Chương 1: Cái Chân Bàn Không Biết Nói Dối
"Vật Chất Hay Ý Thức, Cái Nào Mới Là Thực Tại Gốc?"
Hồ sơ số 1. Tang vật: một cơn đau ở chân. Nhân chứng: Democritus, Plato. Tình trạng: đang điều tra.
Người đời hay ví công cốc là công dã tràng. Suốt ngày nó xe cát biển Đông. Con sóng nào đánh vào cũng cuốn trôi sạch. Vậy mà hôm sau con dã tràng lại ra biển. Nó lại xe. Cứ như chưa từng có chuyện gì xảy ra.
Tôi là một gã thám tử làng đã về hưu non. Tay chân rảnh rỗi nên tôi đâm ra sinh tật. Tật đó khiến tôi hay tạt ra đúng quán trà đá này mỗi trưa, ngồi đúng góc vắng quen thuộc, trên chiếc ghế nhựa đỏ đã chai lỳ, lõm xuống vừa khít hình dáng mình. Bà chủ quán đôi khi còn nói đùa, cái ghế ấy chẳng biết tự bao giờ đã thôi là của bà, dù bà chưa từng nhận lại một đồng nào.
Tật đó cũng khiến tôi hay lôi lại những vụ án chẳng còn ai buồn nhớ tên, có vụ đã ngủ yên hàng ngàn năm trước. Vụ đang nằm trên tay tôi lúc này không để lại xác chết, cũng chẳng có dấu vân tay, nghe qua tưởng chuyện viển vông cho vui. Nhưng ba mươi năm cầm hồ sơ dạy tôi một chuyện: phán quyết nào của tôi cũng phải dựa đúng vào một thứ, là mắt tôi thấy gì, tay tôi sờ thấy gì, tai tôi nghe được gì. Vụ này hỏi thẳng vào đúng cái gốc đó, cái gì đang có thật ngoài kia, và cái gì chỉ là trò đầu óc tôi tự bịa ra rồi tin sái cổ. Hai thứ đó mà chưa phân xử nổi, khối phán quyết tôi đóng dấu cả đời có khi đều xây trên cát. Chỉ có độc một câu hỏi đã khiến người ta trằn trọc suốt hơn hai ngàn năm trăm năm mà chưa ai chịu khai thật: giữa vật chất và ý thức, rốt cuộc cái nào mới là chủ ngữ trong cuộc trò chuyện này.
Nhân chứng đầu tiên tôi lôi ra hỏi cung chết đã ngót hai ngàn năm trăm năm, nên tôi đành khai hộ luôn phần lý lịch. Ông tên Democritus, dân Abdera, cái xó chài lưới nhỏ đến mức nếu không sinh ra ông thì chắc chẳng ai buồn nhớ tên. Ông là đại diện đầu tiên tôi gọi ra cho phe vật chất, phe tin vật chất có trước, ý thức chỉ theo sau.
Hồ sơ ghi lại đúng câu người đời hay nhắc tới ông nhất: ngọt chỉ có bằng quy ước, đắng chỉ có bằng quy ước, nóng lạnh và màu sắc cũng vậy, trong sự thật chỉ có hạt và khoảng trống mà thôi. Cơ chế ông đưa ra là mỗi vật không ngừng bong ra những màng hạt mỏng, chúng bay qua không khí rồi va vào các hạt tạo nên hồn người, từ cú va đó mới sinh ra thứ ta gọi là nhìn thấy hay nếm thấy. Vị ngọt không nằm trong vật, nó chỉ sinh ra ở chỗ hạt va vào người. Nhưng hồ sơ còn ghi thêm một lời đối đáp gán ngược cho chính giác quan: chính nhờ chúng tôi mà lý trí mới có được mọi bằng chứng để tin, giờ lý trí quay ra phủ nhận chúng tôi thì lý trí cũng đang tự đạp đổ chính cái nền mình đứng.
Đọc tới đó tôi thử ngay vào thỏi mật ong đang cầm trên tay. Ngọt không nằm sẵn trong mật, nó chỉ sinh ra khi màng hạt từ thỏi mật va vào lưỡi tôi. Được, tôi đoán ngược nãy giờ.
Cái đắc ý đó chưa kịp lắng đã tự vấp phải chân mình. Nếu giác quan chỉ toàn cho quy ước chứ không cho sự thật, thì chính cái lý lẽ tôi vừa tin cũng chỉ lọt vào đầu tôi qua mắt qua tai, tức cũng qua đúng cái cửa ngõ tôi vừa kết tội là không đáng tin. Cái lý lẽ tôi vừa dùng để hạ nhân chứng, hóa ra cũng tự hạ luôn chính nó.
Tôi buông thỏi mật ong xuống bàn, tay quờ quanh mặt bàn như cần vớ lấy một chỗ bám khác trước khi cả cái lý vừa dựng sụp xuống theo. Bụng vẫn ưng cái lý chung nhưng đầu đã lấm tấm mồ hôi.
Tôi gật gù rồi khoan khoái xoay người đổi tư thế, cốt để đỡ phải nghĩ tiếp, ai dè đá trúng ngay cạnh chiếc bàn sắt. Một luồng đau nhói xộc lên tận óc. Tôi rụt chân lại, nghiến chặt hàm, rồi mừng như vớ được phao. Cái cạnh bàn đó cứ trơ trơ ở đó, không cần tôi công nhận nó mới tồn tại được. Cơn đau chỉ là hệ quả tôi lãnh đủ sau khi va vào một thứ đã có sẵn từ trước, bằng chứng lần này không phải lời khai lòng vòng qua tai qua mắt, nó xộc thẳng lên tận óc, cãi vào đâu được. Tôi bám chặt lấy nó, coi như vừa thoát được cái hố lúc trước.
Tôi xếp thỏi mật ong và cơn đau vào chung một ô trong đầu, nói gọn theo đúng cách hồ sơ vẫn chia: đây là hai tầng. Tầng thật chỉ có hạt và khoảng trống. Tầng quy ước chứa mọi thứ giác quan bày ra cho ta, ngọt đắng nóng lạnh màu sắc, kể cả chính cơn đau tôi vừa lãnh đủ. Thấy đã đủ bằng chứng, tôi đóng hồ sơ Democritus lại, xoa xoa chân, ghi thêm một điểm cho phe vật chất. Coi như xong, gọn gàng, sạch sẽ, đúng kiểu một vụ khép được trong một buổi.
Tay tôi vẫn còn xoa chỗ chân vừa đau, ngón cái miết đúng vào một vết chai cũ dưới đầu gối, vết chai có từ hồi còn đi làm, không nhớ rõ trận nào để lại. Cứ miết mãi một chỗ, đầu óc tự dưng trôi khỏi cái bàn trà đá, khỏi luôn cả Democritus vừa đóng hồ sơ, trôi thẳng về một hồ sơ khác, cũ hơn, da thịt hơn, tôi từng đóng dấu xong xuôi rồi cất kỹ, đến giờ vẫn chưa dám coi là đã xong thật.
Có một người đàn bà từng ngồi đúng cái ghế đối diện tôi bây giờ, tay vặn vặn quai túi xách, nhờ tôi bám theo chồng bà ta vài đêm. Đêm thứ hai trời đổ mưa lất phất, tôi đứng nép bên kia đường, mắt dán qua lớp kính quán cà phê đã mờ hơi nước, ánh đèn đường hắt vào thành một quầng vàng nhòe, đủ nặn ra một dáng người, không đủ nặn ra một khuôn mặt. Một bóng đàn ông khoác đúng chiếc áo gió xanh quen mắt của chồng bà, dắt tay một người đàn bà lạ, khuất dần sau cánh cửa khách sạn bên kia hàng cây. Tôi đứng đó thêm một lúc, nhìn cánh cửa đã khép, thấy trong lòng cái chắc chắn quen thuộc của một người vừa bắt tận tay, rồi mới quay về, ghi lại đúng những gì mắt vừa thấy.
Ba hôm sau bà gọi lại, giọng run, không phải để cảm ơn. Người tôi thấy đêm đó là em trai song sinh của chồng bà, đi công tác xa về ghé ngang nhà, mượn đại đúng cái áo gió treo sẵn ngoài cửa vì vali gửi lạc ở sân bay.
Ngồi nhớ lại, tôi thấy mình đang mắc đúng cái vòng Democritus vừa mắc khi nãy. Màng hạt từ cái bóng áo gió xanh đêm đó bay qua màn mưa, xuyên qua lớp kính mờ hơi nước, xuyên qua cả quầng đèn vàng nhòe nhoẹt, rồi mới va vào mắt tôi, một chuỗi va chạm chẳng khác gì màng hạt từ thỏi mật ong ban nãy. Giác quan báo sai, nhận lộn một cặp song sinh, đổ hết cho trời mưa, cho hơi nước, cho ánh đèn đường, được. Nhưng cái đứng ra kết tội giác quan là sai đêm đó, chính là cái đầu tôi ngồi đây bây giờ, cũng chỉ đang nhận tin từ một chuỗi giác quan khác không hơn không kém, nghe bà kể lại qua điện thoại, đọc đúng cái vé máy bay bà chìa ra làm bằng. Không có cửa nào để lý trí bước hẳn ra ngoài tất cả những va chạm đó mà đứng nhìn xuống, phân xử ai đúng ai sai. Cái tôi gọi là sự thật hôm sau, so với cái tôi gọi là nhận lầm đêm mưa, hóa ra cũng chỉ là một quy ước thắng thế hơn quy ước kia đúng một bậc, chứ chẳng cái nào đứng cao hơn cái nào thật sự.
Vụ đó lẽ ra đã khép lại đúng chỗ đó, một ca nhận nhầm người, thám tử già xin lỗi, trả lại một phần tiền công, đôi bên huề cả. Nhưng nửa năm sau bà gọi lại lần nữa, không phải để đòi thêm đồng nào. Bà kể, đêm hôm đó dù có nhận lầm áo gió, bà vẫn đinh ninh trong bụng chồng mình đang giấu bà một chuyện, một thứ linh tính không dựa vào cái gì cụ thể được, cứ đeo bám suốt cả năm trời, chẳng mắt nào thấy, tai nào nghe. Bà mang đúng cái buổi nhận lầm hôm đó ra làm cớ đối chất, chồng bà cuống lên chối lấy chối để, rồi tự khai tuột hết, có ngoại tình thật, chỉ khác người, khác chỗ, khác đúng cái đêm tôi từng đứng rình. Giác quan cụ thể của bà, đêm mưa đó, sai trơ trẽn. Nhưng cái phán đoán tổng, cái bà vẫn quen miệng gọi là giác quan thứ sáu, lại đúng chằn chặn.
Tôi ngồi lật lại hồ sơ cũ đó trong đầu, thấy bí thật sự, không phải bí kiểu vờ vịt để tự làm khó mình cho vui. Bảo giác quan bà đáng tin, phải giải thích nổi vì sao đúng đêm quan trọng nhất bà lại nhận lầm trớt quớt. Bảo giác quan bà không đáng tin, phải giải thích nổi vì sao cái bà tin suốt cả năm trời, chẳng bằng chứng nào đỡ lưng, cuối cùng lại đúng phóc. Hai câu trả lời đó không thể cùng đúng một lúc, mà cũng chẳng câu nào chịu sai hẳn để nhường chỗ cho câu kia.
Democritus đưa tôi tới đúng chỗ bí này, cả cái hồ sơ tôi vừa đóng lại ban nãy cũng bí theo, ghi điểm gì cho phe vật chất giờ nghĩ lại thấy non tay thật. Tôi không gấp hẳn cuộc, chỉ đổi hướng lục. Nghề cũ vẫn dạy tôi một điều, một lời khai đã bế tắc thì phải đem đối chất với một lời khai khác, càng chỏi nhau chan chát càng dễ lòi ra chỗ hở. Tôi lật sang tập hồ sơ đứng ở phe đối nghịch hẳn.
Nhân chứng kế tên Plato, sinh sau Democritus đâu bảy chục năm, ở Athens. Lời khai của ông nằm trong một cuốn sách viết khoảng năm 375 trước Công Nguyên, cuốn Cộng Hòa. Trong sách ông không tự xưng mà mượn miệng thầy mình là Socrates để kể chuyện. Ông thầy đó đã bị chính quyền Athens ép uống thuốc độc gần hai chục năm trước khi cuốn sách ra đời, chỉ vì tội dám hỏi những câu khiến kẻ cầm quyền khó chịu.
Ông là đại diện phe kia, không tin vật chất đứng đầu, mà tin có một tầng đứng trước vật chất, làm mẫu cho vật chất noi theo. Đời sau vẫn nhắc mãi cảnh ông thầy uống cạn chén thuốc độc, cả tòa án hôm đó nhao nhao kết tội, riêng ông thầy chỉ lặng lẽ uống cạn, không một lời oán trách. Chẳng trách Plato, qua miệng Socrates, kể một câu chuyện cay đắng về đám đông chỉ biết cúi đầu tôn thờ bóng tối: một lũ người bị xích trong hang từ nhỏ, chỉ thấy được bóng đổ trên vách, tưởng bóng là toàn bộ sự thật.
Tôi gác trang sổ, vặn lại chính lời khai đó, cứ như đang hỏi cung thật: được, cứ cho là bóng trên vách hang là giả, nhưng cái thứ đang đổ bóng ra, cái thật hơn bóng ấy, nó nằm ở đâu? Tôi đoán đại, chắc mỗi người giữ một Ý Niệm riêng về sự vật, tùy đầu óc mỗi người hình dung ra sao.
Hồ sơ trích đúng ví dụ ông đưa ra trong sách Cộng Hòa, cuốn thứ mười. Không phải hai tầng như bên Democritus, ở đây phải đủ ba. Có tới ba cái bàn trên đời. Cái thứ nhất do Thần làm, chỉ một cái duy nhất, gọi là Ý Niệm Bàn, chỉ một mà thôi, vì nếu có tới hai thì ắt phải sinh ra một Ý Niệm thứ ba đứng trên cả hai cái đó mới gọi được cả hai là bàn. Cái thứ hai do người thợ mộc đóng ra, nhìn theo Ý Niệm Bàn mà đóng, nhưng chỉ đóng được một cái bàn cụ thể chứ không phải chính Ý Niệm. Cái thứ ba do người họa sĩ vẽ ra, không còn nhìn theo Ý Niệm Bàn nữa, mà chỉ nhìn theo đúng cái bàn người thợ mộc đã đóng, rồi vẽ lại y như nó trông ra sao dưới một góc nhìn nhất định, không phải như bản chất nó vốn là gì. Bức tranh vì vậy cách sự thật đến hai bậc.
Đọc lại đúng câu chỉ một, tôi khựng lại. Nếu Ý Niệm là của riêng từng người thì phải có bao nhiêu người là có bấy nhiêu Ý Niệm Bàn. Nhưng hồ sơ ghi rành rành chỉ có đúng một. Đoán ban nãy của tôi sai bét, Ý Niệm không phải của riêng ai, nó chỉ có một và đứng trên hết thảy mọi cách nghĩ riêng của từng người.
Tôi ráp thử luôn vào cái bàn trước mặt. Bậc một phải có một cái Bàn Gốc, chỉ một, tôi không đóng được cũng không thấy được, chỉ nghĩ ra được bằng lý trí. Bậc hai là cái bàn gỗ tôi đang gõ tay lên đây, ai đó đã đóng nó theo Bàn Gốc, nhưng chắc chắn không trùng khít, vì gỗ có vân riêng và chân có cao thấp riêng. Bậc ba, tôi khựng lại lần nữa. Cái tôi đang thấy ngay lúc này qua mắt mình chính là bậc ba đó, không phải cái bàn gỗ thật, mà chỉ là cách nó trông ra sao dưới góc tôi đang ngồi, giờ này, ánh sáng này. Đổi chỗ ngồi hay đổi giờ thì cái tôi thấy chắc cũng đổi theo, dù cái bàn gỗ vẫn y nguyên.
Vậy ra tôi chưa từng chạm được tới bậc một. Ngay bậc hai tôi cũng chỉ nắm được qua bậc ba mà thôi, đúng như ông họa sĩ trong hồ sơ kia, chỉ vẽ theo cái trông ra sao chứ không theo cái nó vốn là gì. Ba mươi năm cầm hồ sơ tôi cứ đinh ninh cuối cùng thể nào cũng chạm được tới sự thật. Hóa ra có khi cả đời tôi chỉ đang vẽ tranh, mà còn chưa chắc đã vẽ giỏi.
Cơn đau chân vừa nãy, cái tôi vừa đinh ninh là bằng chứng chắc nịch nhất cho phe vật chất, hóa ra cũng chỉ là bậc ba đó mà thôi, đã qua hai lớp bóp méo trước khi tới được đầu tôi, không phải bằng chứng sạch sẽ gì cả. Cái tôi nhận được đâu phải cạnh bàn sắt, chỉ là tin báo về cạnh bàn sắt. Giờ tôi mới hiểu vì sao ban nãy mình vồ lấy nó nhanh đến vậy, mồ hôi vừa lấm tấm là đã vội tìm ngay một chỗ bám cứng, càng vội càng lộ ra cái chỗ bám đó chẳng cứng hơn cái vừa sụp là bao. Tay tôi siết chặt lấy cái ly trà đá, đá lạnh kêu lanh canh.
Đá lạnh vừa kêu, tôi lại thấy đúng cái quầng đèn vàng nhòe của đêm mưa năm nào hiện lên, lần này không phải trôi tuột trong ký ức, mà ngay trên mặt ly trà đá đang lấp lánh dưới nắng trưa. Vụ áo gió xanh, giờ nhìn bằng con mắt vừa học được từ Plato, ra một dáng khác hẳn khi nãy. Cái tôi thấy đêm đó qua lớp kính mờ, dưới quầng đèn nhòe, vốn dĩ đã là bậc ba ngay từ đầu, một ảnh chiếu cách xa người thật những hai lớp, sai không phải vì mắt tôi tệ, mà vì thứ đưa tới mắt tôi vốn đã cách sự thật hai bậc từ trước khi tôi kịp nhìn. Còn cái thứ bà thân chủ vẫn gọi là giác quan thứ sáu, thứ chẳng qua mắt qua tai nào cả mà vẫn đúng chằn chặn, tôi không dám chắc nó là gì, chỉ thấy nó rõ ràng không đứng cùng hàng với cái ảnh mờ qua kính tôi từng thấy đêm đó. Có khi nó gần với cái Ý Niệm Bàn kia hơn, một thứ không ai đóng ra được, chỉ nhận ra được bằng một lối nào đó khác hẳn mắt và tai, tôi không đủ sức đi xa hơn ý nghĩ đó. Chỉ biết cái bí của tôi vừa nãy, giờ không còn là bí nữa, mà đổi thành một câu hỏi khác hẳn, có khi còn khó nhằn hơn.
Đóng hồ sơ Plato lại, tôi ngả lưng ra sau, cố coi như đã xong việc, để mai này khỏi lăn tăn.
Nhưng đúng lúc lưng vừa ngả, cái chắc chắn của Democritus ban nãy bỗng dưng ập về, cãi cọ thẳng với cái ngờ vực Plato vừa gieo vào đầu. Chỉ một thoáng lơ đễnh đó thôi mà cái việc phải tự giữ thăng bằng trên chiếc ghế nhựa không tựa lưng bị tôi quên bẵng. Người tôi ngả quá đà, hụt trọng tâm, đổ huỵch xuống đất.
Tiếng huỵch khô khốc khiến vài người trong quán ngoái nhìn. Bà chủ quán từ trong quầy ngó ra, phá lên cười, buông đúng một câu chọc, hỏi tôi lại đấu lý với ai trong đầu mà té đến vậy. Một cơn ngượng dâng lên tận cổ, mặt tôi nóng bừng, chẳng biết giấu vào đâu.
Đứng dậy, phủi quần, tôi vẫn còn rối. Democritus đúng mà Plato cũng đúng, vậy thì cái quái gì đang diễn ra ở đây?
Tôi nhìn xuống đúng cái chân bàn vừa hại tôi hai lần trong một buổi trưa. Tôi đau nên cái bàn tồn tại, hay nó tồn tại nên làm tôi đau? Đúng cái câu hỏi chủ ngữ tôi tự đặt ra từ đầu, giờ mới thấy nó không hề là trò chơi chữ suông. Ba mươi năm nay tôi vẫn đinh ninh chiều nhân quả chỉ chạy một đường, vật có trước, tôi lãnh hậu quả sau, giờ ngồi giữa quán trà đá lại không dám chắc mình từng đứng đúng phía nào của mũi tên đó.
Ngồi lại xuống ghế, tôi lật sang tập hồ sơ kế tiếp trong chồng giấy, đúng vụ tôi định để dành xử sau. Cái tên Marx nằm chình ình ngay trong danh sách nhân chứng. Người đời vẫn hay nhắc ông như một nhà kinh tế. Ít ai biết ông từng có thời trẻ mê Democritus tới mức chọn hẳn ông làm đề tài luận án tiến sĩ, đối chiếu Democritus với một người khác cùng phái hạt, tên Epicurus. Cả hai nói y hệt nhau: vạn vật chỉ là hạt và khoảng trống. Nhưng luận án chỉ ra họ bất đồng sâu sắc đúng một chỗ. Democritus, càng về cuối đời, càng ngờ vực chính giác quan của mình, cho rằng nó chỉ cho biết theo quy ước chứ không cho biết sự thật. Epicurus thì ngược lại, một mực tin giác quan không hề nói dối, và chính vì tin được vào giác quan nên con người mới có chỗ đứng để tự quyết, không bị trói buộc hoàn toàn vào tất định.
Đọc tới đó, tôi ngồi thừ ra. Cái nghi ngại tôi vừa tưởng là phát kiến của riêng mình, mà tự mò ra được từ một thỏi mật ong tầm thường và một vụ áo gió nhận lầm, hóa ra một ông người Đức đã viết hẳn thành nguyên một luận án tiến sĩ từ gần hai trăm năm trước, đào tới tận gốc rễ của đúng chỗ tôi vừa chạm phải. Cùng một nghi ngại, ông đi được cả một luận án, tôi chỉ đi được đúng nửa câu rồi buông xuôi. Vậy cái phán quyết tôi định phân xử xong trưa nay, để còn yên tâm lật sang hồ sơ khác, coi bộ phải dẹp qua một bên.
Ấy vậy mà tôi vẫn không nỡ gấp hẳn tập hồ sơ lại. Ngả về Democritus, tôi có một cơn đau chân làm bằng chứng. Ngả về Plato, tôi có cả một Bàn Gốc và một bức tranh để giải thích luôn vì sao cơn đau đó chưa chắc đáng tin. Ngả bên nào cũng như tự lừa dối mình, mà bỏ cuộc nửa chừng thì cũng không xong. Một vụ vặt vãnh chẳng ai thuê, chẳng ai trả công, vậy mà tôi cứ đeo lấy nó như thể còn nợ nần gì đó. Có khác gì con dã tràng cứ đinh ninh phen này mình xe xong hết cát biển Đông.
Phải thu nhỏ nó lại thành thứ gì đó cụ thể hơn mới mong tìm ra được cái phán quyết sạch sẽ hơn. Tôi vừa toan lật sâu vào đúng tập hồ sơ Marx trước mặt để tìm thêm manh mối thì một tiếng rao hàng đều đều và có nhịp vọng tới ngay trước cửa quán, cắt ngang đúng lúc tôi đang gom ý.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.