Chương 6: Lì Xì Đo Được Bao Nhiêu Tình Thương
"Khi Tiền Trở Thành Cây Thước Đo Cho Cả Những Thứ Chưa Từng Được Đem Ra Chợ"
Hồ sơ số 6. Tang vật: một tờ giấy bạc nhặt lại, một cuốn sổ ghi chép cũ. Nhân chứng: Marx, Lukács. Tình trạng: đang điều tra.
Tôi đứng nhìn tờ giấy bạc nằm dưới đất.
Nó nằm đó. Tôi đứng đây.
Rồi cũng phải cúi xuống nhặt lên.
Đất dưới mấy đầu ngón đã nguội hẳn. Tờ giấy lạnh ngắt. Tôi phủi hai lần, ba lần, bụi vẫn còn bám dọc theo cái nếp nhàu cũ, thứ bụi mịn ăn vào thớ giấy không chịu ra.
Ngước lên, trời phía cuối bãi đất đã kéo một lớp mây xám tự lúc nào.
Tôi lùi mấy bước, nép vào sau tấm biển tôn cho đỡ lạnh. Tôn rung lên khe khẽ sau lưng, một góc long ra kêu lạch cạch từng chập.
Đứng đó một lúc tôi mới nhận ra mình vừa làm gì. Cả bãi đất trống hơ trống hoác, chỗ trú duy nhất là đúng cái tấm biển vẽ khu đô thị chưa từng có thật.
Tôi bật cười một tiếng khô khốc, không buồn nhếch mép.
Vừa để mất một tang vật ngoài ý muốn, tôi chợt nhớ tới một tang vật khác. Ngày xưa. Chính tay tôi cố tình không thu.
Một câu trả lời của Anh A. Tôi nghe rồi. Chưa từng ghi vào hồ sơ.
Bữa đó tôi đã dò la khắp xóm, đúng bài bản, hỏi cả hàng xóm chứ không riêng gì đương sự. Cả xóm rỉ tai nhau chuyện ông chủ tiệm tạp hóa sát vách, cùng cảnh nghèo như nhà Anh A, mà chẳng hề động tĩnh gì suốt cơn sốt đất. Nghe vậy, tôi đã đinh ninh sẵn trong đầu, chắc Anh A túng bấn, phải liều.
Tôi hỏi thẳng, không vòng vo.
“Chú em xuống tiền vì tin cái tin đồn đó, hay còn vì lý do nào khác?”
Đúng bài, tôi phải vặn lại nếu anh né. Nhưng Anh A không đáp thẳng câu tôi hỏi. Anh ngồi im một lúc, rồi kể lể ngược về nguyên một cái Tết.
“Anh có hay về quê ăn Tết không anh?”
Tôi bấm đầu bút, định ghi ngay dòng đầu. Rồi lại nhả ra.
“Nhà em năm nào cũng dồn hết về nhà bác cả. Đông lắm anh. Bày kín cả cái phản gỗ, thịt kho tàu nguyên một nồi bự, nhang trầm thắp từ chiều, khói với mùi thịt nó quyện vô nhau đặc quánh cả gian nhà.”
Anh A nói tới đó thì dừng, mắt nhìn ra cửa.
“Ngồi xuống chưa kịp gắp miếng nào, bà cô em hỏi liền. Không hỏi năm nay khỏe không, không hỏi làm ăn thế nào. Bả hỏi kiểu khác.”
“Hỏi sao?”
“Bả hỏi vầy nè anh.” Anh A hạ giọng xuống, nhại lại. “Ủa cháu, tháng này lương lậu được bao nhiêu rồi con?”
Ngón tay tôi cứ bấm nhả đầu bút, tách, tách, cây bút chưa từng chạm xuống trang giấy.
“Em cười trừ, buông đại một con số cho êm chuyện. Nói lố lên gần gấp đôi anh à. Nói xong em cũng biết là mình xạo, mà không nói vậy thì nói sao.”
“Rồi sao nữa.”
“Rồi tới màn lì xì.” Anh A nói, giọng vẫn đều đều. “Mấy đứa nhỏ nó xé toạc cái bao ngay tại chỗ luôn, đâu có đợi về nhà. Đứa nào rút được tờ bự thì cười toe khoe rùm beng. Đứa nào rút tờ lẻ thì mặt xịu xuống liền, ngó qua tay đứa bên cạnh.”
Anh A cầm ly nước lên, không uống, xoay xoay trong tay.
“Rồi có người trong họ buông một câu. Ổng nói với em, mà nói lớn cho cả mâm nghe. Ổng nói, biếu mẹ có nhiêu đó thôi à cháu.”
Tay tôi bất giác siết chặt quanh cây bút, dù đầu bút vẫn chưa hề chạm giấy.
“Cả mâm cười xòa.” Anh A nói. “Cười cái là qua chuyện khác liền. Mà em để ý, lúc đó không có ai nhìn thẳng vô mặt má em hết. Không một ai.”
“Còn chú em?”
“Em đang nhai dở miếng thịt.” Anh dừng lâu hơn mấy lần trước. “Miếng đó ngon thiệt anh, mỡ nó béo, kho đúng kiểu nhà quê. Vậy mà nuốt hoài không trôi. Nó cứ nghẹn ngay cổ.”
Cổ họng tôi cũng nghẹn theo, như vừa nuốt phải một viên sỏi.
“Má em ngồi kế bên.” Anh A đặt ly nước xuống. “Bả không nói gì hết. Bả rót thêm cho em chén nước, rồi thôi.”
Anh A ngồi im một lúc, rồi kể tiếp qua chuyện khác, chuyện ra Tết ông anh nối khố rủ đi nhậu, hai anh em kéo ghế nhựa ngồi xổm húp bát bún riêu vỉa hè năm chục nghìn.
“Ổng đảo mắt nhìn quanh một vòng, rồi thả một câu.” Anh A nhại lại lần nữa, giọng nửa đùa nửa mỉa y hệt. “Làm ăn khấm khá dữ vậy mà giờ vẫn ngồi xổm vỉa hè thế này à mậy.”
“Chú em trả lời sao?”
“Em cười. Chớ trả lời sao anh.” Anh nhún vai. “Mà câu đó nó bám riết em cả năm trời, không nguôi được.”
Anh A dứt lời. Tay tôi vẫn còn đặt trên đầu bút, ngón cái không bấm nữa. Cuốn sổ nguyên một trang trắng.
Hồi đó tôi gấp sổ lại, chốt gọn trong đầu, niềm tin vào tin đồn, thế là đủ.
Đứng sau tấm biển tôn bây giờ, trong đầu tôi lại lật đúng trang sổ trắng năm đó. Dòng đầu, chữ tôi viết rõ ràng, câu hỏi tôi hỏi anh. Ngay dưới, trống trơn.
Bà cô đó.
Bả hỏi lương thằng cháu trước khi hỏi nó có khỏe không. Trước cả khi nó kịp gắp miếng nào. Ngồi xuống chiếu, mở miệng ra, câu đầu tiên trong năm, và câu đó là bao nhiêu tiền.
Tôi xếp bả vào diện khai mở đầu. Rồi tới cái ông buông câu lì xì. Ông này còn nặng hơn, ông chọn nói lớn cho cả mâm nghe, chọn đúng lúc đông nhất, chọn đúng người không cãi lại được. Lời khai bổ sung, củng cố cho động cơ. Ông anh nối khố ở quán bún riêu, nhân chứng phụ, lời khai gián tiếp, đáng tin một phần.
Cả cái mâm cơm chiều ba mươi Tết đó, tôi dựng lại thành một hiện trường. Chia phe. Ai đáng trách, ai vô can.
Tôi dựng nhanh lắm. Ba mươi năm làm cái việc này, tôi dựng một hiện trường như người ta gọt vỏ khoai.
Và tôi thấy đã. Thấy đã thiệt tình. Cuối cùng cũng có mặt người để mà đặt tên vào ô nghi can, sau cả một buổi chiều mò mẫm không tóm được ai.
Cái đã đó kéo được đúng chừng nãy.
Bà cô hỏi lương không phải vì ghét bỏ. Người buông câu kháy chuyện lì xì cũng chẳng cố tình chà đạp ai. Họ chỉ đơn giản không còn cách nào khác để mà thấy. Cái tình thương thật, cái công thật một người bỏ ra, đời nào cân đo được bằng mắt thường, nhất là giữa một mâm cỗ đông đúc, gặp nhau đúng một bận mỗi năm. Chỉ có mỗi con số tiền là còn đưa ra được, cầm nắm được, so được ngay tại chỗ. Người ta đành cầm tạm con số đó, coi nó là cái thấy được duy nhất của một thứ vốn dĩ không thấy được.
Cáo trạng tôi vừa dựng, tôi phải tự dỡ xuống bằng chính tay mình. Không còn ai đứng lại trong ô nghi can hết.
Gió lặng hẳn một nhịp.
Chén nước má anh lặng lẽ rót thêm, ngay giữa lúc cả mâm đang xoáy vào chuyện lương lậu, chuyện lì xì. Không ai buồn để ý. Ngay cả tôi, ngồi nghe anh kể, cũng lướt qua chi tiết đó như một câu đệm vô thưởng vô phạt.
Chính chén nước đó mới là thứ đáng ghi vào sổ. Nó không hề vắng mặt. Nó chỉ bị cái ồn ào của những con số lấn át, tới mức cả người kể lẫn người nghe đều không buồn dừng lại.
Cái đáng sợ không nằm ở chỗ họ hàng nhà Anh A đo nhau bằng tiền đúng một lần năm đó rồi thôi. Nó nằm ở chỗ, một khi con mắt đã quen nhìn ra con số, nó sẽ lười nhìn ra bất cứ thứ gì khác, kể cả khi thứ đó đang ngồi lặng lẽ ngay bên cạnh, tay vẫn rót nước đều đặn.
Tôi vớ ngay lấy một khả năng nhẹ nhõm hơn để bấu víu. Phong bao đỏ lì xì đâu phải cái túi vô tri. Người ta gói tiền vào đó, dán chữ phúc, kèm câu chúc, cốt để tách nó ra khỏi đống tiền chợ búa vẫn cầm hằng ngày.
Nhưng đám trẻ con đã xé toạc cái bao đó ngay trước mặt người lớn, chẳng đợi về nhà mới mở. Tờ bự thì cười toe. Tờ lẻ thì mặt xịu xuống ngay tại chỗ.
Cái giấy đỏ, câu chúc, chữ phúc, không cản nổi một đứa nhỏ so đo trong đúng ba giây.
Tiền không cần thắng bằng lý lẽ. Nó chỉ cần nằm im chờ đó, đúng lúc không ai kịp phòng bị.
Tôi lật tiếp trong đầu sang lần gặp thứ hai với Anh A.
Bữa đó giá đã chớm rớt được mấy tuần. Anh tới, không mang giấy tờ gì hết, ngồi xuống ghế thoải mái hơn hẳn lần trước, còn cười được.
“Anh khỏi lo, em coi trên nhóm rồi. Người ta nói đợt này chỉnh giá tạm thôi anh. Chỉnh cho nó bớt nóng, chớ hạ tầng vẫn làm mà.”
“Chú em tính sao?”
“Em cứ ôm. Ôm thêm ít bữa nữa nó lên lại.” Anh nói, chắc như đinh đóng cột. “Cắt lỗ bây giờ là dại nhất anh. Mấy người bán tháo lúc này lát nữa khóc ròng cho coi.”
“Ngân hàng chú em trả tới đâu rồi?”
“Vẫn trả đều.” Anh gạt tay. “Có mấy đồng lãi, ăn thua gì anh.”
Tôi ghi được đúng một dòng vô thưởng vô phạt vào sổ hôm đó, rồi thôi.
Nhớ tới đây tôi mới thấy ớn. Cái giọng anh kể lại giai đoạn đó cho tôi nghe, sau này, lúc mọi thứ đã đổ hết rồi, vẫn y hệt cái giọng anh nói bữa đó. Vẫn người ta nói. Vẫn chỉnh giá tạm. Anh thuật lại nguyên xi, không chêm nổi một câu nào kiểu hồi đó em ngu, hồi đó em không biết.
Cứ như phần con người đứng ở khúc đó vẫn còn nguyên trong anh, chưa từng đi tiếp.
Gió tạt một đợt, tôn sau lưng rung lên một tràng. Tôi kéo cổ áo lại.
Có một bàn tay run run níu lấy tay áo tôi. Một con hẻm khác. Một vụ khác. Mười mấy năm trước.
Ba chục năm nay, chú tính nó đáng bao nhiêu một mét vuông.
Trưa nay ngồi quán trà đá, tôi đã lôi cái gốc khế đó ra đo lại bằng đủ cả hai cây thước tôi có trong tay. Cả hai đều chạy trơn tru. Cả hai đều cho ra cùng một đáp số.
Lúc đó tôi cứ nghĩ mình áy náy vì đã cầm nhầm thước.
Không phải. Không phải tôi cầm nhầm thước.
Là không có cây thước nào cho cái gốc khế đó hết. Không ai đúc ra nổi. Mà cái gì không có thước đo thì trong hồ sơ mặc định ghi bằng không, chớ hồ sơ đâu có chừa ra một ô trống nào cho mấy thứ đo không được.
Ba mươi năm cầm hồ sơ, tôi chỉ ghi vào đó được đúng cái gì đo được. Bao nhiêu mét tường. Bao nhiêu năm tuổi cây. Ngày cấp phép. Ngày quy hoạch. Còn cái ông cụ nào đó trồng cái cây đó hồi mới cưới vợ, thì trong hồ sơ của tôi ông không có mặt, không phải vì tôi ghét ông, mà vì tôi không có ô nào để mà ghi ông vào.
Tôi nhận ra tay mình đang siết chặt tờ giấy bạc lúc nào không hay. Tôi buông lỏng ra, vuốt lại cho phẳng.
Đứng đây rảnh rỗi, tôi làm luôn cái việc ba mươi năm nay tôi vẫn làm với thiên hạ. Tôi mở một hồ sơ, nghi can là tôi, và chạy đủ ba mục như mọi bận.
Động cơ. Có. Vụ Anh A dằng dai gần một năm, tôi muốn khép cho xong.
Thời điểm. Có. Vụ đó kéo gần một năm, tiền công tính theo bữa, mà tôi thì đã hết chỗ để đi tiếp.
Tang chứng. Tôi lục mãi không ra.
Cái buổi tôi ngồi với Cô C ở quán nước đầu xóm, dưới cái quạt treo tường quay tới quay lui đó, tôi rút tay lại đúng lúc. Tôi không gặng thêm một câu nào nữa. Chuyện đó thì đúng, không cãi được.
Nhưng tôi rút lại vì cái gì mới được.
Tôi ngồi thụp xuống, lưng dựa vào cây cọc, xoay cái câu hỏi đó tới lui trong đầu như xoay một cái ổ khóa hỏng.
Tôi rút lại vì hai bàn tay bà đan chặt tới trắng bệch đầu ngón, vì cái giọng đứt quãng không thành câu, vì bà bụm miệng lại khi nhắc tới đứa con bệnh. Tất cả những thứ đó đều hiện ra trước mắt tôi, rõ mồn một, ngay tại chỗ, đủ để một thằng ba mươi năm hành nghề đọc ra ngay là thật hay diễn.
Nói gọn lại, tôi rút tay vì cái hoảng loạn của bà đo được.
Còn thứ lặng lẽ như chén nước má Anh A rót, thứ không kêu một tiếng nào, không hiện lên mặt ai hết, thì suốt ba mươi năm tôi có bao giờ dừng lại lấy một lần đâu.
Cái con mắt tôi vẫn tự hào là tinh nhất trong nghề, hóa ra cũng đã teo đi một chỗ nào đó tự bao giờ. Nó tinh đúng ở chỗ nào có cái để mà đo. Chỗ nào không đo được, nó mù trắng.
Tôi ngồi tra chính mình mà không moi ra được một lời khai nào cho tử tế.
Ba mươi năm vặn được sự thật ra khỏi miệng người khác. Vặn ai cũng ra. Vặn tới người thứ mười mấy trong cái xóm mất lư đồng cũng ra.
Vặn mình thì không ra.
Năm ngón tay tôi, không đợi cái đầu cho phép, siết lại quanh tờ giấy bạc.
Mép giấy, đúng chỗ đã nhàu sẵn từ lâu, rách theo một tiếng xoẹt khẽ.
Tiếng đó kéo tôi bật ra khỏi dòng nghĩ.
Tôi nhìn xuống bàn tay mình. Như thể cái tay vừa rồi không phải của mình.
Ba mươi năm tôi vẫn dặn lòng phải giữ hiện trường cho sạch. Đi đâu cũng dặn người ta đừng đụng vào, đừng xê dịch, để nguyên đó cho tôi. Giờ tôi vừa tự tay làm hư một tang vật bằng chính bàn tay mình.
Tôi vuốt lại tờ giấy, cố là phẳng nếp gấp mới, ngón tay khẽ run, như đang chữa cháy một hiện trường chính mình vừa phá, dù chẳng còn ai để mà trình báo.
Rồi mới tới cái ngượng kia. Cái ngượng quen thuộc mỗi lần để lộ ra quá đà trước người ngoài.
Ở đây chẳng có ai ngoài bãi đất hoang với mấy ngọn cỏ. Tôi vẫn ngượng.
Cần một cái gì đó cho tay bận rộn trở lại, để đầu thôi vặn hỏi chính mình.
Nhưng đầu óc tôi đã trôi đi mất, về đúng con ngõ nhỏ dẫn vào xóm cũ, về cái quầy tạp hóa bé tí ngay đầu ngõ, nơi ông hàng xóm vẫn ngồi mỗi tối, đèn dây tóc vàng vọt treo giữa quán.
Tôi sực nhớ ra, đúng đợt dò la khắp xóm năm đó, tôi đã đứng ngay trước cái quầy này, hỏi ông một câu.
Ông đã trả lời tôi rồi. Không phải bây giờ mới cần hỏi.
Chỉ là câu trả lời đó rơi tõm vào đúng chỗ tôi không buồn nghe, y hệt cái chén nước của má Anh A.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.