Chương 2: Cây Táo Không Ai Hái
Nhà Hát Niềm Tin
Mục lục
16 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 16/16 chương
"Giá Trị Đến Từ Tự Thân, Hay Từ Ý Nghĩ Của Số Đông?"
Hồ sơ số 2. Tang vật: một trái táo. Nhân chứng: Marx, Menger. Tình trạng: đang điều tra.
Tiếng rao đó hóa ra chẳng cao siêu gì. Một bà gánh hàng rong đi ngang quán, giờ mới nghe rõ đang rao gì: táo đây, táo ngọt đây. Tôi ngoắc tay gọi lại.
Bà hạ gánh xuống ngay mép vỉa hè, hai đầu quang gánh còn đung đưa. Táo xếp thành mấy tầng trong cái thúng lót lá chuối, quả nào quả nấy đỏ au, nhưng lớp dưới cùng đã có mấy quả thâm vỏ.
Nghề cũ chưa buông tôi ra bao giờ. Mắt tôi tự chạy một vòng trước khi miệng kịp hỏi giá. Vai áo bà sờn hẳn một bên, đúng bên quen đặt đòn gánh. Mấy quả thâm nằm lớp dưới, tức chúng đã bị đè từ sớm, không phải mới xếp. Bà hạ gánh xuống bằng cả hai đầu gối, chậm, kiểu người đã đi lâu chứ không phải vừa ra khỏi chợ.
“Bao nhiêu một ký bà?”
Bà nói giá. Tôi kêu mắc. Bà cười, gạt tay: “Mắc gì chú, sáng nay tôi lấy mối đã bằng nấy rồi. Chú lấy giùm tôi cho nhẹ gánh đi, chớ để tới chiều mà không ai mua thì tôi lỗ chỏng gọng, mớ này qua bữa là hư hết trơn, có ai thèm ngó nữa đâu.”
Đi từ sáng, ế. Ông bà mình dạy trông mặt mà bắt hình dong, tôi ăn cơm bằng đúng câu đó ba mươi năm nay. Mà lần này cũng chẳng lấy gì làm khoái, nhìn cái gánh là ra, có gì khó.
Tôi mua đúng một trái, đặt phịch lên bàn. Bà quẩy gánh đi, tiếng rao lại vọng lên ở đầu ngõ bên kia.
Bà chủ quán liếc thấy tôi mua táo ngoài, cười cạnh: “Ăn táo người ta mà không kêu thêm ly trà nào, ông tính qua mặt tôi hả?”
“Bà yên tâm, cái gì bà bán mà tôi còn cần, khắc tôi phải mua, bà lo gì.”
Bà cười xòa, bảo tôi lý sự vừa vừa thôi. Cái quán này bà gây lại từ hai bàn tay trắng, mua từng cái ghế một, tháng này một cái, tháng sau một cái, nên món gì trong quán bà cũng nhớ giá, nhớ luôn cả cái tháng mình mua nó.
Tôi cầm táo lên, cắn đại một miếng cho đỡ sốt ruột, mắt vẫn dán vào hồ sơ. Đây là một vụ cũ, từ hồi tôi còn hành nghề đàng hoàng, chưa về vườn ngồi quán trà đá thế này.
Người thuê tôi lần đó là một ông chủ thầu, mặt lúc nào cũng đỏ gay như vừa cãi nhau xong với ai đó. Khu ông ta trúng thầu nằm trong diện giải tỏa, nhà nước đền bù theo đúng khung giá đất và hệ số quy định, tính rạch ròi từng mét vuông, từng loại vật liệu tường xây. Mấy chục hộ dân trong khu lại một mực đòi giá khác, cao hơn hẳn, không dựa vào khung nào cả, chỉ dựa vào tin đồn con đường cao tốc sắp chạy ngang, khu đô thị mới sắp mọc lên sát bên. Hai bên giằng co không ai chịu ai, dự án giậm chân tại chỗ, ông chủ thầu lỗ tiền lời từng ngày.
Việc của tôi hồi đó đơn giản: coi mấy căn nhà mới cất thêm trong khu có phải dựng vội để đón đầu tiền đền bù hay không. Nghề cũ dạy tôi cách đọc một bức tường, mạch vữa còn tươi hay đã ngả màu, chân móng lún đều hay còn mới cứng, cây trồng quanh nhà gốc to cỡ nào. Tôi lội khắp khu đó mấy ngày liền dưới cái nắng gắt đầu mùa, bụi vôi mới trộn bám trắng cả hai ống quần, chó nhà ai sủa rát tai suốt con hẻm, mấy bà mấy chị đứng trong cửa nhìn ra dò xét. Tôi ghi chép, chụp ảnh, đối chiếu ngày cấp phép xây dựng với ngày quy hoạch được đồn ra.
Đọc tới đúng đoạn này, tôi sững lại.
Có một bà cụ chặn tôi lại giữa hẻm, tay run run nắm lấy tay áo tôi: “Chú ơi, chú tính giùm tôi, cái gốc khế ông nhà tôi trồng hồi mới cưới, ba chục năm nay, chú tính nó đáng bao nhiêu một mét vuông?”
Tôi gỡ tay bà ra, nhẹ thôi, rồi đáp đúng câu tôi vẫn đáp cho gọn: “Dạ cái đó bên hội đồng người ta tính, cô hỏi trên phường người ta trả lời cho. Con đi coi tường thôi, không thuộc phần việc của con.”
Bà buông tay. Tôi đi tiếp, đầu đã sang căn kế bên, đếm nhẩm mấy nhà còn phải coi cho hết buổi sáng.
Tôi lật xuống dòng ghi chú viết ngay dưới đó hồi ấy, đúng bằng chữ của chính tay tôi: gốc to, khả năng trồng lâu năm, không tính vào khung bồi thường. Đúng bấy nhiêu chữ, không hơn.
Tôi để tay lên trang giấy một lúc lâu. Tay tôi hơi run. Không hiểu vì sao.
Tôi cắn thêm một miếng táo, nhìn xuống, thấy dấu răng mình hằn rõ trên phần thịt táo vừa lộ ra, trắng ởn giữa lớp vỏ đỏ. Trái táo này đáng giá, chắc là vì nó ăn được, lại ngon. Logic vậy có gì sai đâu.
Nhưng nghĩ thêm một bước, tôi thấy có gì đó không ổn. Cái ngon, cái ăn được đó, đâu tự dưng mà có. Người trồng đổ mồ hôi tưới bón cả mùa. Người hái trèo lên trèo xuống. Bà gánh hàng rong ban nãy cong lưng gánh nó từ chợ đầu mối tới tận đây. Ông bà mình có câu, ăn quả nhớ kẻ trồng cây, ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng. Vậy ra cái ngọt tôi vừa cắn, gốc gác của nó nằm ở đúng chỗ công người ta đổ vào, không phải ở bản thân trái táo.
Nghĩ thêm bước nữa, tôi lại thấy hụt. Câu bà bán táo nói lúc nãy còn nguyên trong tai: để tới chiều không ai mua thì lỗ chỏng gọng, qua bữa là hư hết trơn, chẳng ai thèm ngó. Cái gánh táo đó, công người trồng, công người hái, công bà cong lưng gánh, y hệt nhau ở cả hai trường hợp. Bán được thì công đó thành tiền. Ế thì công đó thành rác. Công vẫn chừng đó, không thêm không bớt một giọt mồ hôi nào.
Bà chủ quán bưng mớ rau muống ế ra sau, càu nhàu một mình: rau này mai phải đổ, trồng công cả tháng mà ngày ế là ế trắng, chẳng ai đoái.
Vậy ra công sức đổ vào không tự nó thành giá. Phải có ai đó, ở đầu bên kia, còn thấy cần tới nó.
Ngẫm được tới đó tôi thấy khoái, tưởng đã tóm được thủ phạm. Vậy cứ ai còn muốn cái gì thì cái đó có giá. Gọn ghẽ.
Tôi hít một hơi dài cho khoan khoái. Rồi khựng lại giữa chừng hơi thở đó.
Cái tôi đang hít vào đây, không có nó thì tôi chết trong vài phút. Đem so với miếng đất của bất kỳ hộ nào trong khu giải tỏa kia, tôi cần khí trời gấp vạn lần. Vậy mà chưa từng có ai bán cho tôi một hơi thở, cũng chưa từng có ai đòi tôi trả một đồng nào. Nếu cứ cần là có giá, thì không khí phải đắt nhất trần đời mới đúng.
Tôi ngồi ngẫm chỗ hụt đó một hồi. Rồi cũng ra: cái tôi cần thì thiếu gì, đầy trời, thò mũi ra là có, chẳng ai phải tranh với ai. Còn miếng đất trong khu giải tỏa thì có bấy nhiêu đó thôi, người muốn thì mỗi ngày một đông. Cần không thôi chưa đủ. Còn phải thiếu nữa. Thiếu thì cái muốn trong đầu người ta mới có chỗ mà bám vào vật, bám được rồi mới thành ra cái giá.
Nhà tôi hồi nhỏ có năm bao lúa trong kho. Bao thứ nhất để dành ăn, không có là chết đói, khỏi bàn. Bao thứ hai để dành làm giống cho vụ sau. Bao thứ ba nuôi mấy con gà con heo. Bao thứ tư với bao thứ năm, ba tôi đem nấu rượu, uống với mấy ông trong xóm.
Năm đó nhà tôi mất trộm đúng một bao.
Má tôi có vì vậy mà bớt cơm mỗi bữa đi một phần năm không. Có bỏ giống bớt một phần năm không. Không đời nào. Ba tôi cắt đúng cái bao rượu, cái chót bảng trong đám, và cả nhà năm đó vẫn ăn đủ như mọi năm.
Vậy ra bao lúa nào trong kho nhà tôi cũng chỉ đáng đúng cái phần việc chót bảng mà nó đang gánh. Còn chuyện lúa gạo quý cỡ nào với đời người, cái đó để mấy ông viết sách lo, chớ chẳng dính gì tới cái giá tôi trả cho một bao.
Nghĩ ra được tới đó, tôi lật lại hồ sơ giải tỏa, đọc tiếp đoạn giằng co giá cả. Khung giá nhà nước tính đúng công cán: mét vuông tường gạch, mét vuông sân xi măng, mái tôn hay mái ngói, mỗi thứ quy ra đúng một mức tiền cố định, không cần biết chủ nhà là ai. Còn cái giá dân đòi thì chẳng công thức nào cân nổi. Không ai đo được bao nhiêu phần trăm của con đường cao tốc đã thật sự hiện ra, bao nhiêu phần trăm chỉ là lời đồn truyền tai từ quán nước đầu ngõ. Đất vẫn là đất đó, cày cuốc bao năm cũng chỉ chừng đó công, mà giá lại nhảy vọt lên gấp mấy lần chỉ vì một lời đồn chưa ai kiểm chứng.
Đọc tới đây, tôi hiểu ra dân trong khu đó không hề đòi giá bậy. Họ đang tính đúng một thứ khác, không phải công đã đổ vào đất, mà cái miếng đất đó còn giúp ích được gì cho một tương lai chưa ai chắc có tới hay không.
Vậy là tôi có đủ hai cây thước trong tay. Một cây đo công đã đổ vào. Một cây đo cái người ta còn cần tới. Hai cây đó, ba mươi năm nay, chưa có món nào lọt qua được cả hai.
Tôi kéo tập hồ sơ lại, lật về đúng cái trang lúc nãy, và đem cái gốc khế của bà cụ ra đo thử.
Tính theo công đổ vào: ba chục năm tưới bón chăm bẵm, chắc cũng ra được một con số. Nhưng chẳng khung giá nào chịu tính cái công đó, nó không nằm trong bảng nào hết.
Tính theo cái người ta còn cần: gốc khế đó đâu có ai muốn mua, nhổ lên đem bán cũng chẳng ai trả một đồng, mà cả khu sắp giải tỏa thành đường cao tốc thì công dụng của nó bằng không tròn trĩnh.
Cả hai lối tính đều chạy trơn tru. Cả hai đều cho ra cùng một đáp số. Không đáng gì.
Tôi ngồi nhìn cái đáp số đó một lúc lâu.
Bà cụ đó chặn tôi giữa hẻm, tay run run níu lấy tay áo tôi. Bà không hỏi trên phường. Bà hỏi tôi.
Tôi đứng phắt dậy, như muốn đứng lên là gạt phăng được cái gì đó ra khỏi đầu. Đứng rồi mới thấy chẳng có chỗ nào để đi. Tôi ngồi phịch xuống lại.
Bà chủ quán ngó ra: “Ông làm gì mà đứng lên ngồi xuống hoài vậy?”
“Không có gì.”
Tôi cúi xuống trang giấy, đọc lại đúng mười mấy chữ của chính mình một lần nữa. Gốc to, khả năng trồng lâu năm, không tính vào khung bồi thường. Chữ tôi. Nét tôi. Ngày tháng tôi ghi.
Ba mươi năm cầm hồ sơ, tôi vẫn quen tìm cho ra một cái tên để khép vụ lại. Vụ này thì tang vật, nhân chứng, thủ phạm, đều nằm gọn trong đúng một dòng chữ, và cả ba đều là tôi.
Mà tra tới đó rồi tôi vẫn không biết phải viết gì khác vào chỗ đó. Đưa cho tôi làm lại buổi sáng hôm ấy, với đúng bộ đồ nghề tôi có trong tay hồi đó, và cả bộ đồ nghề tôi vừa mài thêm được sáng nay, tôi cũng chỉ viết ra được đúng bấy nhiêu chữ.
Hồ sơ đó tôi nộp xong là hết việc. Dự án sau ra sao, mấy chục hộ trong khu dọn đi đâu, cái xóm đó giờ còn hay mất, tôi không biết. Không thuộc phần việc của tôi.
Nhớ lại rõ nhất vẫn là lúc ông chủ thầu trả tiền công cho tôi ở đầu ngõ, tay quệt mồ hôi trán, cười xòa: “Cảm ơn ông nghen. Mà giờ có ảnh vệ tinh, có Google Earth chụp theo từng năm, thuê ông cho chắc vậy thôi, chứ không thì máy móc nó so ngày tháng ra hết à.”
Câu đó tôi nghe rồi bỏ qua ngay lúc đó, còn mải đếm tiền công bỏ túi. Mãi tới hôm nay, ngồi đúng quán trà đá này, câu đó mới quay lại vặn tôi một lần nữa, dai dẳng hơn hẳn lần đầu.
Khung giá nhà nước tôi vẫn tin là đứng ngoài mọi chuyện, khách quan, hóa ra cũng chẳng từ trên trời rơi xuống. Ai đó từng ngồi định ra đúng cái hệ số đó. Định dựa vào giá đất đã giao dịch ngoài thị trường. Tức là dựa vào đúng một đám người mua kẻ bán, đúng những cái đầu đang tính xem mình còn cần miếng đất đó tới đâu. Cái thước tôi tưởng đứng ngoài cuộc để cầm cân nảy mực, hóa ra bên trong cũng đúc từ đúng thứ tôi vừa lần ra từ mớ rau muống ế.
Tôi ngồi lặng, tay đặt trên mặt bàn gỗ, tự hỏi ngược lại chính mình đúng câu tôi vừa dùng để cân đo cả khu giải tỏa năm đó. Ba mươi năm cầm hồ sơ, cái tiền công nghề này mang lại, tính một đường, là công tôi bỏ ra, mắt căng ra soi từng viên gạch, sờ sờ ra đó, ai cần hay không cũng không đổi được gì. Nhưng tính đường khác, nó chỉ là cái người ta còn thấy cần tới tôi, y hệt câu ông chủ thầu buột miệng, cần vì máy móc chưa làm trọn, không phải vì tay nghề tôi có gì độc nhất.
Nếu tôi là một bao lúa nằm trong cái kho của thiên hạ, thì tới ngày máy móc làm trọn được việc của tôi, tôi có biến mất đâu. Tôi vẫn nằm nguyên đó, vẫn ba mươi năm kinh nghiệm, vẫn đúng một con người đó. Tôi chỉ tụt xuống đúng hạng bao rượu, cái bao mà mất đi cũng chẳng ai xót.
Làng ngày một ít việc thuê một ông già đi rà từng viên gạch. Tôi xin nghỉ sớm, vẫn tự nhủ là do chân tay đã mỏi. Có khi tôi nghỉ trước khi bị cho nghỉ.
Câu ông bà dặn hồi nãy lại vọng về, ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Ba mươi năm nay tôi vẫn đinh ninh mình là kẻ trồng cây, thiên hạ mới là người ăn quả, cần tới hồ sơ tôi lật ra thì mới có chuyện để tin. Hình như câu đó còn đọc được theo chiều ngược lại nữa.
Kẻ trồng cây mới là người phải nhớ ơn kẻ chịu ăn quả của mình. Hễ không còn ai thèm ăn, thì bao nhiêu mùa vun trồng cũng rụng xuống thối dưới gốc. Y như gánh táo ế bà bán rong phải đổ đi lúc trời tối.
Tay tôi siết nhẹ lại mép bàn gỗ, cạnh bàn hơi ram ráp dưới đầu ngón tay. Vẫn đúng cái bàn hồi nãy tôi cúi xuống ngó gầm, đúng cái bàn tôi từng ngồi tra xem nó có khai gian không, có thật hay chỉ là một bản chép vụng của cái Bàn Gốc tôi chưa từng với tới. Giờ tôi ngồi trước nó, hỏi một câu khác hẳn: nó đáng giá bao nhiêu. Cùng một mặt gỗ, cùng một bàn tay đặt lên, mà hai câu hỏi chẳng dính dáng gì tới nhau, cứ như tôi đang tra hỏi hai nhân chứng khác nhau trên cùng một cái ghế.
Tôi móc túi, lấy lại chỗ tiền thối mua táo ban nãy, đếm lại cho chắc, thói quen nghề nghiệp không bỏ được. Đếm xong, xếp gọn trong lòng bàn tay, tự dưng thấy nó nhẹ hều, nhẹ hơn hẳn cái cân nặng nó vẫn có trong đầu tôi suốt mấy chục năm nay.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.