Phàm Nhân Quật Khởi

Chương 14: Vượt Biển

Đăng: 22/10/2026 15:43 2,091 từ 9 lượt đọc

Đường hầm xuyên qua vách núi đá đen dốc thoai thoải và ẩm ướt, gió biển mang theo hơi nước mặn đắng thổi ngược từ phía dưới lên làm ngọn lửa đuốc trên tay đám lính áp giải nghiêng ngả liên hồi.

Đi hết hơn ba trăm bước chân trong lòng núi, trước mắt đoàn người mở ra một vịnh nước sâu kín gió nằm lọt thỏm dưới chân những vách đá dựng đứng cao hàng chục trượng của bờ biển Huyền Châu. Giữa mặt nước đen ngòm đang dập dềnh theo nhịp thủy triều đêm, một chiếc đại thuyền vỏ gỗ đen khổng lồ dài hơn ba mươi trượng đang thả neo áp sát cầu cảng bằng đá tảng, hai bên mạn thuyền thấp thoáng những đường vân trận pháp khắc chìm để chống chọi với sóng dữ ngoài khơi.

Đào Cận đứng ngay đầu tấm ván gỗ lớn bắc từ cầu cảng lên mạn tàu, tay cầm sổ da đối chiếu từng tấm thẻ bài với một gã tu sĩ mặc áo bào màu huyết dụ sẫm đang đứng khoanh tay trên boong thuyền.

- Một trăm hai mươi tám đinh tráng khỏe mạnh, trong đó có một tên võ giả Tiên Thiên mười tám tuổi bắt được ở mạn Vĩnh An, toàn bộ đã kiểm mạch và đóng dấu đủ.

Đào Cận chỉ đầu thước sắt về phía Lâm Uyên khi hắn bước tới đầu cầu ván

- Giao đủ cho thuyền của quý tông, giấy nhận người nhờ đạo hữu đóng ấn cho.

Gã tu sĩ áo huyết dụ trên boong thuyền chỉ quét ánh mắt lạnh nhạt qua vết băng vải trên vai Lâm Uyên, nhận lấy tấm thẻ gỗ viền đỏ rồi phất tay cho đám thủy thủ mặt mũi hung hãn cầm giáo sắt lùa đoàn người xuống miệng hầm tàu đang mở toang giữa sàn gỗ.

Trước khi bước chân xuống bậc thang tối om dẫn vào bụng tàu, Lâm Uyên dừng lại nửa nhịp trên mặt boong gỗ đầy gió biển, ngoái đầu nhìn lại phía sau lần cuối.

Qua khe hở hẹp của vịnh đá, những dãy núi trập trùng của đất liền Huyền Châu chỉ còn là một vệt bóng đen mờ mịt chìm trong sương đêm. Ở phía sau màn sương ấy là thành Vĩnh An đã đóng chặt cửa, là nấm mồ không bia của vị tiên sinh bên sườn đồi, và là tung tích sống chết chưa rõ của phụ thân Lâm Chính Sơn cùng những người còn lại của Lâm gia.

- Đi xuống! Nhìn ngó cái gì!

Một tên thủy thủ cầm cán giáo sắt chọc mạnh tới định đẩy vào lưng hắn cho ngã nhào xuống cầu thang gỗ như mấy tên tù nhân đi trước. Lâm Uyên không đợi đầu cán giáo chạm vào áo mình; hắn hơi nghiêng vai lách qua một tấc, hai bàn chân đặt vững lên bậc gỗ trơn trượt, giữ thẳng sống lưng rồi tự mình từng bước đi xuống khoang đáy dưới ánh nhìn gườm gườm của tên giữ cửa.

"Rầm!"

Tấm nắp gỗ dày nặng trên đỉnh đầu sập xuống, tiếng chốt sắt khóa chặt từ bên ngoài vang lên khô khốc, cắt đứt hoàn toàn ánh sáng và gió trời.

Khoang đáy của chiếc đại thuyền thấp và ngột ngạt, không khí đặc quánh mùi gỗ mục ngâm nước biển lâu năm, mùi mồ hôi chua nồng và mùi rỉ sắt của xiềng xích. Hơn một trăm con người bị dồn vào hai dãy sạp gỗ chạy dọc theo sườn tàu. Chưa đầy nửa canh giờ sau, tiếng tời sắt kéo neo rền rĩ vang lên từ phía mũi thuyền, cả khối gỗ khổng lồ bắt đầu chuyển động, rời khỏi vịnh đá Hắc Nham để tiến ra vùng biển rộng mênh mông của Thương Khuyết Hải.

Một chuyến vượt biển kéo dài ròng rã hơn ba tháng trời trong bóng tối bắt đầu từ đêm hôm ấy.

Dưới đáy khoang tàu không có ngày và đêm rõ rệt, thời gian chỉ được đếm bằng những lần cửa sập trên cao hé mở để đám thủy thủ thả xuống những thùng nước ngọt đã ngả màu vàng đục cùng những rổ bánh bột mì nướng khô cứng như ngói gạch, và bằng những đợt sóng gió dữ dội ngoài đại dương quăng quật con tàu như một chiếc lá khô.

Sang đến tháng thứ hai trên Thương Khuyết Hải, những cơn bão biển liên tiếp ập tới làm sàn tàu nghiêng ngả điên cuồng. Đám người thường chưa từng đi biển nôn mửa đến mật xanh mật vàng, lại thêm cảnh thiếu nước và thiếu ánh sáng kéo dài khiến sự tuyệt vọng nhanh chóng biến thành những cuộc ẩu đả tàn nhẫn trong bóng tối.

Mỗi khi thùng bánh khô và gáo nước được hạ xuống, hàng chục cánh tay gầy guộc mang xích sắt lại lao vào cấu xé, giẫm đạp lên nhau để tranh cướp từng mảnh vụn rơi trên sàn gỗ bẩn thỉu. Cứ cách vài ngày, cánh cửa hầm lại mở ra một lần để đám lính canh dùng móc sắt lôi xác những kẻ chết vì kiệt quệ hoặc tử vong trong lúc tranh ăn quẳng thẳng xuống biển.

Giữa cái ổ hỗn loạn và bệ rạc ấy, góc sạp gỗ sát cột trụ chính nơi Lâm Uyên ngồi lại tách biệt hẳn như một khoảng đá ngầm tĩnh lặng.

Ngay từ ngày đầu tiên xuống tàu, khi hai gã côn đồ to xác định xô hắn ra để chiếm chỗ tựa lưng khô ráo bên vách gỗ, Lâm Uyên chỉ dùng một cú gập hông xoay vai trong thế ngồi, dùng chính sợi xích sắt nối hai cổ tay khóa chặt cổ họng tên cầm đầu rồi ghì sầm mặt gã xuống ván sàn cho đến khi gã tím tái mặt mày phải đập tay xin tha. Từ hôm đó, không một kẻ nào trong khoang dám bén mảng tới phạm vi ba thước quanh chỗ hắn ngồi.

Suốt ba tháng lênh đênh trên biển, Lâm Uyên chưa từng một lần lao vào đám đông tranh giành thức ăn hay để bản thân rơi vào cảnh nhếch nhác. Mỗi ngày, hắn đều dùng một mảnh vải vụn lau sạch khoảng ván gỗ dưới chỗ mình ngồi, giữ nguyên tư thế xếp bằng thẳng lưng của người luyện võ và dùng phương pháp điều tức Tiên Thiên để kéo dài từng nhịp thở tới mức tối đa. Khi con tàu chao đảo trong bão lớn, hai bàn chân và thắt lưng hắn tự động nương theo nhịp lắc của sóng biển như bài tập giữ trọng tâm trên võ trường Vĩnh An, vừa giúp cơ thể không tiêu hao sức lực vô ích, vừa dùng luồng khí huyết Tiên Thiên ấm áp tuần hoàn khắp tứ chi để đẩy lùi hơi lạnh ẩm độc dưới đáy thuyền. Nhờ vậy, vết thương sâu trên bả vai trái của hắn đã khép miệng và kết thành một vết sẹo dài rắn chắc từ giữa tháng thứ hai.

Đến giờ phát lương thực, hắn luôn đợi đợt xô đẩy đầu tiên qua đi mới bình thản bước tới nhận đúng một phần bánh khô và một gáo nước thuộc về suất của mình. Sự điềm tĩnh, sạch sẽ và đôi mắt sáng quắc trong bóng tối của hắn khiến ngay cả tên cai ngục phụ trách chia phần dưới hầm tàu cũng phải giữ khoảng cách, không dám tùy tiện quát tháo hay cắt xén khẩu phần.

Ở sát bên trái chỗ Lâm Uyên ngồi là một người thợ đá già khoảng ngoài năm mươi tuổi bị bắt từ một huyện ven biển, sang đầu tháng thứ ba thì bị sốt cao đến khô nứt cả môi vì thiếu nước.

Lâm Uyên quan sát thấy ông lão từng làm nghề đục đá xây bến cho các thương hội lớn, trên bắp tay có vết sẹo cháy do hỏa dược khai sơn và hiểu biết nhiều về các tuyến tàu biển, liền chủ động chia một nửa gáo nước ngọt trong phần của mình cho ông lão uống cầm hơi qua ba ngày cơn sốt nặng nhất, đồng thời chỉ cho ông cách hít thở sâu bằng bụng để giữ hơi ấm.

Đổi lại sự giúp đỡ sòng phẳng ấy, khi cơn sốt vừa lui vào những ngày cuối của hải trình, người thợ đá già ngồi tựa vào vách gỗ, dùng giọng khàn đặc thì thầm kể cho Lâm Uyên nghe những gì ông ta biết về điểm đến phía trước:

- Chàng trai trẻ, con tàu này đi một mạch hơn ba tháng về hướng nam tây nam qua Thương Khuyết Hải, chắc chắn không phải chở chúng ta tới các đảo thuộc Huyền Châu đâu...

Ông lão nhìn vết dấu hình giọt máu khắc trên cột trụ gỗ của khoang tàu, giọng trầm xuống:

- Đây là thuyền vận chuyển của các thế lực Ma đạo bên Xích Châu.

- Xích Châu?

Lâm Uyên khẽ lặp lại cái tên xa lạ chưa từng có trên tấm địa đồ quận Thanh Hà ở nhà.

- Đúng vậy. Hồi còn làm thợ đá ở cảng lớn của Tế Hải Các, ta từng nghe đám thủy thủ tàu viễn dương nói chuyện.

Người thợ đá già nuốt nước bọt khô khốc:

- Cách Huyền Châu chúng ta cả một vùng Thương Khuyết Hải mênh mông là đất Xích Châu, nơi tứ đại tông môn Ma đạo chia nhau cai trị. Đất bên đó toàn màu đỏ sẫm như máu khô, dưới lòng núi có những mạch mỏ linh thạch và quặng huyết tinh sâu hàng trăm trượng. Mỗi khi bên Huyền Châu hay các châu khác có biến động đường sá, bọn chúng lại cho tàu vượt biển sang vơ vét người khỏe mạnh đem về thả xuống các hầm mỏ sâu dưới lòng đất... Người đã bị đưa xuống mỏ ở Xích Châu, xưa nay mười phần chưa thấy một phần nào còn sống mà bước lên tàu quay về.

Lâm Uyên ngồi yên trong bóng tối của khoang tàu, lắng nghe tiếng nước biển vỗ rì rầm vào lớp vỏ gỗ dày ngay sau lưng mình.

Một vùng đại lục khác nằm dưới sự thống trị của Ma đạo, cách quê nhà suốt ba bốn tháng ròng vượt biển khơi. Hắn đưa bàn tay phải chạm nhẹ vào vết sẹo mới lành trên bả vai trái, cảm nhận luồng nội lực Tiên Thiên đã hồi phục lại khoảng bảy tám phần sau ba tháng kiên trì điều tức dưới đáy thuyền. Dù bị ném sang tận chân trời góc biển nào, chỉ cần cái mạng này còn giữ được và hai bàn tay này còn lành lặn, hắn nhất định sẽ tìm ra đường bước ra khỏi cái hầm mỏ kia để trở về Huyền Châu.

"Ầm - Rào!"

Đúng vào buổi sáng ngày thứ chín mươi tám kể từ đêm rời bến Hắc Nham, cả thân tàu khổng lồ đột nhiên chấn động mạnh rồi khựng lại. Tiếng xích sắt lớn bằng bắp đùi trượt qua lỗ mũi tàu lao ầm ầm xuống đáy nước nông, tiếp theo là tiếng bước chân rầm rập và tiếng hò hét cập bến vang vọng từ trên mặt boong.

Sau hơn ba tháng đóng kín, hai cánh cửa gỗ lim trên đỉnh hầm tàu được kéo bật tung ra hai bên.

Ánh nắng mặt trời chói chang như đổ lửa cùng một luồng gió khô nóng, nồng nặc mùi đất đỏ, mùi lưu huỳnh và khói quặng nung từ đất liền ập thẳng xuống đáy khoang tối tăm.

Đám tù nhân quen sống trong bóng tối suốt ba tháng đồng loạt kêu lên đau đớn, vội vã lấy cánh tay che kín mắt, nhiều kẻ hai chân đã tê bại vì ngồi lâu ngã dúi dụi xuống sàn gỗ khi bị đám lính canh quất roi thúc ép đứng dậy.

Giữa đám người đang che mắt lảo đảo ấy, Lâm Uyên chỉ hơi nheo mắt lại một nhịp để làm quen với luồng ánh sáng gắt gao, rồi từ từ chống gối đứng thẳng dậy trên đôi chân vững chãi của mình. Hắn đưa tay phủi sạch lớp bụi gỗ bám trên vạt áo đã sờn rách, ngẩng cao đầu bước từng bước chắc nịch lên cầu thang gỗ dẫn ra mặt boong, nơi bờ đất đỏ trải dài đến tận chân trời của Xích Châu đã hiện ra ngay trước mắt.

0
Ủng hộ tác giả TK Nguyen Nếu thấy hay thì ủng hộ mình nhé ^^