Chương 8: Củ Hoa Không Ai Định Giao
"Khi Vật Mua Bán Chỉ Còn Là Cái Cớ Để Cá Cược Chênh Lệch Giá"
Hồ sơ số 8. Tang vật: một nhánh cây khô, một đàn chim chao cánh. Nhân chứng: Marx, Hayek, Goldgar, Garber. Tình trạng: đang điều tra.
Tôi vẫn ngồi nguyên tại chỗ. Trời tiếp tục ngả, tối hơn hẳn lúc nãy. Cỏ dại quanh chân đã ngả sang màu xám xịt, chỉ còn lờ mờ nhận ra hình dáng.
Cái nhận ra vừa rồi vẫn còn đọng lại, nặng trịch trong ngực. Không có hung thủ nào để mà gọi tên.
Tôi ngồi đó, thấy mình cô độc lạ, như thể chỉ riêng mình từng vấp phải đúng cái cảnh trớ trêu này. Tiền mất thật, người thật, mà chẳng có nổi một cái tên để đổ lỗi.
Có ai từng đứng trước đúng cảnh này chưa, ở một nơi khác, một thời khác, để mình đỡ thấy đơn độc.
Tay tôi tự động rút điện thoại ra khỏi túi, bấm bấm vô định trên mặt kính, không nhắm tìm gì cụ thể, chỉ cốt cho ngón tay có việc gì đó để làm. Ánh sáng màn hình lóe lên giữa bóng tối đang phủ xuống, hắt lên mặt tôi một thứ ánh xanh nhợt.
Ngón tay gõ được đúng ba chữ, đất mất giá, thanh gợi ý đã nhảy ra sẵn, xếp thành một hàng. Đất mất giá phải làm sao. Đất mất giá có lấy lại được không. Và ngay dòng thứ ba, một cụm chẳng ăn nhập gì với mấy chữ tôi vừa gõ.
Khủng hoảng hoa tulip Hà Lan.
Tôi chưa hề gõ chữ tulip. Có một cỗ máy nào đó gộp lại không biết bao nhiêu người từng ngồi đúng vào tâm trạng này trước tôi, gõ những chữ gần giống thế này, rồi tự dò ra được câu chuyện đó, đã đoán trước hộ tôi một câu hỏi tôi còn chưa kịp nghĩ ra.
Tôi bấm vào, đầu đã sẵn một hình dung mang máng từ hồi còn đi học. Cả một nước Hà Lan hóa điên vì mấy củ hoa, giá bị đẩy lên gấp hai chục lần chỉ trong vài tháng, thợ dệt bỏ khung cửi đi ôm hoa đầu cơ, có người vỡ nợ nhảy xuống kênh tự vẫn. Một câu chuyện về sự điên rồ tập thể, quen thuộc đến sởn gai ốc, như đang kể lại đúng chuyện Hoài Đức, chỉ đổi vai chính từ đất sang hoa.
Bài viết dẫn thêm, có một bà bên Tây lục tung văn khố cũ, sổ sách công chứng, biên bản tòa án, mất mấy năm trời, mà chẳng tìm ra nổi một vụ nhảy kênh tự vẫn nào, một anh thợ dệt bỏ khung cửi nào. Số người thực sự nhúng tay vào giao dịch chỉ đếm được vài trăm, toàn thương gia khá giả.
Cái màn bi kịch tôi vừa mường tượng, hóa ra chỉ là trò thêu dệt của đời sau. Tôi đọc mà không buồn ngạc nhiên.
Đọc xong, một ý nghĩ tự trồi lên, không buồn cả cười. Sao hồi đó mình không nghĩ tới việc trồng hành thay vì lê la dò la đất cát, biết đâu giờ đã giàu hơn.
Kéo xuống thêm một đoạn, một ông khác kể thêm một chi tiết đắt hơn hẳn. Cánh buôn hoa dạo đó hay ký giấy giao ước, hẹn giao một củ hoa vào một ngày, ở một mức giá đã chốt từ trước. Nhưng tới đúng cái ngày đó, chẳng bên nào thực bụng định giao củ hoa nào cả. Hai bên chỉ ngồi đối diện, tính cho nhau khoản chênh lệch giữa giá ghi trên giấy và giá chợ đen lúc đó. Củ hoa chẳng cần đổi chủ, thậm chí chẳng cần tồn tại trên đời.
Ngón tay tôi dừng hẳn trên màn hình.
Xấp giấy tờ sang tên miếng đất Anh A từng ký, cái xấp anh ôm khư khư trong cặp da tróc, ngón cái đè lên góc trên cùng không chịu buông. Nó có khác gì mấy tờ giao ước kia không, hay cũng chỉ là một cách khác để cá cược chênh lệch, còn miếng đất chỉ đứng đó làm cái cớ.
Đọc gần hết bài, một khung gợi ý hiện ra cuối trang, đóng sẵn một tiêu đề giật gân. Tulip 1637 và LUNA 2022, cùng một kịch bản. Tôi bấm vào.
LUNA là một đồng tiền số. Hàng triệu người góp vốn, tổng giá trị lên tới hàng chục tỷ đô la, rồi trong đúng một cuối tuần bốc hơi sạch. Không một mẫu ruộng, một tấn hàng nào chống lưng.
Chữ nghĩa giải thích cơ chế trôi qua mắt tôi, lạ hoắc, không đọng lại được mấy. Cái đọng lại được thì tôi đã biết từ hồi trưa, ngồi nghe một thằng nhóc kể chuyện thuốc lá trong trại tù.
Bài báo kết luận gọn gàng, mọi thứ khớp răm rắp, hoa và LUNA cùng một khuôn, cách nhau đúng bốn trăm năm. Tôi khẽ nhếch mép, thấy cái gọn gàng đó hơi đáng ngờ. Đời thật hiếm khi chịu khớp răm rắp như vậy.
Tôi tắt màn hình, để mặc bóng tối nuốt lại lấy tay mình.
Không có sự an ủi nào cả. Cứ tưởng tìm ra người đồng cảnh thì nhẹ lòng hơn, hóa ra nặng hơn. Không phải một lần. Cách nhau bốn trăm năm, đổi từ củ hoa sang mảnh đất sang một dòng chữ trong máy, mà đúng một cái tuồng lặp lại không sai một nhịp, chỉ đổi bộ cánh.
Bài báo xếp hoa với LUNA cạnh nhau. Đầu tôi tự chen thêm một cái tên thứ ba vào giữa, bãi đất tôi đang ngồi, không cưỡng lại được. Ba cái xếp cạnh nhau, một điều phơi rõ ra, không cần tôi cố sắp.
Đất Hoài Đức, vật chất vẫn còn đó, sổ đỏ vẫn đóng dấu chói lọi, chỉ mất mỗi cái công năng dùng được. Giấy giao ước hoa, vật chất còn chẳng cần tồn tại mà giao dịch vẫn chạy trơn tru, chỉ còn cái tên gọi suông trên giấy. Còn LUNA, vật chất vắng mặt tuyệt đối ngay từ lúc mới sinh ra, chưa từng có lấy một viên gạch nào đứng sau.
Mỗi lần một lớp mỏng đi. Mà lần nào cũng có người tin.
Tôi ngồi thừ với cái ý đó một lúc, và một buổi khác chen ngang vào, buổi tôi vẫn cố không nhớ tới.
Bữa đó tôi mới gặp Cô C xong được mấy hôm. Anh A tới, không hẹn trước, đứng ngay cửa, không ngồi.
“Sao rồi anh? Bả khai gì chưa anh?”
“Tôi hỏi cả buổi rồi chú em. Bà ta không biết trước gì hết.”
“Anh tin bả hả?”
“Tôi coi bà ta vay ngân hàng, coi ngày trả lãi. Bà ta ôm miếng đó một năm rưỡi, trả lãi đủ một năm rưỡi. Ai biết trước mà còn ngồi trả lãi chừng đó.”
Anh A đứng im một lúc, rồi bật ra một tiếng cười, cái kiểu cười không có chút gì buồn cười trong đó.
“Vậy là không có ai hết.”
“Chú em ngồi xuống đã.”
Anh không ngồi.
“Em ngu thiệt anh à.” Giọng anh nghe khác hẳn cái lần anh nói câu tương tự trong phòng này mấy tháng trước. Lần đó anh nói nhỏ, nói xong còn ngước lên chờ tôi gạt đi. Lần này anh nói lớn, nói như đang chửi một thằng nào đó không có mặt ở đây. “Ngu chớ còn gì nữa. Người ta rao cái gì em cũng tin. Em còn đi rủ người ta hùn nữa chớ, anh biết không? Em đi rủ! Em còn tưởng em khôn hơn thiên hạ!”
“Chú em…”
“Mà anh biết cái gì làm em tức nhất không anh?” Anh chỉ tay ra ngoài cửa, về hướng con ngõ. “Ông tạp hóa đầu ngõ đó. Ổng cản em. Ổng khuyên em an phận. Giờ ổng ngồi đó bán từng gói mì, đất ổng mua ở được, ổng khỏe re.”
“Ổng cũng đâu có giàu lên gì đâu chú em.”
“Nhưng ổng không mất!” Anh nói, giọng vỡ ra. “Mà anh biết cái gì kỳ không anh. Ổng có biết trước gì đâu! Anh hỏi ổng thử coi, ổng có biết cái ngày đất rớt không? Ổng không biết gì hết trơn! Ổng đâu có giỏi hơn em! Ổng chỉ hên thôi!”
Tôi ngồi im.
Tôi đã đứng trước cái quầy đó rồi. Tôi đã nghe chính miệng ông nói, tui có nghĩ tới chuyện đó đâu mà sợ, tui đâu có định bán mà tính.
Anh nói trúng. Ông không giỏi hơn anh. Ông thắng mà chẳng hề bước vào cuộc chơi.
“Anh có gặp ổng chưa anh?”
“Có.” Tôi đáp. “Tôi có ghé hỏi vài câu.”
“Rồi ổng nói sao? Ổng có nói ổng biết trước không?”
Tôi mở miệng, rồi ngậm lại.
Nếu tôi xác nhận, thì cái thua của anh cũng chẳng còn nghĩa lý gì nữa. Không có bài học nào để rút, không có cái sai nào để sửa cho lần sau. Chỉ còn lại đúng một chuyện, là anh đã đứng sai chỗ vào sai lúc, và người kia đứng đúng chỗ mà chẳng cần biết mình đang đứng đâu.
“Cái đó không thuộc phần việc của tôi, chú em.”
Câu đó ra khỏi miệng trơn tru, không vấp một nhịp nào. Ba mươi năm tôi vẫn đáp đúng bấy nhiêu chữ, cho cả trăm người, và lần nào cũng đúng.
Anh nhìn tôi một lúc. Tôi không rõ anh có đọc ra được cái gì trong cái câu tôi vừa nói không.
“Dạ.”
“Chú em uống miếng nước đi.”
Anh không uống. Anh đứng thêm một lúc nữa, hơi thở hạ dần xuống, rồi quay ra cửa.
“Dạ thôi em về anh. Anh cứ làm tiếp giùm em.”
Đó là lần cuối cùng tôi nghe anh nói lớn tiếng.
Ngồi giữa bãi đất bây giờ, tôi mới hiểu vì sao lúc đó anh phải hét lên như vậy. Cơn giận đó không có chỗ nào để mà đổ. Đổ vào Cô C thì tôi vừa chặn mất. Đổ vào chính mình thì đổ hoài cũng không hết. Nên nó phải tràn ra, và nó tràn trúng đúng một người chẳng làm gì nên tội, người duy nhất từng ngồi cản anh lại.
Tôi định nghĩ tiếp một ý gì đó nữa. Một cơn gió lạnh tạt ngang, đủ mạnh để tôi rùng mình một cái.
Cái ý đó bay mất.
Tôi ngồi thừ ra một lúc, cố lần lại, nhưng không nhớ nổi mình vừa định nghĩ thêm gì. Ba mươi năm hành nghề, tôi hiếm khi để mất mạch giữa chừng một vụ án, dù mệt tới cỡ nào.
Giờ ngồi đây, thấy chính cái đầu này cũng đang rệu dần, không khác gì cái nền tôi vẫn đứng bấy lâu.
Đành bỏ, đi tiếp qua phần còn lại.
Tôi lôi hồ sơ ra rà lại, không phải hồ sơ giấy, chỉ là ba cái tên trong đầu. Hoa. Đất. LUNA.
Ba vụ, hỏi hai câu như mọi vụ khác. Cái gì đẩy nó lên. Cái gì buộc nó phải xuống.
Câu thứ nhất tôi chưa trả lời được. Câu thứ hai thì tôi vừa tính xong lúc nãy, ngay dưới đất này, bằng một khúc cây khô.
Cái chuỗi phình đó không chạy trên hư không. Nó cưỡi trên đúng cái đống mồ hôi hữu hạn kia. Muốn phình mãi thì phải có người tin mới, tiền thật mới, xuất hiện vô tận. Mà lấy đâu ra vô tận.
Nên nó phải có đáy. Cả ba vụ đều đã chạm đáy thật, không vụ nào thoát.
Vậy còn câu thứ nhất.
Nếu cái đáy đó là chắc chắn, đã có sách viết ra, ai đọc cũng biết, thì tại sao nó cứ lặp đi lặp lại, đổi hết vỏ này sang vỏ khác. Tại sao hoa trụ được từ tháng mười một sang tận tháng hai chứ không rớt ngay tháng mười một. Tại sao đất Hoài Đức trụ được cả chục năm, không phải một tháng.
Chiều nay tôi đã đứng ngay đây bấm đốt ngón tay đếm ngược, hỏi cho ra ai tung tin trước nhất, và tôi đã kết luận gọn ghẽ rằng không khí truyền tay không khí, rồi thở phào đứng dậy đi tiếp.
Cái kết luận đó chẳng trả lời được câu nào trong mấy câu vừa hỏi.
Tôi ngồi đó, không ra.
Một đàn chim sẻ bay ngang, gấp gáp khác thường, thành một khối đen đặc trên nền trời xám chì lúc này đã đặc quánh hẳn, tất tưởi kiếm một mái nhà, một tán cây rậm nào đó để trú.
Đột nhiên cả đàn ngoặt hướng cùng lúc, một nhịp, không con nào đâm vào con nào, như cả khối cùng thở chung một hơi.
Tôi thoáng nghĩ, chắc có một con đầu đàn ra hiệu cho cả bầy.
Ý nghĩ đó vừa nhen lên đã tắt, khi mắt tôi nhìn kỹ hơn một chút. Chẳng con nào tách ra dẫn đầu cả. Mỗi con chỉ bám theo đúng vài con bay sát cạnh mình mà đổi hướng theo, chẳng con nào cần biết đích đến ở đâu, chỉ cần biết mấy con bên cạnh vừa quẹo.
Cả đàn ngoặt cùng lúc mà không ai ra lệnh.
Chiều nay tôi đi tìm cái gốc, tìm không ra, rồi tưởng chuyện đó nghĩa là không có gì hết.
Không phải không có gì. Là không cần có gốc thì nó vẫn chạy được.
Cả xóm đổ xô đi mua đất, chẳng ai đứng ra hô mua đi. Mỗi người chỉ nhìn đúng người sát cạnh mình mà bắt chước, không cần biết cái ngày lên quận có thật hay không. Chuyện đó chạy được cả chục năm, vì mỗi người chỉ cần đúng một thứ để mà đi tiếp, là người bên cạnh vẫn còn đang đi.
Đàn chim ngoặt sát qua đầu tôi, gió từ cánh chim quạt qua mặt, lạnh và bất ngờ. Tôi giật mình né, cúi hẳn đầu xuống, hai tay theo phản xạ đưa lên che, một động tác không kịp qua đầu óc. Xong xuôi hết rồi tôi mới kịp nhận ra mình vừa làm gì.
Ngồi thẳng dậy rồi, ngực còn thắt lại một nhịp chưa kịp giãn, tôi tự hỏi cái phản xạ né này mình học được từ hồi nào.
Tay làm xong xuôi cả rồi, đầu óc mới lẽo đẽo bắt kịp phía sau. Không chỉ có mỗi tôi vừa né. Cả đàn chim lúc nãy cũng làm đúng một chuyện như vậy, hàng trăm con cùng lượn tránh nhau trong tích tắc mà không con nào đâm vào con nào.
Đây không phải một tật riêng của tôi. Nó ăn sâu hơn nhiều.
Từ thời hoang sơ, một bầy người hay thú mà cùng quay đầu chạy một hướng, thường là vì có nguy hiểm thật, hùm beo thật. Đứa nào đứng lại hỏi cho ra lẽ thì đứa đó chết trước. Cái bản năng thấy đồng loại đồng loạt làm gì thì làm theo, chắc là có thật, ăn sâu lắm. Chỉ là nó không mang sẵn nội dung gì cụ thể. Còn cái nội dung, giá đang lên, kẻo lỡ mất phần, thì do cái trò tiền bạc thời nay nhét vào sau, mượn tay một bản năng cổ xưa hơn tiền bạc rất nhiều.
Tôi ngồi kéo cái ý đó ra xa thêm mấy ngàn năm nữa, thấy dễ chịu hẳn.
Xa tới cỡ đó thì chẳng còn ai có mặt mũi gì nữa. Chỉ còn bầy với đàn, chạy tới chạy lui trên một cánh đồng không có tên ai.
Tôi nhìn xuống hai bàn tay vừa che mặt lúc nãy. Chúng vẫn còn hơi run, dù đàn chim đã bay khuất từ lâu.
Cái bản năng vừa khiến tôi giật mình né đàn chim, cũng chính là cái đã đẩy Anh A, đẩy mụ B, đẩy Cô C vào đúng cái vòng xoay đó.
Tôi không đứng ngoài cơ chế đó. Chưa từng đứng ngoài. Tôi cũng chỉ là một con vật biết né theo bầy, như bất kỳ ai khác, chỉ là lần này né hụt một cách vô hại, không mất một đồng nào.
Ba mươi năm nay tôi vẫn ngồi phán ai đúng ai sai, luôn đinh ninh mình đứng ở một chỗ khác, cao hơn một chút, ngoài cuộc một chút. Cái chỗ đó chưa từng có thật.
Màn hình điện thoại trong tay tôi tự tối sầm lại, pin đã cạn từ lúc nào.
Tôi ráp hết mọi thứ vừa nghĩ lại thành một đường cong trọn vẹn. Cái bản năng bầy đàn đẩy nó lên, mồ hôi hữu hạn kéo nó xuống, khớp vào nhau không thừa không thiếu, gọn gàng không kém gì cái bài báo mạng tôi vừa chê là đáng ngờ.
Tôi hiểu hết rồi. Hiểu từ đầu tới cuối, không sót một khúc nào.
Mà ngồi đây, tôi vẫn không nhấc nổi người dậy.
Cái hiểu đó không trả lại cho Anh A một đồng nào. Không gỡ được cái cổ áo sờn của anh bữa cuối. Không làm cái đòn gánh của má anh bớt lõm đi một milimet nào.
Xa xa phía đường lớn, tấm biển tên xã vẫn đứng đó, sơn còn mới, chữ chưa kịp bám bụi. Cái tầng ở giữa người ta gạch đi trong một buổi họp nào đó, còn đất thì vẫn nằm y nguyên, không thiếu một tấc. Tôi ngồi giữa một chỗ vừa mất tên, cầm một vụ án không có tên nào để khép.
Đúng lúc đó, giọt mưa đầu tiên rơi xuống, nặng hẳn, ngay giữa gáy tôi, lạnh buốt.
Rồi giọt thứ hai, thứ ba, dồn dập hẳn lên chỉ trong vài nhịp thở, cho tới khi trời đổ hẳn xuống một trận mưa như trút, không còn đếm được giọt nào riêng lẻ nữa.
Đàn chim đã đoán đúng. Cơn mưa đó có thật.
Trong túi áo trong, sát ngực, có một cuốn sổ giấy.
Tôi vẫn ngồi nguyên đó, để mặc mưa tạt ướt hết vai áo lẫn mặt, không buồn đưa tay lên che lần nữa.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.