Nhà Hát Niềm Tin

Chương 2: Cây Táo Không Ai Hái

Đăng: 21/07/2026 19:54 3,137 từ 4 lượt đọc

"Giá Trị Đến Từ Tự Thân, Hay Từ Ý Nghĩ Của Số Đông?"

Hồ sơ số 2. Tang vật: một trái táo. Nhân chứng: Marx, Menger. Tình trạng: đang điều tra.

Tiếng rao đó hóa ra chẳng cao siêu gì. Một bà gánh hàng rong đẩy ngang quán, giờ mới nghe rõ đang rao gì: táo đây, táo ngọt đây. Tôi ngoắc tay gọi lại, mua đúng một trái, đặt phịch lên bàn. Tay kia vẫn còn giữ nguyên tập hồ sơ Marx, đúng trang tôi bỏ dở lúc nãy, khi tiếng rao cắt ngang.

Nhân chứng này tôi đã gặp một lần rồi, lúc còn là một cậu sinh viên hai mươi ba tuổi mê Democritus tới mức chọn hẳn ông làm đề tài luận án. Giở tiếp hồ sơ, tôi gặp lại ông ở một quãng đời khác hẳn. Mùa đông năm 1867, tại London, ông đang gò lưng viết nốt những trang cuối một cuốn sách dày cộp, nhan đề Tư Bản Luận. Ông phải đứng viết chứ không ngồi nổi, vì lưng ông mọc đầy nhọt. Trong một lá thư gửi Engels, ông nửa đùa nửa cay đắng bảo giai cấp tư sản sẽ còn nhớ tới mấy cái nhọt của ông cho tới lúc nhắm mắt. Engels là người bạn vẫn âm thầm gửi tiền nuôi cả nhà ông bao năm nay. Có bận túng quá, ông từng mang cả bộ đồ bạc gia truyền của vợ đi cầm. Lão chủ tiệm cầm đồ nghi ông ăn cắp nên báo cảnh sát. Ông bị giam qua đêm mới được thả.

Ba mươi năm cầm hồ sơ, tôi chưa từng thấy ông tổ nào của một học thuyết về giá trị lao động lại nghèo tới mức bị chính cảnh sát nghi là quân trộm cắp.

Gấp lại đoạn đời riêng, tôi quay về đúng câu hỏi đang dang dở: trái táo này, giá trị của nó từ đâu ra.

Kinh tế, xét cho cùng, chỉ là chuyện đem cái này đổi lấy cái kia. Đổi táo lấy tiền, đổi công lấy táo. Nhưng đổi mà không có gì đứng giữa để cân cho ngang thì khác nào một bên cướp trắng bên kia. Muốn cân được, hai bên phải cùng tin có một thứ thật đứng sau lớp giá cả, không lệ thuộc việc ai đang đứng đó mà đổi ý. Tôi khựng lại. Đây chẳng phải đúng câu hỏi tôi vừa hỏi cung Democritus xong sao, chỉ đổi bộ quần áo từ cảm giác sang cái giá phải trả.

Hồ sơ mở đúng chỗ tôi bỏ dở. Marx chia lao động ra hai thứ. Một là lao động cụ thể, tay nghề riêng của từng việc: người hái táo trèo cây, người ủ rượu canh men, người dệt vải luồn thoi. Mỗi việc một chất, đem so trực tiếp với nhau chẳng khác nào so cân nặng với màu sắc. Hai là lao động trừu tượng. Đem ra chợ trao đổi, không ai còn hỏi tay anh khéo cỡ nào, chỉ còn tính gộp lại thành một thứ chung: sức người bỏ ra, đo bằng thời gian.

Tôi thử ngay vào trái táo trên bàn. Nếu người hái chậm gấp đôi người khác, hẳn táo của anh ta phải đáng giá gấp đôi mới công bằng.

Đọc thêm vài dòng, tôi biết ngay mình đoán hụt. Hồ sơ không tính công riêng từng người, chỉ tính đúng mức thời gian xã hội lúc đó cần để làm ra một việc, không hơn không kém. Ai chậm hơn mức đó chỉ đang phí thời gian của chính mình, không tạo thêm được đồng giá trị nào. Tôi lật xem hồ sơ ghi năm nào. Đúng ngay mùa đông Marx đang viết những trang này, cả nước Anh đang tính công nhân bằng một thứ duy nhất: số giờ đứng máy. Xưởng nào kéo được giờ làm dài thêm, xưởng đó vắt thêm được lời. Marx cầm đúng cái thước đo tư bản đang dùng để bóc người ta, quay ngược nó lại, chỉ thẳng vào mặt tư bản.

Người hái nhanh mà vẫn khéo, táo vừa nhiều vừa ngon hơn hẳn người mới vào nghề, tay nghề đó cũng phải tính là một khoản nào chứ, không thể coi ngang hàng người tay ngang được. Tôi dò tìm câu trả lời, không thấy ai đứng ra tính hộ khoản chênh đó cả. Hồ sơ chỉ ghi rằng nó tự san ra, không qua một bàn tay cụ thể nào, hàng ngàn cuộc mặc cả rời rạc ngoài chợ, người trả giá, người ra giá, cộng dồn lại thành một mức chung, chẳng ai trong đám đó biết mình đang làm phép tính lớn nào. Nó diễn ra sau lưng từng người. Không thủ phạm. Không ai đứng ra nhận trách nhiệm. Sống lưng tôi lạnh hẳn, đúng cảm giác một vụ án tôi chưa từng phá nổi vì chẳng tìm ra được ai để mà còng tay.

Gấp trang đó lại, tôi đối chiếu ngược về đúng hồ sơ Democritus vẫn còn nằm dưới cùng chồng giấy. Hạt và khoảng trống là tầng thật, có sẵn, không cần ai công nhận mới tồn tại. Lao động kết tinh vào táo cũng y hệt vậy, có trước, đứng vững một mình, tôi ăn hay không ăn nó vẫn còn nguyên đó. Còn tầng quy ước, thứ chỉ sinh ra khi giác quan va vào vật, hồ sơ Marx chưa buồn nhắc tới nửa lời. Món nợ đó tôi tạm ghi sổ, để đó.

Tôi mới sực nhớ trái táo vẫn còn nguyên trên bàn từ nãy giờ. Cắn một miếng. Giòn, ngọt.

Ngọt này không tự dưng mà có. Người trồng đổ mồ hôi tưới bón. Người hái trèo cây. Người gánh hàng rong cong lưng gánh nó tới tận đây. Marx nói đúng. Tôi gấp gọn tập hồ sơ, đẩy nhẹ sang một bên, coi như đã có câu trả lời, giòn rụm như miếng táo vừa cắn.

Tay tôi đặt xuống đúng mặt bàn đang gõ, sực nhớ lại đúng câu hồ sơ vừa ghi khi nãy: có người đóng ra nó theo Bàn Gốc. Giờ nhìn lại bằng con mắt khác, tôi thấy mặt gỗ này có giá trị không phải vì nó giống Ý Niệm Bàn cỡ nào, mà vì có tay thợ mộc đã đổ công vào từng đường cưa, đường bào. Cùng một cái bàn, tôi từng hỏi nó có thật hay không. Giờ tôi lại hỏi nó có đáng giá hay không. Hai câu hỏi khác hẳn nhau, nhưng cùng nhắm vào một vật.

Nghĩ tới công thợ mộc, đầu tôi lái sang một vụ cũ, cũng có công thợ, cũng có tranh cãi giá, từ hồi tôi còn hành nghề đàng hoàng, chưa về vườn ngồi quán trà đá thế này.

Người thuê tôi lần đó là một ông chủ thầu, mặt lúc nào cũng đỏ gay như vừa cãi nhau xong với ai đó. Khu ông ta trúng thầu nằm trong diện giải tỏa, nhà nước đền bù theo đúng khung giá đất và hệ số quy định, tính rạch ròi từng mét vuông, từng loại vật liệu tường xây. Mấy chục hộ dân trong khu lại một mực đòi giá khác, cao hơn hẳn, không dựa vào khung nào cả, chỉ dựa vào tin đồn con đường cao tốc sắp chạy ngang, khu đô thị mới sắp mọc lên sát bên. Hai bên giằng co không ai chịu ai, dự án đứng khựng, ông chủ thầu lỗ tiền lời từng ngày.

Việc của tôi hồi đó đơn giản: coi mấy căn nhà mới cất thêm trong khu có phải dựng vội để đón đầu tiền đền bù hay không. Nghề cũ dạy tôi cách đọc một bức tường, mạch vữa còn tươi hay đã ngả màu, chân móng lún đều hay còn mới cứng, cây trồng quanh nhà gốc to cỡ nào. Tôi lội khắp khu đó mấy ngày liền dưới cái nắng gắt đầu mùa, bụi vôi mới trộn bám trắng cả hai ống quần, chó nhà ai sủa rát tai suốt con hẻm, mấy bà mấy chị đứng trong cửa nhìn ra dò xét, chắc tưởng tôi là người của phường xuống đo đạc. Tôi ghi chép, chụp ảnh, đối chiếu ngày cấp phép xây dựng với ngày quy hoạch được đồn ra.

Có một bà cụ chặn tôi lại giữa hẻm, hỏi thẳng tôi tính bao nhiêu tiền một mét vuông cho cái gốc khế bà với ông nhà trồng từ hồi mới cưới nhau. Tôi không có câu trả lời, chỉ biết cúi đầu đi tiếp, coi như không nghe thấy.

Đọc lại đúng khung giá nhà nước đưa ra, tôi thấy nó chạy y hệt cái công thức Marx vừa dạy tôi lúc nãy. Mét vuông tường gạch, mét vuông sân xi măng, loại mái tôn hay mái ngói, mỗi thứ quy ra đúng một mức tiền cố định, không cần biết chủ nhà là ai, không cần biết họ có tin hay không. Đúng tinh thần thời gian xã hội cần thiết, một công thức đứng ngoài mọi ý muốn riêng, cân ai cũng ra cùng một số.

Còn cái giá dân đòi thì chẳng công thức nào cân nổi. Không ai đo được bao nhiêu phần trăm của con đường cao tốc đã thật sự hiện ra, bao nhiêu phần trăm chỉ là lời đồn truyền tai từ quán nước đầu ngõ. Đem đúng công thức thời gian xã hội cần thiết ra tính, tôi bí đặc, không lần ra được một giờ công nào đứng sau cái giá dân hét. Đất vẫn là đất đó, cày cuốc bao năm cũng chỉ chừng đó công, mà giá lại nhảy vọt lên gấp mấy lần chỉ vì một lời đồn chưa ai kiểm chứng.

Đúng kiểu bí tôi từng vấp hồi nãy, giữa Democritus với Plato, chỉ khác lần này đổi từ cảm giác sang cái giá đất. Nghề cũ dạy tôi một điều không đổi, khung này bí thì phải lục sang khung khác thử, càng đối chọi càng dễ lòi ra chỗ hở. Tôi lục lại chồng hồ sơ, tìm đúng cái tên vẫn hay cãi ngược với Marx.

Đúng tên đó: Menger. Hồ sơ ghi ông đứng hẳn về phía ý thức, tin giá trị sinh ra từ một cái đầu đang cần, không phải từ công sức kết tinh vào vật. Bốn năm sau Marx, ở Vienna, ông bước ra vành móng ngựa. Trước khi cầm bút viết sách, ông từng là một gã nhà báo ngồi cạnh sàn chứng khoán, ngày ngày ghi chép giá cổ phiếu lên xuống cho tờ Wiener Zeitung. Vài năm sau khi sách ra đời, ông được vời vào cung làm gia sư riêng cho Thái tử Rudolf, người sẽ nối ngôi đế quốc Áo. Hai thầy trò thân thiết tới mức cùng rong ruổi khắp châu Âu. Năm 1889, Rudolf tự tay kết liễu đời mình. Tôi gấp trang đó lại, không biết nói thêm gì.

Tôi thử ngay: vậy cứ ai muốn một thứ thì thứ đó có giá trị? Tôi hít một hơi. Tôi muốn khí trời để thở còn hơn muốn miếng đất của bất kỳ ai trong khu giải tỏa đó gấp bội, vậy không khí phải giá trị nhất mới đúng.

Đọc thêm, tôi biết mình lại hớ. Không khí dư thừa, chẳng ai phải tranh giành nó, nên dù cần thiết tới đâu vẫn không mang giá trị kinh tế. Phải vừa cần vừa khan hiếm, ý thức mới gán được giá trị lên một vật. Tôi đoán thiếu mất đúng vế khan hiếm, và đúng cái vế đó mới là thứ đang cháy âm ỉ trong cả khu giải tỏa, đất thì có hạn, người muốn thì mỗi ngày một đông.

Hồ sơ đưa thêm đúng ví dụ ông dùng để đo mức khan hiếm: một người nông dân có năm bao lúa. Bao thứ nhất nuôi sống bản thân, quan trọng nhất. Bao thứ hai làm giống cho vụ sau. Bao thứ ba nuôi gia súc. Bao thứ tư, thứ năm đem nấu rượu, kém quan trọng nhất. Mất một bao bất kỳ trong kho, người nông dân không giảm đều cả năm công dụng, chỉ cắt đúng công dụng kém quan trọng nhất, tức bao rượu. Giá trị của một bao lúa bất kỳ trong kho vì vậy được định bằng đúng công dụng biên đó, không phải tổng lợi ích của cả loại lúa nói chung.

Đọc thêm vài dòng, tôi nắm được cốt lõi lời khai của ông: giá trị không chảy từ công sức vào vật, mà chảy ngược từ ước muốn người dùng, ngược về đúng những thứ giúp làm ra thứ họ muốn. Đối chiếu vào vụ giải tỏa, hóa ra giá dân đòi không hề bịa đặt, nó cũng là một phép tính đàng hoàng, chỉ khác chỗ cái nó tính không phải công đã đổ vào đất, mà công dụng của miếng đất đó trong một tương lai còn chưa ai chắc có tới hay không. Đúng thứ Rudolf từng tin chắc sẽ có, một ngai vàng đang chờ mình, để rồi tự tay đóng sập nó lại trước khi ngày đó kịp tới.

Đứng ngoài mà phân xử hai bên đó, tôi thấy mình bất lực y hệt lúc phân xử Democritus với Plato hồi nãy. Nhà nước đúng theo một cách, dân đúng theo một cách khác, chẳng ai chịu nhường ai, còn tôi chỉ có việc nộp báo cáo rồi rút, phần cãi nhau còn lại là việc của tòa án hay của mấy ông cán bộ địa chính. Cái gốc khế của bà cụ, tôi cũng chẳng biết xếp vào đâu trong cả hai công thức, Marx không tính, Menger cũng không tính, nó nằm ngoài sổ sách của cả hai ông.

Nghĩ kỹ thêm một bước, tôi khựng lại. Cái khung giá nhà nước tôi vừa tin là khách quan, đứng ngoài mọi ý muốn riêng, hóa ra cũng chẳng từ trên trời rơi xuống. Ai đó từng ngồi định ra đúng cái hệ số đó, dựa trên giá đất từng giao dịch trước đây ngoài thị trường, tức cũng dựa trên đúng một đám người mua kẻ bán, đúng những cái đầu đang tính theo kiểu Menger. Cái thước tôi tưởng khách quan của nhà nước, hóa ra bên trong cũng giấu sẵn đúng thứ chủ quan Menger vừa lôi ra ánh sáng.

Tôi đứng phắt dậy, như thể đứng lên là gạt phăng được cái ý đó ra khỏi đầu. Đầu gối va đúng ngay cái chân bàn sắt đã hại tôi một lần hồi nãy. Cơn đau nhói lên, quen thuộc đến phát bực. Vật chất vẫn cứ trơ trơ ở đó, chẳng thèm biết tôi đang ngả về phe nào, cứ đau là đau, không cần hỏi ý tôi trước. Tôi ngồi phịch xuống lại, xoa đầu gối, thấy mình vừa thua thêm một keo ngay trên chính sân nhà.

Nhớ lại rõ nhất vẫn là lúc ông chủ thầu trả tiền công, đứng ở đầu ngõ, tay quệt mồ hôi trán, cười xòa bảo, giờ có ảnh vệ tinh, có Google Earth chụp theo từng năm, thuê tôi cho chắc thôi, chứ không thì cũng dùng máy móc mà so ngày tháng là ra hết.

Câu đó tôi nghe rồi bỏ qua ngay lúc đó, còn mải đếm tiền công bỏ túi. Mãi tới hôm nay, ngồi đúng quán trà đá này, tay vừa chạm mặt bàn gỗ, nó mới quay lại vặn tôi một lần nữa, dai dẳng hơn hẳn lần đầu.

Tôi ngồi lặng, tay vẫn đặt nguyên trên mặt bàn gỗ, tự hỏi ngược lại chính mình đúng câu tôi vừa dùng để cân đo cả khu giải tỏa năm đó. Ba mươi năm cầm hồ sơ, cái tiền công nghề này từng mang lại, tính theo Marx, là công tôi bỏ ra, mắt căng ra soi từng viên gạch, đúng một khối lao động kết tinh, có trước, đứng vững một mình, ai công nhận hay không cũng không đổi được gì. Nhưng tính theo Menger, nó chỉ là cái người ta còn tin là cần đến tôi, y hệt cái ông chủ thầu năm đó buột miệng, cần vì máy móc chưa làm trọn, không phải vì tay nghề tôi có gì độc nhất. Ngày máy móc làm trọn được, cái cần đó biến mất, kéo theo luôn cả giá trị của tôi, dù tôi vẫn y nguyên, vẫn ba mươi năm kinh nghiệm, vẫn đúng một con người đó. Nghĩ kỹ lại, cái ngày đó có khi đã tới từ lâu rồi cũng nên. Làng ngày một ít việc thuê một ông già đi rà từng viên gạch, tôi xin nghỉ sớm, vẫn tự nhủ là do chân tay đã mỏi, nhưng ngồi đây mới dám nghĩ thẳng ra, có khi tôi nghỉ trước khi bị cho nghỉ.

Tôi nhớ lại đúng ví dụ năm bao lúa Menger từng dạy, bao nào cũng như bao nào, chỉ khác công dụng biên. Mất một bao, người nông dân chỉ cắt đúng công dụng kém quan trọng nhất trong năm cái đang có. Nếu tôi là một bao lúa trong cái kho của thiên hạ, ngày máy móc thế được tôi, tôi rớt xuống đúng hạng công dụng kém nhất, không ai buồn giữ lại làm gì.

Câu ông bà hay dặn lại vọng về, ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Menger từng lật ngược nó, bảo chính kẻ trồng phải đội ơn người ăn, vì có ai còn thèm ăn thì công anh ta mới hóa thành giá trị. Tôi ngồi ngẫm, thấy câu đó giờ không còn là chuyện trái cây nữa. Ba mươi năm tôi cứ đinh ninh mình là người gieo trồng, thiên hạ mới là kẻ chịu ơn, cần tới hồ sơ tôi lật ra thì mới có chuyện để tin. Hóa ra chiều biết ơn phải lật lại, chính tôi mới là kẻ đang đội ơn những người còn thấy cần thuê một ông già đi rà từng viên gạch, chứ chưa hẳn máy móc.

Tay tôi siết nhẹ lại mép bàn gỗ, cạnh bàn hơi ram ráp dưới đầu ngón tay. Không nhói như cạnh bàn sắt hôm nào, chỉ hơi sần, nhưng đủ để tôi biết nó có thật, ít nhất tới lúc này.

Tôi móc túi, lấy lại chỗ tiền thối mua táo ban nãy, đếm lại cho chắc, thói quen nghề nghiệp không bỏ được. Đếm xong, xếp gọn trong lòng bàn tay, tự dưng thấy nó nhẹ hều, nhẹ hơn hẳn cái cân nặng nó vẫn có trong đầu tôi suốt mấy chục năm nay.

0