Chương 3: Thước Đo Chung
"Tiền Là Lao Động Kết Tinh, Hay Chỉ Là Một Niềm Tin Đủ Đông Người?"
Hồ sơ số 3. Tang vật: một tờ giấy bạc. Nhân chứng: Marx, Menger. Tình trạng: đang điều tra.
Tôi đếm xong đám bạc lẻ, xếp gọn lại trong lòng bàn tay, đúng chỗ tiền thối mua táo ban nãy. Giữa đám đó có một tờ giấy bạc, nhàu một góc. Tôi nhặt riêng nó ra, cầm lên coi. Ba mươi năm cầm hồ sơ, đây là lần đầu tiên tôi thật sự dừng lại hỏi một câu tưởng chừng ngớ ngẩn: cái gì cho phép mảnh giấy này sai khiến được giờ giấc của một con người khác.
Tôi nhớ lại một buổi, chắc hồi đó tôi mới năm sáu tuổi. Má nhét vào tay tôi một tờ giấy bạc, giục: "Chạy ra tiệm cô Sáu đầu ngõ, mua giùm má gói muối, lẹ lên." Tôi chạy ù ra, đưa tờ giấy, cô Sáu đưa lại gói muối, còn thối vài đồng lẻ, dặn với theo: "Về đưa hết cho má nghen, đừng có ăn quà." Tôi chạy về, chẳng ai hỏi tôi tại sao tờ giấy đó đổi được gói muối, mà tôi cũng chẳng nghĩ tới chuyện phải hỏi.
Tôi nhìn lại tờ giấy đang cầm, cố vuốt phẳng chỗ nhàu. Nó mỏng, nhẹ, rách một góc là hỏng, chẳng khác gì tờ giấy gói xôi tôi vứt sọt rác hồi sáng. Vậy mà đúng miếng mỏng manh này, tôi có thể đổi lấy nguyên một buổi sáng bà bán rau ngồi ngoài chợ, đổi lấy cả một ngày công người thợ hồ trộn hồ dưới nắng. Tôi ngồi im, ngón tay vẫn miết đi miết lại đúng chỗ giấy nhàu, không lý giải nổi vì sao một thứ nhẹ tênh, xé phát là rách, lại có sức sai khiến cả ngày giờ của người khác.
Nghĩ hoài không ra, tôi móc điện thoại, gõ đại vài chữ, đại khái kiểu tại sao tờ tiền giấy lại có giá trị. Cả đống kết quả hiện ra, tôi bấm vào đọc thử một hai bài đầu, toàn chữ nghĩa xa lạ, cung tiền, lạm phát, chính sách tiền tệ, đọc không vô, định bỏ ngang cho rồi. Lướt thêm một đoạn, mắt mới dừng lại ở một cái tiêu đề nghe lạ hoắc: chuyện một hòn đảo dùng đá làm tiền. Tò mò, tôi bấm vào, mở nguyên một cái video, để loa ngoài cho đỡ phải cầm sát tai.
Giọng người dẫn chuyện kể về một hòn đảo tên Yap, đâu đó ngoài Thái Bình Dương. Dân trên đảo dùng đá làm tiền, không phải đá nhỏ, có phiến to hơn cả cái bàn, phải chục người khiêng mới nổi. Có bận một phiến đá quá khổ, chở về giữa đường thì thuyền chìm, đá rớt luôn xuống đáy biển, chẳng ai vớt lên được. Vậy mà cả làng vẫn coi phiến đá đó là của đúng người chủ, vẫn đem ra tính công, tính nợ bình thường, không thiếu một chút nào. Đá nằm dưới biển, chẳng ai rờ vào được, mà giá trị của nó vẫn nguyên, chỉ cần cả làng còn nhớ rõ nó là của ai.
Cái loa mở hơi to, lọt sang tận chỗ một chiếc xe máy vừa tấp vào đậu trước quán, còn nguyên thùng hàng vuông sau yên. Cậu tài xế mặc áo khoác đồng phục xanh lá, mũ bảo hiểm tháo ra để tạm dưới chân bàn, kêu một ly trà đá, tranh thủ ăn lẹ hộp cơm mang theo, chắc giữa hai chuyến chạy. Nghe tiếng video, cậu ngoái sang, rồi bưng luôn hộp cơm dịch qua ngồi ghé bàn tôi, mắt dán vào màn hình, không nói tiếng nào, cứ vậy coi ké tới hết đoạn.
Video hết, tôi tắt màn hình, buột miệng nói không nhắm vào ai: "Đá mà cũng làm tiền được, nghe lạ thiệt."
Cậu vẫn còn nhìn về phía cái màn hình vừa tắt, gật gù ra chiều tâm đắc: "Chuyện đó có tên riêng đó chú. Bên con học, gọi là tính khả mại. Nghĩa là cái nào càng dễ đem đi đổi lấy thứ khác, càng nhiều người chịu nhận, thì tự khắc nó có xu hướng trở thành tiền, không cần ai họp bàn quyết định gì hết."
"Thầy con có kể một vụ, hồi thế chiến hai, tù binh Anh bị nhốt trong trại của Đức..." Cậu mới kể tới đó, tôi đã chen ngang, hỏi cụt lủn theo đúng thói quen nghề cũ: "Trong tù thì làm gì có tiền bạc gì đâu?"
"Dạ đúng đó chú, trong trại làm gì có đồng bạc nào. Nhưng tù binh được tiếp tế thuốc lá, riết rồi thuốc lá tự nhiên hóa thành tiền luôn, ai cũng nhận."
"Ai ép đâu mà thành được?" Tôi hỏi tiếp, vẫn cái giọng dò hỏi không bỏ được.
"Không ai ép hết chú, tự nhiên nó vậy. Ai cũng biết thằng khác cần thuốc, nên ai cũng chịu nhận, riết thành thói quen chung, không ban bệ nào họp bàn quyết định cả."
Tôi gật gù, hỏi thêm câu nữa: "Rồi sau đó sao?"
Cậu ăn thêm miếng cơm, kể tiếp: "Có ông tù binh, ra trại rồi kể lại, đâu chừng ba tháng sau là hết thèm thuốc luôn, tự nhiên hết thèm, mà điếu thuốc vẫn nằm y nguyên đó, chẳng đổi khác gì. Cơn thèm hết, cả cái hệ thống tiền bạc trong trại coi như cũng tan theo."
Nghe hết chuyện đó, tôi ngồi im một lúc, đầu vẫn còn vướng đúng cái ý cậu nói lúc nãy, cứ dễ đổi, dễ được người ta chịu nhận là tự nhiên thành tiền được.
Cậu nhìn tôi, có vẻ muốn thử luôn lý thuyết của mình bằng một ví dụ thiệt: "Nhà chú nuôi heo, nhà hàng xóm nuôi gà. Giờ chú muốn ăn thịt gà, chú phải làm sao? Hay chú lấy con heo của chú đổi con gà của hàng xóm nhé?"
"Đâu có được," tôi than. "Con heo nhìn kiểu gì nó cũng to hơn mấy chục lần con gà, mà sức ăn nó nhiều hơn, nuôi tốn kém hơn, giờ đem đổi con gà thì tôi lỗ nặng à?"
Cậu gật gù, như đã lường trước đúng câu đó: "Vậy đổi một con heo lấy chục con gà cho cân giá."
"Vậy tôi ăn được một con, chín con còn lại nuôi vào đâu?" Tôi vặn lại. "Ngả hết ra ăn một lần thì thịt ôi trước khi ăn hết."
Cậu cười, càng nói càng khoái, ra chiều gã đang tự rơi đúng bẫy cậu giăng: "Hay chặt một cái chân heo, đổi lấy một con gà thôi?"
"Con heo thiếu chân sống sao nổi. Mà lỡ hàng xóm không thèm ăn chân, đòi ăn sườn, chẳng lẽ tôi lóc nguyên miếng sườn ra mà đổi?"
Cậu vỗ đùi, cười lớn, chỉ đũa vào miếng thịt kho trong hộp cơm: "Đó, chú thấy chưa! Heo với gà thua là phải rồi. Muốn thành tiền thường phải được ba cái: chia nhỏ được, để lâu không hư, với miếng nào cũng như miếng nấy. Con heo con gà kiểu chú vừa nói, cái nào cũng trớt quớt hết trơn. Chặt nhỏ ra là hư liền, mà để nguyên con thì mỗi con mỗi khác, con mập con ốm, đâu có đồng nhất được. Thuốc lá trong trại tù đúng y chang ba cái đó luôn, thảo nào thành tiền ngon ơ. Còn cái đảo đá kỳ đó lại đi đường khác, có chia nhỏ được đâu, mỗi hòn một lai lịch riêng, chẳng hòn nào giống hòn nào, vậy mà vẫn thành tiền được, chắc nhờ cả làng cùng nhớ, cùng chịu, không cần giống ba cái tiêu chí kia."
Nói tới đây, tôi mới hỏi thiệt cậu một câu: "Cậu có bao giờ nghi ngờ tờ tiền cậu đang xài không?"
Cậu cười xòa, đáp ngay không cần nghĩ, đúng kiểu học thuộc lòng: "Nghi gì chú ơi, tiền pháp định mà, có luật, có nhà nước bảo chứng, có ngân hàng trung ương đứng sau, chắc như bắp."
"Bảo chứng bằng gì mới được?" Tôi hỏi lại. "Vàng dự trữ trong kho, hay ngoại tệ dự trữ?"
"Dạ, cả hai luôn chú. Ngân hàng trung ương nước nào cũng giữ vàng với ngoại tệ dự trữ hết mà."
"Vàng dự trữ đó, cũng chỉ là một đống kim loại nằm trong kho, ai bảo nó đáng giá? Còn ngoại tệ dự trữ, cũng có phải vàng đâu, cũng chỉ là giấy pháp định của một nước khác in ra thôi. Vậy khác gì nhà nước mình đem đúng một lời hứa suông đi bảo chứng cho một lời hứa suông khác, của một nhà nước khác. Còn thuế thu về, cũng toàn mấy tờ giấy y hệt tờ tôi đang cầm đây. Lấy giấy bảo chứng cho giấy, lấy lời hứa nước này bảo chứng lời hứa nước khác, cuối cùng vẫn không thấy đáy đâu cả." Tôi đáp.
Cậu ngừng đũa lại, nghĩ một lúc, không còn cười xòa cho qua như mấy câu trước nữa. Rồi đáp, giọng chậm hơn hẳn: "Không phải bảo chứng bằng vàng hay ngoại tệ gì đâu chú, mà bảo chứng bằng thuế. Xài tiền gì thì phải đóng thuế đúng bằng tiền đó, không đóng là bị cưỡng chế, có công an, có tòa án đứng sau à."
"Cưỡng chế cũng chỉ đứng vững chừng nào còn đủ người sợ, còn phục tùng thôi." Tôi đáp. "Mà cưỡng chế cỡ nào cũng không ép nổi từng người một, từng lúc một. Tôi nhớ có bận đi chợ mua rau, rút ra đúng một tờ tiền cũ, hơi nhàu, một góc ố màu vì dầm mưa cả buổi trong túi quần. Bà bán rau liếc một cái, lắc đầu, chê tiền gì mà xấu, mà bẩn, đòi tôi đổi tờ khác mới chịu cân rau. Tờ tiền đó không rách một milimet nào, nhà nước vẫn tính nó đủ nguyên giá trị, mang ra ngân hàng đổi vẫn nguyên xu không thiếu. Nhưng đứng giữa chợ, trước đúng một người, nó vô dụng ngay tức khắc, chẳng cần đợi cả nước đồng lòng chê nó, chỉ cần đúng một cái lắc đầu là đủ."
"Chuyện đó còn nhỏ. Tôi kể cậu nghe một vụ lớn hơn nhiều, hồi còn hành nghề." Tay tôi vô thức cầm lại tờ giấy bạc lúc nãy đặt xuống bàn, vân vê góc nhàu của nó. "Người thuê tôi là một bà cụ, dành dụm cả đời góp vào một dây hụi, tính bụng để dành lúc đau ốm, với để dành cho cái đám tang của chính mình sau này. Bà góp đều đặn mấy năm liền, chưa lãnh được lần nào thì chủ hụi im bặt, điện thoại tắt máy, nhà đóng cửa. Cả dây hụi mấy chục người, kẻ mất ít người mất nhiều, riêng bà cụ mất trắng phần dành dụm lớn nhất đời mình." Ngón tay tôi siết nhẹ lại quanh tờ giấy bạc, không hẳn cố ý. "Tôi lần theo, cuối cùng tìm ra chủ hụi không hề cao chạy xa bay như thiên hạ đồn. Tiền không nằm trong vali nào cả, nằm rải rác trong mấy món nợ bà ta cho vay lại, trong mấy lô hàng chưa kịp bán, trong một miếng đất mua rồi chưa sang tên xong. Của cải, tính ra, vẫn còn đó, chỉ là không cách nào gom đủ tiền mặt trả cùng lúc cho tất cả mọi người, đúng ngay lúc tất cả đồng loạt đòi rút vì nghe tin đồn. Càng nhiều người đòi rút, tin đồn càng loang nhanh, càng loang nhanh càng nhiều người đòi rút, cuốn thành một vòng xoáy không ai đứng ra khơi mào được, cũng không ai đứng ra dừng lại được. Người ta hết tin là hụi sập, chẳng cần ai tuyên bố phá sản hết."
Cậu lắc đầu, không chịu thua ngay: "Nhưng hụi sập là tại mấy chục người, ai cũng có quyền rút cùng lúc được. Còn cái kia đâu cần cả nước cùng tin đâu chú, chỉ cần đúng hệ thống đó chịu đứng vững, đủ sức ép hết những người còn lại là được rồi. Ít người phải tin hơn hẳn, chắc hơn nhiều chứ."
"Hệ thống đó cũng chỉ đứng vững chừng nào còn đủ người phục tùng nó thôi." Tôi đáp. "Cái ngày nó quay xe, đổi phe, hay tan rã hẳn, tờ tiền đang cầm trong tay cũng có thể hóa giấy lộn trong một đêm, y như hồi đổi tiền, có ai báo trước cho ai đâu. Tôi có một cuốn sổ tiết kiệm gửi ngân hàng, dành dụm gần hết đời. Tối hôm cái vụ hụi đó xử xong, tôi về ngồi lật lại, tính xem tiền của mình khác gì tiền bà cụ góp hụi. Giờ nghĩ thêm nấc này, tôi thấy rợn hơn cả tối đó: nếu hệ thống đứng sau nó cũng có ngày quay xe, thì cả đống dành dụm tôi đinh ninh là chắc nịch nhất đời mình, cũng chỉ đang chờ đúng một đêm để hóa giấy lộn, không khác gì phần bà cụ mất trắng."
Tôi buột miệng nói thẳng ra hết, không định bụng kể lể gì với một người mới quen.
Cậu sững người, đũa dừng hẳn giữa chừng, không còn cái vẻ cười trừ như mấy lần trước nữa. Nhìn tôi một lúc lâu, không nói được câu gì.
Cả hai cùng im. Không phải vì không ai nghĩ ra câu trả lời, mà vì cả hai đều đang nghĩ tới đúng một chuyện: nước này nước khác trên thế giới, đã có lúc cái hệ thống tưởng vững chãi vậy vẫn tan, quân đội vẫn có ngày quay súng, chính quyền vẫn có ngày đổ qua một đêm. Không ai trong hai chúng tôi cãi được rằng chuyện đó chưa từng xảy ra.
Cái im lặng đó kéo dài hơi lâu, nặng tới mức khó chịu. Đúng lúc đó, từ bàn kế bên, giọng hai người khách cao hẳn lên, nghe như đang bất đồng chuyện gì đó. Cả tôi lẫn cậu shipper cùng quay phắt sang, mừng như vớ được cái phao, chẳng ai bảo ai. Cậu buông đũa hẳn xuống hộp cơm, nghiêng cả người về phía tiếng cãi. Tôi cũng ngừng hẳn động tác xoa túi, vểnh tai nghe cho rõ.
Chưa kịp nghe ra họ đang tranh nhau chuyện gì.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.