe ai kể lại, cứ vậy dò cho ra một cái gốc. Tôi lẩm bẩm đếm ngược từng nấc, ngón tay bấm đốt như đang vặn một nhân chứng vô hình đứng ngay trước mặt.
Nấc nào cũng hụt. Không có cái đáy nào để mà chạm.
Vụ lư đồng, cuối chuỗi vẫn có một sự thật nằm đó, chỉ lệch chỗ, đủ kiên nhẫn là lần ra. Còn cái này thì không có gốc gì hết, tôi kết luận. Không khí truyền tay không khí.
Kết luận đó gọn tới mức tôi thở ra được một hơi. Tôi đứng thẳng lưng lên, phủi tay, thấy trong bụng nhẹ hẳn như vừa đóng xong một tập hồ sơ dày.
Cái nhẹ đó kéo được chừng vài nhịp thở.
Rồi cái gợn lúc nãy quay lại, lần này ở lại lâu hơn, đủ để tôi phải nuốt xuống một cái, cổ khô khốc. Ba mươi năm cầm hồ sơ, cứ hễ tôi khép một vụ mà thấy nhẹ nhõm quá nhanh thì y như rằng tôi đã bỏ sót cái gì.
Không có gốc thì không có ai để mà bắt. Câu đó vừa nảy ra trong đầu đã kéo theo một buổi khác, buổi tôi từng ngồi đối diện đúng một người tôi đã tin chắc là cái gốc.
Quán nước đầu xóm hôm đó nóng, cái quạt treo tường quay tới quay lui mà không ăn thua gì. Bà hẹn tôi ra đây, chớ không cho tới nhà. Bà ngồi bên kia cái bàn nhựa, hai tay đan chặt vào nhau tới trắng bệch đầu ngón, cái ghế kê sát lối ra.
“Chị mua miếng đó của bà B ngày nào?”
“Dạ tôi không nhớ rõ ngày, chú cho tôi coi lại giấy.” Bà lật xấp giấy tờ, tay run, lật hụt mấy lần mới ra đúng tờ. “Đây nè chú. Tháng bảy năm kia.”
“Bán lại cho anh A tháng ba năm ngoái. Giữ gần một năm rưỡi.”
“Dạ.”
“Sao tự nhiên tháng ba chị bán?”
“Tại có người hỏi mua thì tôi bán chớ chú.” Bà ngẩng lên. “Trước đó cũng có người hỏi mà trả thấp quá tôi không bán. Cậu A trả được giá thì tôi bán.”
“Trước khi bán, chị có nghe ai nói gì về chuyện quy hoạch không? Bất cứ ai.”
“Nghe hoài chú ơi.” Bà nói nhanh, gần như mừng rỡ vì cuối cùng cũng có câu trả lời được. “Ngoài chợ người ta đồn suốt. Bữa nói sắp lên, bữa nói dời qua bên kia sông, bữa nói dẹp luôn. Ai nói gì tôi cũng nghe hết trơn.”
“Vậy chị tin cái nào?”
Bà ngồi im một lúc.
“Tôi tin cái sắp lên.” Giọng bà bắt đầu đứt quãng. “Tin nên tôi mới mua chớ chú. Tôi mua một trăm năm, tôi bán hai trăm năm, chú tính coi tôi lời được nhiêu. Chú tưởng tôi lời nhiều lắm hả? Tôi vay ngân hàng gần hết, tôi trả lãi một năm rưỡi trời.”
“Nếu chị tin sắp lên, sao chị bán?”
“Tại con tôi bệnh.” Bà nói, rồi bụm miệng lại.
Hai bàn kế bên liếc qua. Rồi cúi xuống ly nước của mình.
Tôi ngồi im. Cái quạt vẫn quay tới quay lui.
“Chú ơi.” Bà nói qua kẽ tay. “Nếu tôi biết trước nó rớt, tôi bán từ năm kia rồi. Tôi ôm chi cho tốn lãi. Chú nghĩ coi có ai biết trước mà còn trả lãi một năm rưỡi không chú.”
Bà chủ quán từ trong quầy bưng ra một ly nước, đặt xuống trước mặt bà, rồi đi vô, không nói tiếng nào. Bà không cầm.
Tôi ngồi lại, lật sổ, và không hỏi thêm câu nào nữa. Không phải vì tôi tin bà. Vì tôi vừa nhận ra mình đã hết câu để hỏi.
Đứng giữa bãi đất bây giờ, tôi mới thấy hết cái buổi hôm đó. Bà cũng mua vì tin. Bà cũng vay. Bà cũng trả lãi. Bà chỉ khác Anh A ở đúng một chỗ, là có người bệnh trong nhà buộc bà phải rút chân ra sớm hơn một nhịp.
Cái khác đó không phải tài. Cũng chẳng phải mưu.
Tôi ngó dọc mấy đường ranh giới quanh đó. Mỗi lô một kiểu cọc. Chỗ cọc gỗ mục như cái tôi vừa sờ, chỗ cọc bê tông còn mới, có đoạn chỉ giăng tạm một sợi dây thép đã gỉ. Gió lùa qua, kêu lên tiếng rít mỏng.
Chân tôi tự bước từ cọc này sang cọc kia, tay đưa ngang tầm mắt ước lượng khoảng cách, đúng phản xạ nghề cũ mỗi lần cần đo ranh giới một hiện trường.
Tôi sững lại khi nhận ra tay chân mình vừa làm đúng động tác này, ở đúng khoảnh đất này, không phải lần đầu.
Lần trước, tôi đứng đo ngay đây, và Anh A đứng cách tôi chừng chục bước, hai tay đút túi quần.
“Anh đo chi vậy anh?”
“Coi người ta có giao thiếu đất cho chú không.”
Anh đứng nhìn tôi đo thêm một lúc.
“Thiếu thì sao anh?”
“Thiếu thì có cái mà nói chuyện.”
“Còn đủ?”
Tôi không đáp. Tôi đo tới cái cọc cuối, ghi con số vào sổ, rồi gấp sổ lại. Đủ. Không thiếu một mét nào.
Anh không hỏi gì thêm. Anh đứng đó, nhìn ra khoảnh đất của mình một lúc lâu, rồi quay đi trước tôi.
Bao nhiêu kiểu cọc ken giữa cùng một khoảnh đất, tôi tự hỏi, ai đứng ra dựng hết chỗ này.
Cái này thì tôi không mất công đoán nữa. Cọc bê tông với cọc gỗ mục cách nhau cả chục năm tuổi, nhìn là biết. Đất này qua tay không biết bao nhiêu chủ, mua đi bán lại suốt hơn chục năm, mỗi người tới cắm cái cọc của mình.
Câu cậu shipper nói với tôi hồi trưa còn nguyên trong tai, cái gì ai cũng biết rồi thì nó nằm sẵn trong giá hết rồi. Lúc đó cậu nói về một buổi sáng, cả chợ nhìn một cái giá nhích lên rồi mua theo trong vài giờ đồng hồ. Mấy kiểu cọc trước mắt tôi là đúng chuyện đó, chỉ kéo ra không phải một buổi sáng, mà qua nhiều đời chủ, nhiều năm liền. Không ai gỡ cọc cũ lên coi lại cái gốc. Ai tới sau chỉ cắm thêm cọc của mình chồng lên trên.
Lần này cơn khó ở không chịu tan như hai lần trước, mà đặc quánh lại thành một cái nghẹn ứ. Nó nằm lì trong ngực, tôi nuốt mãi không trôi, đành để nguyên đó, không dám nhìn thẳng vào nó là gì.
Tôi cúi nhìn hai bàn tay mình, tay cầm hồ sơ cả đời. Ba mươi năm nay tôi cũng làm y hệt vậy, vụ sau chồng lên kết luận vụ trước, chưa một lần quay lại đào tận gốc cái hồ sơ đầu tiên coi nó còn đứng được hay không.
Con số ba mươi năm đó tự nhiên nghe khang khác. Tôi thoáng băn khoăn không biết đúng ba mươi hay hơn kém một hai năm, cái con số đó tôi có từng ngồi đếm ra thật, hay chỉ buột miệng riết rồi thành quen.
Nghĩ tới đó tôi gạt liền. Chưa phải lúc.
Ba con đường, người giữ giá thấp nhất, người sang tay giá nhỉnh hơn, người ôm giá cao nhất trong cả ba, hóa ra cùng chỉ về một chỗ. Không ai sai. Cũng không ai đủ sức gánh trọn một mình.
Mới hồi trưa nay tôi còn ngồi cãi tới nơi tới chốn với cậu trai đó về cái giá đúng cái giá sai, cãi cả buổi, rốt cuộc chẳng ai đỡ được ai. Đứng đây một mình, mặt trời đã xuống tới ngọn cỏ, tôi mới hay cái bế tắc đó không cần có người ngồi đối diện mới sinh ra được.
Tay tôi không đợi đầu sai bảo, tự thọc vào túi áo trong. Đầu ngón chạm phải một góc bìa cứng, quen tay tới mức khỏi cần nhìn. Tôi lách ngón qua nó, moi xuống dưới, lôi ra đúng tờ giấy bạc đã cầm lên đặt xuống không biết bao nhiêu lần từ trưa tới giờ, từ hồi ngồi đếm chỗ bạc lẻ thối lại ở quán. Tôi xoay tờ giấy trong tay, ngắm hình in mặt trước mặt sau.
Lần này khác. Tờ giấy nằm gọn trong lòng bàn tay, giữa một bãi đất hoang không một bóng người, không một dấu cuốc. Nắng lúc này ngả hẳn sang màu đỏ quạch, chỉ còn một vệt cuối cùng vắt ngang ngọn cỏ, sắp tắt.
Tờ giấy bỗng nặng trịch, quá sức một mảnh giấy mỏng dính vốn dĩ đáng ra phải mang. Tay tôi ghì chặt lại, không phải vì sợ rơi, mà như đang giữ một thứ sắp biến mất khỏi tay bất cứ lúc nào.
Sau bữa đó có lần tôi xuống nhà anh dò la thêm. Má anh đi chợ chưa về, cái đòn gánh dựng ở góc bếp, tre lên nước bóng loáng.
“Anh thử đặt lên vai coi.” Anh A biểu.
Tôi đặt thử. Cái vết lõm đó ăn khớp y như đã đo ni cho đúng một người, cấn thẳng vào chỗ xương vai nhô lên, đau nhói ngay khi vừa đặt lên, chưa gánh gì hết.
Tôi nhấc xuống liền, dựng lại vào góc, không nói gì. Anh A cũng không nói gì.
Cùng một dòng máu, hai đường đi ngược hẳn nhau. Một người khép được vòng mỗi ngày, nên vai mòn dần theo năm tháng, mòn thấy được, sờ được. Một người bỏ hai trăm năm mươi triệu ra rồi treo lơ lửng giữa chừng, tiền đã hóa thành đất mà đất chưa bao giờ chịu hóa lại thành tiền, không có cái vai nào để mà mòn.
Từ bao giờ. Từ bao giờ người ta thôi mưu cầu cái ăn cái mặc, quay sang mưu cầu chính tờ giấy này, mưu cầu làm sao cho nó nở ra thành nhiều tờ giấy hơn.
Mới hồi trưa nay, ngồi ngay cái ghế nhựa đó, tôi còn dám nghi ngờ tờ giấy bạc này có thật hay không. Giờ đứng đây, tay vẫn ghì chặt lấy nó, tôi chỉ dám hỏi một câu nhỏ hơn hẳn. Cái thứ tôi vẫn đem đổi lấy cơm áo suốt bằng ấy năm, rốt cuộc mỏng đến cỡ nào.
Đúng lúc đó một cơn gió ào tới, cuốn thẳng qua bãi đất rồi lùa cả lớp bụi đất khô tung mù, khiến mùi đất nồng hẳn lên trong mũi. Gió len qua kẽ tay, giật phăng tờ giấy bạc khỏi mấy đầu ngón đang ghì chặt nhất. Tờ giấy tung lên một nhịp, xoay tròn giữa không trung, phát ra tiếng phần phật khô khốc, rồi rơi xuống đất, lăn thêm mấy vòng theo đà gió mới chịu nằm yên.
Tay tôi bật lên, vỗ vào ngực áo một cái. Góc bìa cứng vẫn nằm nguyên đó.
Tôi đứng nhìn tờ giấy nằm dưới đất, không nhấc chân đuổi theo.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.