Nhà Hát Niềm Tin

Chương 7: Hai Mảnh Đất, Hai Con Đường

Đăng: 26/07/2026 10:35 2,998 từ 3 lượt đọc

"Cùng Một Túi Tiền Bỏ Ra, Nhưng Một Câu Hỏi Khác Đã Dẫn Tới Hai Nơi Khác Hẳn"

Hồ sơ số 7. Tang vật: một nhánh cây khô, sổ đỏ ba chủ đất. Nhân chứng: Marx, Menger. Tình trạng: đang điều tra.

Cái quầy tạp hóa đó hiện lên rõ mồn một như mới hôm qua. Đèn dây tóc treo giữa quán, ánh vàng vọt, khác hẳn thứ đèn trắng lạnh mấy quán mới xây quanh đó hay dùng. Giờ chắc quán đã đổi chủ, hay đã dẹp mất tự bao giờ, tôi cũng không rõ.

Mười mấy năm trước, sau khi nghe cả xóm rỉ tai chuyện ông chủ quán không hề động tĩnh gì trước cơn sốt đất, tôi tự tìm tới hỏi thẳng. Tin đồn chỉ nói được ông không tham gia, không nói được tại sao.

Quán nhỏ, ngổn ngang đủ thứ, mùi xà phòng cục lẫn mùi dầu hỏa cũ, cái mùi đặc trưng của bất cứ tiệm tạp hóa nhà quê nào. Ông chủ quán, tóc bạc quá nửa, ngồi sau tủ kính bày kẹo bánh, tay thoăn thoắt gói mấy gói mì cho một đứa nhỏ vừa mua xong, tiền lẻ đưa qua đưa lại không cần đếm lại.

Tôi ghé mua một gói mì, đứng chờ tính tiền, tay cầm gói mì mân mê.

“Đất cát dạo này nghe nói lên dữ ha bác.”

“Ừ, nghe nói vậy.” Ông không ngước lên, tay vẫn xếp mì lên kệ.

“Bác không tính mua miếng nào hả?”

“Có người rủ rồi chớ.” Ông đáp, giọng thủng thẳng như đang kể chuyện phiếm. “Thằng A sát vách nó qua rủ tui hùn, chừng tháng sau Tết năm rồi.”

“Rồi bác không chịu?”

“Không. Hồi đó tui nhắm sẵn miếng khác rồi.” Ông chỉ tay xuống nền nhà, chỗ ông đang ngồi. “Đúng chỗ này nè chú. Điện đóm sáng trưng, đường nhựa êm, trường với trạm xá kế bên. Tui tính dọn tới ở luôn trong năm, mở cái tiệm mặt tiền cho tiện.”

“Nó không nói gì hả bác?”

“Nó trố mắt ra.” Ông cười. “Nó hỏi tui, bác không sợ lỡ chuyến đò giá lên hả bác.”

“Bác trả lời sao?”

Ông ngừng tay, nghĩ một chút, như thể chính ông cũng không nhớ mình đã nói gì.

“Tui nói thiệt lòng. Tui nói tui có nghĩ tới chuyện đó đâu mà sợ. Tui chỉ coi cái chỗ đó chui ra chui vào ở được không, bày hàng ra buôn bán được không. Còn giá đất mai mốt lên hay xuống, tui tính chi cho mệt, tui có định bán đâu mà tính.”

“Bác mở cái tiệm này lâu chưa bác?”

“Mới hà chú.” Ông đưa gói mì cho tôi. “Dọn về hồi giữa năm, sửa sang một hồi, bán được chừng mấy tháng nay thôi.”

“Bác không tiếc hả bác? Nghe nói miếng thằng A mua hồi đó lên dữ lắm.”

“Tiếc gì chú.” Ông thối tiền, không cần đếm. “Mấy tháng nay ngày nào tui cũng mở cửa, ngày nào cũng có đồng ra đồng vô. Miếng đất kia có đẻ ra được gói mì nào cho tui đâu.”

Tay tôi dừng lại quanh gói mì.

Một câu trả lời lạ, khác hẳn cả cái xóm đang cắm đầu vào cơn sốt. Tôi ghi vô đầu, coi như một chi tiết đáng nhớ, rồi trả tiền gói mì, đi tiếp qua nhà kế bên.

Đứng giữa bãi đất bây giờ, trời đã tối sẫm hơn hẳn lúc nãy, tôi mới đọc lại câu đó bằng một con mắt khác.

Hai người, cùng một túi tiền, cùng một khoảnh khắc, mà tự hỏi hai câu khác hẳn nhau trước khi xuống tiền.

Chỗ này dùng được không.

Chỗ này có hời không.

Tôi không biết câu nào đúng hơn. Nhưng chỉ một cái ngã ba đó thôi, hai người đã bước sang hai nơi khác hẳn, dẫu cùng hít chung một bầu không khí ngõ xóm.

Ông hàng xóm mở tiệm cũng để kiếm lời, xưa nay có ai buôn bán mà không mong hốt bạc. Nhưng cái lời đó rịn ra từ chính công ông đổ xuống mỗi ngày, đứng mỏi chân đón khách, tính toán nguồn hàng. Đất chỉ là cái nền để công sức có chỗ bám vào. Còn Anh A thì ngược hẳn. Anh không đụng tay vào bất cứ việc gì trên đất, không cày, không xây, không dựng nổi một cái sạp. Toàn bộ trông chờ vào đúng một việc, là đất tự cựa mình tăng giá trong lúc anh khoanh tay nằm chờ.

Tôi thấy thèm.

Cái quán nhỏ trong trí nhớ tôi, đèn dây tóc vẫn vàng vọt, khách quen vẫn ra vào, không đợi ai chứng minh gì với ai cả. Không cần một canh bạc nào để tồn tại. Chỉ cần mở cửa mỗi sáng, đóng cửa mỗi tối, ngày nào ra ngày nấy, đều đặn như nhịp thở.

Giá mà hồi đó Anh A cũng hỏi đúng câu ấy, giờ này chắc anh đang đứng sau một cái tủ kính nào đó.

Hai chân bắt đầu mỏi rã, đầu óc nặng trịch vì phải nhớ lại quá nhiều thứ trong một buổi. Tôi ngồi bệt xuống ngay tại đó, mặc kệ đất lạnh, tay quờ quanh nhặt được một nhánh cây khô gần chân.

Tôi vạch số xuống đất.

Một trăm. Một trăm năm mươi. Hai trăm năm mươi.

Ba con số, đúng như hồ sơ vẫn ghi. Mụ B giữ miếng đất này trước tiên, sang tay lại cho Cô C, Cô C giữ một thời gian rồi sang tay tiếp cho Anh A.

Cả đời cầm hồ sơ người khác, giờ ngồi vạch đất cộng trừ như con nít tập đếm.

Tôi thoáng nghĩ, đây chỉ là hai khoản lời riêng rẽ, bà này lời một khoản, bà kia lời một khoản, chẳng dính gì tới nhau.

Đầu que cây trong tay tôi, theo đúng cái phản xạ vẫn dùng khi nối các mốc trên một sơ đồ hiện trường, tự động vạch một đường thẳng nối liền ba con số lại.

Nhìn cái đường vạch đó nằm sờ sờ trên đất, tôi không giữ được cái ý nghĩ ban đầu nữa.

Giá đất giờ đã rơi lại đúng về một trăm, bằng đúng giá mụ B mua vào ban đầu. Khoản Anh A mất, hai trăm năm mươi trừ một trăm, đúng một trăm năm mươi. Tôi cộng lại khoản mụ B rút, năm mươi, với khoản Cô C rút, một trăm. Cũng đúng một trăm năm mươi, không sai một đồng.

Không đồng nào biến mất. Chỉ chuyền tay.

Biết được vậy tôi chẳng thấy nhẹ hơn chút nào. Ba con số vẫn nằm đó, im lìm, chẳng chịu đứng ra nhận lỗi thay cho ai.

Tôi thử tính thêm một đường nữa, nếu giá còn rơi sâu hơn, xuống dưới cả một trăm.

Giả sử Anh A cắt lỗ, bán cho một người nào đó, cứ gọi là D, giá năm mươi. Tôi vạch thêm một con số, cách ba số kia một khoảng, như một cái tên chưa có mặt trên đời, chỉ tồn tại trong đầu tôi lúc này.

Anh A mất tổng cộng hai trăm. Trong đó một trăm năm mươi vẫn chảy về hai bà kia như cũ. Còn năm mươi dư ra chảy vào tay D, người mua được một miếng đất neo giá một trăm mà chỉ trả có năm mươi.

Cùng một cơ chế, chỉ đổi chiều. Giá lên, người trước rút của người sau. Giá xuống, người sau rút của người trước. Anh A đứng đúng đỉnh của cả hai chiều, gánh đủ cả hai loại rút, không chừa lối nào mà thoát.

Đúng lúc đó hình ảnh mẹ Anh A hiện lên trong đầu tôi, đòn gánh tì đúng một vai, dậy từ ba giờ sáng, ngày nào cũng khép được vòng gọn ghẽ, không hề chơi vơi như con.

Một người hai chân bám chắc lấy chính cái nền mình gánh mỗi ngày. Một người lơ lửng giữa hai đợt sóng kéo ngược nhau, chẳng còn chỗ nào để đặt chân.

Tay tôi bất giác đưa ra, ngón xòe rộng như đang định nắm lấy một cánh tay nào đó, kéo lùi lại một bước, cho một đôi chân nào đó đặt lại được xuống đất.

Chỉ có gió lùa qua kẽ tay trống không.

Tôi rụt tay về, nắm hờ lại rồi thả ra, nhìn xuống bàn tay mình. Tôi đang làm gì thế này.

Lúc Anh A xuống tiền, tôi còn chưa quen biết anh. Còn cả một quãng dài nữa mới tới ngày anh gõ cửa tìm tôi. Bàn tay tôi vừa đưa ra để nắm lấy một người ở một khoảnh khắc tôi chưa từng có mặt, một cánh cửa chưa từng hé cho tôi bước vào.

Cái tôi thật sự có, là những buổi ngồi nghe anh kể, sau khi mọi chuyện đã đổ vỡ hết rồi. Lúc đó tôi có mặt thật, nghe thật, tay vẫn cầm bút ghi hồ sơ, mắt vẫn dán vào tìm bằng chứng, không một lần ngẩng lên nhìn thẳng vào mặt anh đủ lâu.

Mắt tôi cay xè, không rõ vì gió cát hay vì cái điều vừa nghĩ.

Tôi lắc đầu, quay lại với mấy con số dưới đất.

Cái tên D tôi vừa vạch thêm, tôi tự hỏi nó đại diện cho cái gì. Chỉ là số trên giấy chăng, tiền chạy qua chạy lại giữa mấy người, chẳng đại diện cho cái gì cụ thể.

Que cây trong tay tôi run nhẹ, không phải vì gió, mà đúng cái kiểu tay vẫn run mỗi lần chạm phải một điều không muốn thừa nhận.

Muốn có tiền thì phải đi làm. Cái lẽ đó con nít cũng biết, chẳng cần ai dạy.

Tiền để dành là tiền của những ngày đã làm rồi, mồ hôi đã đổ xuống rồi. Tiền vay là tiền của những ngày chưa làm, làm trước ăn sau, đem cái công chưa đổ ra đi cầm trước. Ngoài hai thứ đó ra, tôi ngồi nghĩ mãi không ra được thứ thứ ba, không ra được đồng nào tự mọc lên chỉ vì có người ưng nó.

Hai trăm năm mươi triệu Anh A xuống tiền, một phần là dành dụm bao năm, một phần vay ngân hàng. Hằng tháng, một phần lương lại bị rút ra trả lãi, cho một miếng đất không ai ở, không ai canh tác, chỉ đứng đó phơi nắng phơi mưa.

Vậy còn khúc đời nào của anh chưa bị đụng tới không.

Tôi ngồi rà lại từng khúc. Quá khứ đã mất, tiền để dành cạn sạch. Tương lai đang bị cắt dần, mỗi tháng một lát qua tiền lương.

Không khúc nào. Cả những gì đã qua lẫn những gì chưa tới, đều nằm trong khoản lỗ này hết.

Đầu que cây nhích lên một chút, định vạch thêm một con số nữa xuống bên cạnh. Tay trái tôi, cùng lúc đó, tự đưa lên ngực áo.

Cả hai tay cùng dừng. Tôi để đầu que lơ lửng trên mặt đất chừng một nhịp, không hiểu mình vừa định vạch cái gì, rồi hạ xuống. Bàn tay kia cũng rơi về đầu gối.

Tôi nhìn lại ba con số vẫn nằm dưới đất, cộng cái tên D vừa vạch thêm. Nếu chỉ cần một cái đầu ưng là đủ để một thứ có giá, thì mỗi lần mụ B ưng, Cô C ưng, Anh A ưng, mỗi cái ưng đó đáng lẽ phải đẻ thêm của cải mới đúng, chớ không phải chỉ chuyền qua chuyền lại đúng một cục.

Nhưng cộng hết lại, chẳng ai giàu thêm. Chỉ có một cục tiền chuyền tay, đúng như mấy con số dưới đất kia đang bày ra, rành rành không cãi được.

Vậy cái ưng đó rốt cuộc quyết định được cái gì.

Tôi nhìn xuống ba con số. Nó quyết định được đúng một chuyện, là ai đang cầm cục tiền đó tại mỗi lúc. Tiền của Anh A không tự dưng chảy sang hai bà kia. Nó chảy vì đúng lúc đó, hai bà ưng đúng nhịp, bán đúng nhịp, còn Anh A ưng trễ mất một nhịp.

Chỉ một nhịp thôi.

Cái lạnh từ đất dưới mông tôi đang ngồi thấm dần lên, rõ hơn hẳn lúc nãy.

Tôi nhớ tới buổi cuối cùng tôi gặp anh.

Bữa đó tôi mang tới cho anh nguyên tập hồ sơ, dày, ghi đủ mọi thứ tôi lần ra được suốt gần một năm. Ngày giao dịch. Người bán trước đó. Giá từng lần sang tay. Cả cái buổi tôi ngồi với Cô C ở quán nước đầu xóm.

“Tôi coi hết rồi chú em. Không có dòng luật nào buộc được cô ta chịu trách nhiệm hết. Bán rẻ mua đắt là chuyện thường tình, không phải tội.”

Anh A ngồi im.

Tôi đợi anh cãi. Anh không cãi.

Tôi đợi anh hỏi lại cho rõ, kiểu như vậy còn cách nào khác không anh, hay là mình kiện thử coi sao. Anh không hỏi.

“Dạ.” Anh nói. “Em cảm ơn anh.”

Tôi lật tập hồ sơ ra, xoay về phía anh, chỉ tay vào mấy trang giữa.

“Chỗ này tôi ghi lại đủ ba lần sang tay. Chú em coi thử, biết đâu chú thấy được cái gì tôi bỏ sót.”

Anh cúi xuống nhìn. Mắt anh dừng trên trang giấy chừng vài giây, không lâu hơn.

“Dạ.”

“Chú em có muốn tôi coi thêm hướng nào nữa không? Còn cái công ty môi giới hồi đó nữa, tôi chưa lần tới.”

Anh lắc đầu.

“Hay chú em muốn tôi ghi thêm gì vô đây không? Ghi cho đủ, mai mốt cần tới thì có sẵn.”

“Thôi anh.” Anh nói. “Vậy được rồi anh.”

Tập hồ sơ vẫn nằm trên bàn giữa hai người. Anh không đưa tay ra lấy. Cũng không đẩy trả lại. Nó cứ nằm đó.

Tôi nhớ mình có hỏi thêm một câu nữa, câu cuối cùng, hỏi ngoài phần việc.

“Rồi chú em tính sao?”

Anh nhìn ra cửa một lúc.

“Dạ, cũng chưa tính gì anh.”

Bữa đó anh mặc đúng cái áo sơ mi anh mặc lần đầu tới tìm tôi, mà cổ áo thì đã sờn hẳn ra.

Tôi ngồi giữa bãi đất, nhớ lại cái “dạ” đó, và thấy lạnh sống lưng theo một kiểu khác hẳn cái lạnh của gió.

Cái buổi đầu tiên anh bước vô phòng tôi, anh trả gấp đôi tiền công theo bữa, anh ép tôi hứa một cái thời hạn, anh hỏi tới hỏi lui anh làm được chớ anh. Anh cần biết tới mức đó.

Tới bữa cuối, tôi mang cái biết đó tới tận tay, dày cả một tập, thì anh chỉ “dạ”.

Người thôi cả cái việc muốn biết là người đã đi qua hết chỗ để mà kì kèo.

Tôi ngẩng lên, ngắm quanh mình. Cọc mốc mục. Cỏ hoang mọc cao. Tấm biển tôn vẫn cắm nghiêng đúng cái góc đó, một góc long ra, kêu lạch cạch từng chập.

Đúng bãi đất tôi đứng từ đầu buổi, giờ nhìn bằng một con mắt vừa đi qua hết một vòng tính toán.

Anh A là nạn nhân thật. Thiệt hại thật. Mà không có lấy một hung thủ nào mang gương mặt cụ thể để tôi ghi vào hồ sơ.

Tôi thử dựng cảnh đổ hết tội lên đúng Anh A. Tự anh tham, tự anh liều, tự anh xuống tiền, không ai ép. Dựng cảnh đó dễ, tôi làm kiểu này không biết bao nhiêu lần với bao nhiêu nghi can khác. Ghi tên vào hồ sơ, giao cho khách, khép lại, xong.

Nhưng cảnh này dựng chưa xong đã phải bỏ. Mẹ anh cứ hiện ra ngay giữa đó, đòn gánh lệch vai, dậy từ ba giờ sáng, chợ xa thì xa mà đồng nào ra đồng nấy. Tôi hạ không nổi cái bút xuống chỗ tên đứa con của một người mẹ như vậy.

Tôi thử dựng cảnh kia. Không ai có lỗi cả. Mụ B với Cô C cứ ung dung giữ nguyên phần lời, luật không bắt họ trả lại một đồng nào, vì họ có phạm luật nào đâu.

Cảnh này dựng xong, cũng đúng luật nốt, không cãi được câu nào.

Nhưng dựng xong rồi, tôi vẫn ngồi đó, bụng vẫn cồn lên một cái gì, không chịu yên.

Cả hai cảnh đều đúng. Cả hai đều là công lý thật, không cảnh nào sai. Chỉ là không cảnh nào là thứ tôi đang đi tìm.

Vậy tôi đang đi tìm cái gì.

Không có câu trả lời nào hiện ra.

Cả đời cầm hồ sơ, tôi quen với việc một vụ án luôn phải khép lại bằng một cái tên. Ngồi đây, tôi không có nổi một cái tên nào để mà khép.

Không phải không ai có lỗi. Chỉ là cái lỗi đó không dồn được vào đúng một cái tên.

Một tiếng sấm ì ầm nổ xa xa phía chân trời, kéo dài rồi tắt hẳn. Đâu đó có tiếng chó sủa dồn dập rồi im bặt, như vừa bị ai quát.

Que cây rơi khỏi tay tôi lúc nào không hay.

Tôi nhìn xuống hai bàn tay mình. Ba mươi năm, chúng chưa từng còng ai. Chúng chỉ ghi hồ sơ rồi giao cho người khác còng. Giờ đặt không trên đầu gối, chẳng có gì để mà nắm.

Mấy con số dưới đất đã mờ bớt đi vì gió thổi cát phủ lên. Mụ B. Cô C. Anh A. Cả cái tên D còn chưa có mặt. Ba con số thật, một con số giả định, vẫn nằm im đó, không con số nào chịu đứng ra nhận mặt là kẻ đã gây ra chuyện này.

0