Sinh Giả Tập Sự

Quyển 1: Tôi Muốn Xuyên Không

Chương 5: Người Dựng Sông, Núi

Đăng: 20/09/2026 20:55 4,991 từ 2 lượt đọc
“Tặng mẹ một bông hoa hướng nắng


Bông hoa ấy vàng vàng, nhụy nâu nâu


Mẹ như hoa đùm bọc tờ giấy trắng


Giấy trắng khôi làm vơi hết nỗi sầu.”


Năm lên bảy tuổi, tôi từng nắn nót viết những câu thơ vụng về ấy trên trang giấy ô ly phẳng phiu nhất mà mình có.


“Em thực sự rất có khiếu, mới học lớp hai mà đã biết gieo vần làm thơ rồi này.”


Cô giáo chủ nhiệm mới chuyển về trường cất giọng dịu dàng, nụ cười của cô rạng rỡ và ấm áp tựa ánh ban mai rọi qua khung cửa sổ lớp học. Bàn tay cô khẽ xoa đầu tôi, nhưng rồi ánh mắt ấy ngập ngừng lướt sang cuốn vở của một bạn học khác ngồi bàn bên:


“Nhưng mà... em thử đọc bài thơ của bạn Dương Phi xem? Câu từ của bạn ấy trau chuốt hơn, hình ảnh cánh đồng lúa cũng giàu cảm xúc hơn một chút chăng?”


Nói đoạn, cô quay xuống cả lớp, vỗ tay bắt nhịp:


“Dù sao thì bài thơ của bạn cũng rất đáng khen! Cả lớp cùng cho bạn Phi và bạn viết thơ hay thứ nhì lớp một tràng pháo tay nào!”


Bốp, bốp...


Bốp, bốp... bốp.


Tiếng vỗ tay lẹt đẹt của đám trẻ con vang lên vài nhịp rồi chìm nghỉm vào không gian.


Chôn chân giữa bục giảng, hai bàn tay tôi nắm chặt mép áo đồng phục. Lồng ngực nghẹn đắng một cảm giác khó tả. Được giải nhì chẳng phải đã là rất giỏi rồi sao? Hay do mình đang bị cảm lạnh? Người ta vẫn thường bảo, mỗi khi ốm sốt, con người ta sẽ thấy buồn bã và tủi thân vô cớ...


“Hức... Huhu...”


Tiếng nấc nghẹn ngào phá vỡ bầu không khí ngột ngạt của căn phòng khách. Trên chiếc ghế sô pha bọc da cũ kỹ, người phụ nữ với mái tóc đen rũ rượi đang ngồi co ro, những giọt nước mắt không ngừng rơi lã chã xuống mặt bàn kính vỡ tan thành từng vệt ướt đẫm:


“Đồ khốn nạn... Anh là đồ tồi! Đồ bội bạc, đồ tồi!”


Bà lẩm bẩm nguyền rủa trong cơn uất hận, hai bàn tay cào cấu lên đầu gối đến rách cả vải quần.


Rụt rè bước lại gần mép ghế, tôi cất giọng non nớt của một đứa trẻ lên bảy:


“Mẹ ơi... Mẹ bị ốm nặng lắm sao?”


Tiếng khóc vẫn dấm dứt trút xuống không một lời đáp lại. Vội vàng rút tờ giấy khen cuộn tròn kẹp bài thơ giấu sau lưng ra, tôi miết lại thật phẳng phiu rồi chìa ra trước khuỷu tay mẹ:


“Mẹ đọc bài thơ con mới viết đi! Hôm nay cô giáo khen con giỏi lắm. Con viết tặng riêng cho mẹ thôi, không cho ai khác đâu...”


Bờ vai mẹ khẽ giật mạnh. Bà từ từ ngước khuôn mặt đẫm lệ lên nhìn tôi.


Nhưng trong đôi mắt ấy chẳng hề có lấy một tia ấm áp nào của tình mẫu tử. Đập vào mắt tôi là hai hốc mắt thâm quầng tím tái, tròng mắt đỏ ngầu những tia máu vằn vện, dữ tợn như một con thú hoang bị thương.


Bàn tay gầy guộc run rẩy vươn ra, giật phắt lấy tờ giấy thơ.


Tim tôi đập thình thịch vì mong chờ một cái ôm hay một lời khen ngợi. Tôi đã cẩn thận giữ cho tờ giấy không bị gập một góc nào, để khi mẹ đọc, nó sẽ là một món quà hoàn hảo nhất.


“Mày viết cái thứ rác rưởi gì đây hả?!”


Giọng bà the thé rít lên qua kẽ răng.


XOẸT!


Không một giây do dự, mẹ xé toạc tờ giấy thành trăm mảnh vụn. Những mảnh giấy trắng mang bài thơ hoa hướng dương bay lả tả xuống sàn nhà như tuyết rơi giữa mùa hè.


Bật dậy khỏi ghế như một chiếc lò xo, khuôn mặt mẹ méo mó vì căm phẫn. Trước khi tôi kịp hiểu chuyện gì đang xảy ra, chân trái của mẹ đã vung lên, giáng thẳng một cú đạp trời giáng vào ngực tôi.


RẦM!


Lực va đập dữ dội hất tung cơ thể nhỏ bé bảy tuổi của tôi bay ngược về phía sau. Lưng đập sầm vào cánh tủ đựng đồ bằng gỗ ép, mạnh đến mức cánh cửa tủ lõm hẳn một mảng, đồ đạc bên trên rơi lộp độp xuống đất.


“Mẹ... con đau...”


Tôi ôm ngực ho sặc sụa, nước mắt trào ra nơi khóe mi. Nhưng chưa kịp dứt lời, mẹ đã sải bước tới, giơ chân đạp nghiến thẳng vào bụng tôi, gào thét đến lạc cả giọng:


“Viết cái gì mà viết! Suốt ngày chỉ biết cắm đầu làm mấy trò vô tích sự! Sao mày không chết quách đi cho tao nhờ?!”


Bàn tay thô bạo túm lấy cổ áo tôi, giật mạnh như muốn bẻ gãy cần cổ mỏng manh của đứa trẻ:


“Sao đứa ở lại với tao lại là mày hả?! Cớ sao tòa án không xử cho tao nuôi thằng Bạch Sơn?! Ít ra nuôi nó tao còn ngửa tay xin được tiền trợ cấp, còn nuôi cái loại đầu đất như mày thì tao được cái gì ngoài đống nợ này hả trời?!”


“Con xin lỗi... Mẹ đừng đánh con nữa... Tha cho con...”


Tiếng nức nở van xin chìm lọt thỏm giữa những cú đá liên tiếp giáng xuống người. Hai bàn tay nhỏ bé run rẩy chỉ biết ôm chặt lấy bàn chân mẹ để chịu trận.


Tôi không dám giận mẹ. Lúc ấy, đứa trẻ bảy tuổi là tôi chỉ nghĩ đơn giản rằng: Chắc hẳn do mẹ bị ốm, mẹ đã quá mệt mỏi vì bị người ta ruồng bỏ rồi...


Vào một chiều mưa rào tầm tã cuối thu, nước mưa trút xuống xối xả khắp các ngả đường thủ đô, lạnh buốt và tàn nhẫn.


Một bóng hình nhỏ bé cắm đầu chạy thục mạng qua từng vũng nước đọng. Đôi chân trần gầy guộc đạp lên mặt đường trơn trượt, bắn tung tóe nước mưa lên những người qua đường đang vội vã khoác áo mưa. Cậu bé không có ô, trên người chỉ khoác một bộ đồ đen cũ rích bốc mùi ẩm mốc vì lâu ngày chưa được giặt giũ.


Trượt chân!


Cậu bé ngã sõng soài xuống nền xi măng thô ráp. Đầu gối va đập rách toạc một mảng da, máu tươi rỉ ra lập tức bị dòng nước mưa cuốn trôi. Cậu nghiến răng bò dậy, hai mắt đăm đăm nhìn về tòa cao ốc chọc trời sừng sững phía đối diện.


Dưới mái hiên gần đó, một nhân viên công sở mặc âu phục lịch sự nhìn thấy cảnh tượng này liền cau mày. Nhìn kỹ khuôn mặt ướt sũng của đứa trẻ, anh ta vội vàng móc điện thoại bấm số:


“Alo, phòng thư ký của Chủ tịch Bạch Khởi xin nghe?” Giọng một người phụ nữ sang trọng vang lên ở đầu dây bên kia.


“Thưa cô, hình như... thiếu gia duy nhất của Chủ tịch vừa tự đi bộ đến trước cửa công ty! Cậu bé bị ngã ở ngay làn đường đối diện!”


“Cái gì?! Thiếu gia Bạch Sơn đến công ty trong trời mưa thế này sao?!” Người phụ nữ cất giọng thất thanh: “Anh giữ thằng bé lại ngay! Mang vào sảnh chờ lập tức, tôi sẽ báo bảo vệ xuống hỗ trợ!”


Tắt máy, người đàn ông lao thẳng ra giữa đường, nhấc bổng cậu bé gầy gò lên vai rồi chạy nhanh vào sảnh chờ dát đá cẩm thạch sáng loáng của tòa tập đoàn Bạch Khởi.


“Mọi người ơi! Con trai Chủ tịch bị ướt mưa này! Mau mang khăn ấm ra đây! Lấy cả kẹo nữa!”


Như nhìn thấy một cơ hội trời cho, cả đám nhân viên văn phòng trong đại sảnh nhốn nháo cả lên. Người vội vã mang chiếc khăn lông đắt tiền ra lau người cho cậu; người chạy đôn chạy đáo pha nước ấm; người xé vội gói kẹo bạc hà đút vào tay cậu bé. Các cô nhân viên trẻ tranh nhau ôm cậu vào lòng sưởi ấm, xoa nắn bàn tay lạnh ngắt.


“Làm quá thế? Chủ tịch mới ly hôn thôi mà?” Một nhân viên thì thầm.


“Cô ngốc thế! Đây là người thừa kế duy nhất của tập đoàn đấy! Lấy lòng được thiếu gia thì đường thăng tiến mở toang ra còn gì!”


Tôi mơ màng mở mắt giữa vòng vây ngột ngạt của những nụ cười nịnh bợ và những lời hỏi han ân cần chưa từng nhận được trong đời. Một bàn tay đưa viên kẹo bạc hà tới sát môi. Bụng đói cồn cào, tôi há miệng nuốt trọn cả viên kẹo to vào cuống họng.


Đúng lúc đó, đám đông dạt sang hai bên. Một người phụ nữ trong bộ đầm công sở bước tới — đó là cô thư ký trưởng thường xuyên xuất hiện cạnh cha tôi trên các chương trình phóng sự truyền hình.


Ánh mắt bà ta quét qua tôi từ đầu đến chân, thoáng chút kỳ lạ rồi vẫy tay:


“Hai người bảo vệ bế thiếu gia lên thẳng văn phòng Chủ tịch tầng sáu mươi!”


Nằm lọt thỏm trong vòng tay của hai người bảo vệ, trái tim non nớt đập rộn ràng vì hy vọng. Mục đích của tôi sắp thành hiện thực rồi. Tôi chỉ cần bước vào căn phòng ấy, xin cha một ít tiền mang về cho mẹ, mẹ sẽ có tiền trả tiền nhà, mẹ sẽ không còn khóc, và mẹ sẽ không bao giờ đánh tôi nữa...


CẠCH.


Cánh cửa gỗ sồi cách âm mở toang ra.


Một giọng nói trầm ấm lập tức vang lên từ phía bàn làm việc lớn:


“Bạch Sơn! Sao con lại về đây giờ này? Chẳng phải cha vừa đặt vé cho con đi nghỉ dưỡng cùng bạn bè ở resort năm sao à?”


Người đàn ông quyền lực xoay ghế lại, nụ cười rạng rỡ trên môi.


Thế nhưng, nét mặt ấy biến sắc hoàn toàn chỉ trong một cái chớp mắt.


Khuôn mặt Chủ tịch Bạch Khởi lập tức sa sầm xuống, lạnh băng như tảng đá ngâm dưới nước buốt. Ánh mắt ông ta quét qua bộ quần áo rách rưới bết dính nước mưa, nhìn thẳng vào khuôn mặt giống hệt đứa con trai cưng của mình, và dường như đã đoán ra thân phận của vị khách không mời.


“Cha...” Giọng tôi run rẩy cất lên, nhỏ như tiếng muỗi kêu giữa căn phòng rộng mênh mông: “Xin cha... gửi cho mẹ ít tiền... Mẹ sắp bị người ta đuổi khỏi nhà rồi...”


Cha.


Danh từ thiêng liêng nhất mà bất kỳ đứa trẻ nào cũng có quyền cất tiếng gọi.


Thế nhưng ngay giây phút ấy, người đàn ông mang cùng dòng máu lại nhìn tôi bằng ánh mắt ghê tởm như nhìn một con chuột cống vừa chui lên từ cống rãnh.


Đột nhiên, cổ họng tôi thắt nghẹn lại.


Viên kẹo bạc hà lúc nãy nuốt vội bỗng nhiên mắc kẹt ngay giữa khí quản! Luồng khí the cay nồng xộc thẳng lên mũi, bít kín hoàn toàn đường thở. Không khí không thể lọt vào phổi, lồng ngực quặn thắt như bị hàng ngàn mũi kim châm bóp nghẹt.


Đó là viên kẹo bạc hà mà người anh song sinh Bạch Sơn yêu thích nhất. Thứ kẹo ấy vốn dĩ chưa từng thuộc về một kẻ như tôi.


Tôi ngã vật xuống tấm thảm len đắt tiền, hai tay cào cấu lấy cổ họng, giãy giụa tuyệt vọng như một con cá mắc cạn. Mặt mày tím tái dần vì ngạt thở, đôi mắt mở trừng trừng nhìn về phía bàn làm việc, cầu xin một cái nắm tay hay một cái vỗ lưng từ người sinh ra mình.


Nhưng người đàn ông ấy vẫn ngồi bất động sau chiếc bàn gỗ sồi. Ông ta lạnh lùng nhìn tôi quằn quại dưới sàn, giọng nói trầm đục không vương một chút xót thương:


“Con khi nào mới chịu trưởng thành? Đừng dùng những trò bẩn thỉu này để ăn vạ nữa.”


Dứt lời, ông ta bấm nút điện thoại nội bộ trên bàn:


“Bảo vệ, mang đứa trẻ này sang bệnh viện súc ruột đi. Đừng để nó làm ồn ở đây.”


Ý thức tôi chìm dần vào bóng tối đặc quánh.


Khi mở mắt tỉnh dậy, xung quanh tôi chỉ là mùi thuốc sát trùng nồng nặc của phòng bệnh từ thiện.


Tất cả đã trở thành công cốc. Cha không cho một đồng nào, bệnh viện trả tôi về sau khi gắp viên kẹo ra khỏi cổ họng.


Lê từng bước chân rã rời trở về căn hộ chung cư cũ kỹ ở ngoại ô, trước mắt tôi chỉ là một căn nhà trống trơn. Quần áo của mẹ, đồ đạc có giá trị... tất cả đã biến mất không còn một vết tích. Mẹ đã bỏ đi, bỏ rơi tôi lại một mình ở cái tuổi người ta còn đang mải mê với những món đồ chơi xếp hình.


Ngày 7 tháng 11. Một đêm trăng tròn lạnh lẽo.


Dưới sân chung cư, đèn đường rực rỡ và xe cộ tấp nập qua lại đón chào một mùa lễ hội mới. Bên trong căn hộ tầng bốn tối om, tôi ngồi co ro bên bậu cửa sổ, nhìn bóng trăng tròn in trên mặt kính.


Đã tròn một tháng mẹ biệt tích.


Tôi cũng tự giác nghỉ học ở trường tiểu học vì không có tiền đóng học phí. Tôi chỉ muốn ở lại trong căn phòng trống hoác này, bấu víu chút hơi ấm sót lại từ mùi hương của người thân.


Nếu là ngày này năm ngoái, chiếc bàn ăn sẽ được phủ khăn hoa rực rỡ, chính giữa bày chiếc bánh kem sinh nhật khổng lồ cắm nến lung linh cho hai anh em tôi cùng thổi. Còn đêm nay, trên bàn chỉ có một mẩu bánh mì khô khốc gặm dở.


CỐC, CỐC, CỐC!


Tiếng đập cửa thô bạo làm tôi giật bắn mình:


“Bên trong có ai không? Mở cửa ra!”


Run rẩy hé cửa, tôi thấy hai nhân viên bảo vệ to lớn của tòa nhà đứng sừng sững bên ngoài. Người cầm đầu nhìn tôi, rồi liếc mắt sang chiếc điện thoại đang phát sóng trực tiếp trên tay:


“Ủa? Thằng bé này nhìn giống hệt đứa trẻ đang xuất hiện trên bản tin thế nhỉ? Nghe nói hôm nay là đại tiệc sinh nhật của thiếu gia nhà Bạch Khởi cơ mà?”


Người bảo vệ thứ hai móc ra một tập hồ sơ:


“Kệ đi, nhầm người đấy. Để xem nào... Căn hộ 402, tiền thuê nhà đã quá hạn ba mươi ngày. Chủ nhà yêu cầu thu hồi mặt bằng ngay đêm nay.”


Anh ta cúi xuống, giọng dứt khoát không chút cảm xúc:


“Này nhóc, thu dọn đồ đạc rồi rời khỏi đây ngay. Bọn chú phải khóa niêm phong căn hộ.”


“Chú ơi... Cháu xin chú...” Quỳ sụp xuống bậu cửa, tôi ôm chặt lấy ống quần người bảo vệ, van lạy trong nước mắt: “Mẹ cháu đi vắng rồi... Cho cháu ngủ nhờ nốt đêm nay thôi... Ngoài trời lạnh lắm...”


“Không được! Bọn chú chỉ làm theo lệnh thôi, cháu không đi là chú phải lôi ra đấy!”


Cánh cửa sắt lạnh lùng đóng sập lại trước mắt tôi.


Đêm sinh nhật tròn tám tuổi ấy, tôi lang thang như một chiếc bóng vô định qua từng ngõ ngách tối tăm của thành phố. Trên những màn hình LED khổng lồ ngoài các trung tâm thương mại, người ta đang phát trực tiếp đại tiệc sinh nhật của cậu chủ Bạch Sơn.


Bữa tiệc được tổ chức trên chiếc du thuyền siêu sang giữa vịnh biển xa hoa, quy tụ hàng trăm chính khách và doanh nhân quyền lực. Người ta tung hô anh tôi là thần đồng, là niềm tự hào của cả một đế chế.


Bước ngang qua một tiệm bánh kẹo ven đường, tôi nhìn trân trân vào những hũ kẹo bạc hà Bạch Khởi được trưng bày ở vị trí trang trọng nhất. Đó là sản phẩm mang lại doanh thu hàng ngàn tỷ đồng, đưa tập đoàn của cha tôi từ bờ vực phá sản trở thành đế chế hùng mạnh.


Và đó cũng là thứ kẹo anh tôi thích nhất.


Tôi nhớ rõ hơn ai hết anh trai mình là người như thế nào. Anh ấy học toàn diện tất cả, thông minh xuất chúng như một thiên phú trời ban. Năm tuổi đã thông thạo năm thứ tiếng, sáu tuổi đã hoàn thành chương trình trung học. Nhưng anh ta luôn có một nỗi ám ảnh kỳ lạ về sự độc tôn, luôn muốn đè bẹp tôi trong mọi chuyện nhỏ nhặt nhất:


“Mày có ăn được kẹo bạc hà cay nồng như tao không? Không ăn được là mày thua rồi! Mày là đồ phế vật!”


Cúi gằm mặt bước đi giữa dòng người tấp nập, thi thoảng có vài ánh mắt liếc nhìn tôi rồi lại nhìn vào màn hình điện thoại đang phát sóng về Bạch Sơn. Họ xì xào, chỉ trỏ, nhưng chẳng một ai nhận ra đứa trẻ rách rưới đang run rẩy vì lạnh này mang cùng một khuôn mặt, cùng một ngày sinh với vị thiếu gia trên du thuyền xa hoa kia.


Ngày 1 tháng 1. Năm mới gõ cửa.


Tôi chính thức trở thành một đứa trẻ vô gia cư, đêm ngủ gầm cầu, ngày tranh giành từng mẩu bánh mì thừa thối rữa với đàn chuột và những đứa trẻ bụi đời khác. Tung tích của mẹ vẫn bặt vô âm tín.


Để không bị người đi đường dòm ngó và bàn tán về khuôn mặt giống hệt người thừa kế tập đoàn Bạch Khởi, tôi lén lút nhặt một hộp sơn tường màu trắng bị vứt bỏ ở góc công trường. Dùng ngón tay quệt thứ sơn hóa chất nồng nặc ấy, tôi tự tay bôi trắng xóa nửa bên mái tóc của mình. Mẹ tôi từng rất tự hào về mái tóc đen nhánh của hai anh em... nhưng giờ đây, tôi muốn tự tay hủy hoại dấu vết ấy để không ai nhận ra tôi nữa.


Chiều đầu năm rét buốt, một tờ báo bay dạt vào chân tôi:


“Tập đoàn Bạch Khởi đạt mức tăng trưởng kỷ lục... Thiếu gia Bạch Sơn tám tuổi được bổ nhiệm chức danh Giám đốc Sáng tạo, trở thành doanh nhân trẻ tuổi nhất lịch sử thế giới.”


Vò nát tờ báo, tôi ném nó xuống vũng nước bẩn.


Lê bước qua một cửa hàng điện máy lớn, hàng chục chiếc tivi màn hình phẳng đang truyền hình trực tiếp buổi họp báo quốc tế của tập đoàn Bạch Khởi, đích thân Chủ tịch đứng trước hàng trăm ống kính phóng viên:


“Thưa ngài Chủ tịch, đâu là nguồn cảm hứng lớn nhất để ngài gây dựng nên đế chế vĩ đại như ngày hôm nay?” Người dẫn chương trình cung kính hỏi.


Cha tôi khẽ mỉm cười đầy kiêu hãnh:


“Rất đơn giản. Nguồn động lực duy nhất của đời tôi... chính là đứa con trai duy nhất của tôi — Bạch Sơn.”


Một phóng viên bất ngờ giơ tay, cất giọng tò mò:


“Thưa ngài, trong dư luận từng rộ lên tin đồn rằng thiếu gia Bạch Sơn thực chất còn có một người em trai sinh đôi bị thất lạc sau vụ ly hôn của ngài. Liệu điều này có phải là sự thật—?”


RẦM!


Chủ tịch Bạch Khởi đập mạnh tay xuống bục phát biểu, khuôn mặt đỏ gay vì thịnh nộ:


“CÂM MIỆNG! Tôi cảnh cáo các người! Bất kỳ cơ quan báo chí nào còn dám bịa đặt về cái gọi là 'người em song sinh' này, tôi sẽ kiện cho các người tán gia bại sản! Tôi chỉ có một đứa con duy nhất!”


Màn hình tivi lập tức chuyển sang chế độ nhiễu sóng kỹ thuật.


Đứng trước tấm kính phản chiếu, tôi nhìn nửa mái tóc dính sơn trắng bết bát của mình rồi bật ra một tiếng cười khàn đặc.


Hóa ra là vậy.


Ông ta không chỉ bỏ rơi tôi. Ông ta muốn dùng toàn bộ quyền lực và tiền bạc để xóa sổ sự tồn tại của tôi ra khỏi tâm trí của nhân loại...


Ngày 6 tháng 2. Một ngày nắng xuân ấm áp.


Tại khu đất đỏ thênh thang rộng hàng ngàn héc-ta, lễ khởi công siêu dự án Sân bay Quốc tế Bạch Khởi đang diễn ra với quy mô thế kỷ. Hàng ngàn chính khách, tỷ phú và giới quý tộc tề tựu đông đủ.


“Và sau đây, xin trân trọng kính mời bài phát biểu của Giám đốc Sáng tạo tám tuổi — thiếu gia Bạch Sơn!”


Tiếng pháo tay như sấm rền vang lên.


Một cậu bé tám tuổi khoác trên mình bộ lễ phục vest may đo đính khuy vàng ròng, bước từng bước tự tin lên bục danh dự. Ánh hào quang dường như đang đổ dồn xuống đỉnh đầu cậu bé ấy. Cậu ta mỉm cười, diễn thuyết trôi chảy bằng ba thứ tiếng, toát lên phong thái của một bậc đế vương tương lai.


Sau buổi lễ, đám đông di chuyển vào quảng trường tiệc tùng.


“Bạch Sơn! Rất hân hạnh được làm quen với cậu!” Một tiểu thư quý tộc trong bộ váy xanh lộng lẫy e ấp bước lại gần.


Bạch Sơn chỉ khẽ liếc mắt nhìn, không thèm đáp lại lấy nửa lời. Xung quanh cậu, hàng trăm người lớn đang chen chúc, khom lưng cúi đầu mong có được một cái gật đầu từ đứa trẻ tám tuổi. Ánh hào quang bao bọc lấy cậu ta rực rỡ tựa mặt trời ban trưa, khiến cậu ta đinh ninh rằng trên cõi đời này, chỉ có duy nhất mình cậu là xứng đáng đứng trên đỉnh cao của xã hội...


Thế nhưng, từ phía sau lưng cậu ta, giữa biển người chen chúc...


Một bóng hình nhỏ bé khoác chiếc áo đen rách rưới nhặt từ thùng rác, nửa bên đầu nhuộm trắng bệch, đã lặng lẽ áp sát từ lúc nào.


Bàn tay gầy guộc run rẩy rút ra lưỡi dao gọt hoa quả rỉ sét giấu trong tay áo.


Khoảng cách chỉ còn một bước chân.


PHẬP!


Ngày 7 tháng 2.


Mười năm sau sự kiện chấn động tại lễ khởi công sân bay.


“Bản tin thời sự trưa nay: Sân bay Quốc tế Bạch Khởi chính thức vận hành thương mại sau một thập kỷ hoàn thiện...”


Tiếng phát thanh viên phát ra từ chiếc tivi cũ kỹ trong một quán cà phê ven đường.


Mười năm.


Trọn vẹn một phần chín cuộc đời người, tôi đã chôn vùi toàn bộ tuổi thanh xuân từ năm tám tuổi đến mười tám tuổi sau những bức tường thép gai lạnh lẽo của trại giáo dưỡng đặc biệt. Nhát dao năm ấy không giết chết được Bạch Sơn, nhưng nó đã tước đoạt đi tư cách làm một con người bình thường của tôi.


Suốt mười năm trong trại giam, và cả những năm tháng sau này, mỗi khi lớp tóc đen mọc dài ra, tôi lại tự tay dùng sơn thừa nhuộm trắng nửa bên đầu như một thói quen không thể bỏ. Đó là dấu ấn duy nhất để tôi tự nhắc nhở bản thân.


“ĐỨNG LẠI! CƯỚP! CÓ CƯỚP!”


Tiếng thét thất thanh của một cô gái công sở vang lên ở đầu phố. Nhưng giữa dòng đời vội vã, chẳng một ai buồn đuổi theo bóng người mặc áo khoác da đen rách rưới đang lao vun vút vào ngõ hẻm.


Đó là tôi.


Ngồi thụp xuống giữa đống rác hôi thối trong con hẻm cụt, ngón tay tôi nhanh nhẹn vuốt mở màn hình chiếc điện thoại vừa giật được:


“May quá, không cài mật khẩu...”


Tôi tò mò lướt vào mạng xã hội — thứ công nghệ đã phát triển vượt bậc mà suốt mười năm qua tôi chưa từng được chạm tới.


Mục tìm kiếm thịnh hành đập ngay vào mắt tôi:


“Kỷ niệm 10 năm nhát dao oan nghiệt: Doanh nhân kiệt xuất Bạch Sơn chia sẻ về vết sẹo năm xưa.”


Trên màn hình là một chàng trai mười tám tuổi, khôi ngô tuấn tú, vest đen sang trọng, sở hữu khuôn mặt giống hệt tôi từng đường nét. Nhưng hắn đang ngồi trên chiếc ghế da cao cấp, điềm đạm trả lời phỏng vấn của đài truyền hình quốc gia:


“Vết sẹo năm đó là một bài học đắt giá, nhưng tôi chưa bao giờ căm hận người đã ra tay. Tôi chỉ thấy thương hại cho một linh hồn lạc lối...”


“Thương hại cái con mẹ mày!”


Nghiến răng chửi thề, ngón tay run rẩy của tôi lướt vội sang một bài viết khoa học khác:


“Hiện tượng tâm lý học kỳ lạ: HIỆU ỨNG MANDELA — Khi một nhóm đông người cùng nhớ sai về một sự kiện lịch sử hoặc một hình tượng có thật...”


Bài viết đưa ra hàng loạt dẫn chứng: Chiếc đuôi của sinh vật Pikachu thực chất không hề có vệt đen như hàng triệu người lầm tưởng; hay cái chết của Tổng thống Nelson Mandela trong tù vào thập niên 80 là một ký ức tập thể hoàn toàn sai lệch...


Đầu óc tôi bỗng nổ ong một tiếng.


Hiệu ứng Mandela...


Ký ức tập thể bị bóp méo? Sự thật bị thay thế bởi niềm tin sai lệch của số đông?


Tôi cười cay đắng khi nhớ về hai chữ gia đình:


“Con người các người... có bao giờ thèm đoái hoài đến những thứ mình từng vứt bỏ đâu... Nhớ làm sao được cơ chứ!”


Cơn phẫn nộ dâng trào tột độ, tôi gầm lên một tiếng rồi nện nát vụn chiếc điện thoại xuống nền bê tông nhầy nhụa rác rưởi.


Buổi chiều muộn tại nhà xác thành phố.


Hơi lạnh từ các ngăn tủ bảo quản phả ra buốt giá. Viên giám định pháp y lật tấm khăn trắng phủ trên thi thể lạnh ngắt của một người phụ nữ trung niên, giọng điệu đều đều vô cảm:


“Nạn nhân hành nghề bán dâm tại khu ổ chuột phía tây thành phố. Do nhiễm trùng máu nặng từ các bệnh lây truyền qua đường tình dục lâu ngày không điều trị, dẫn đến suy đa tạng và tử vong tại phòng trọ cách đây ba ngày. Anh là thân nhân duy nhất của bà ấy.”


Viên pháp y đưa cho tôi một xấp giấy tờ:


“Kèm theo đó là các biên bản đòi nợ từ các tổ chức tín dụng đen. Tổng số tiền nợ gốc và lãi nạn nhân để lại lên tới hơn ba tỷ đồng.”


Tôi không khóc, cũng không nói một lời nào. Tôi đứng trơ trơ như một khúc gỗ mục, nhìn chằm chằm vào khuôn mặt nhăn nheo, biến dạng vì bệnh tật của người mẹ từng đạp nát tuổi thơ tôi.


Mười năm lưu đày trong trại giáo dưỡng đổi lại một cuộc trùng phùng bên bàn mổ tử thi. Không có một lời trăn trối. Không có sự ân hận muộn màng. Bà ấy đã ra đi, để lại cho tôi một vết nhơ muôn đời và một món nợ khổng lồ không thể gánh vác.


“Mẹ à... rốt cuộc cuộc đời con là cái thứ gì đối với mẹ vậy...?”


Hoàng hôn buông xuống.


Tôi ngồi một mình giữa ngọn đồi lộng gió ngoại ô, nơi thảm cỏ xanh ngát trải dài mênh mông dưới bóng râm của một cây cổ thụ khổng lồ.


Đây là nơi bí mật duy nhất của tôi từ thuở ấu thơ — nơi duy nhất tôi có thể nằm xuống, cảm nhận từng đợt gió xuân mát rượi mơn man trên da thịt mà không bị ai xua đuổi, không bị ai nhìn ngó bằng ánh mắt khinh miệt.


Tôi không cần giàu sang, không cần ngai vàng du thuyền, cũng chẳng cần ai bồi thường mười năm thanh xuân trong ngục tối. Tôi chỉ ước ao có một ngày, nhân loại sẽ nhớ đến tôi như một con người bằng xương bằng thịt... chứ không phải một con quái vật gánh chịu mọi tội vạ của kẻ khác.


Họ nhớ sai cũng được. Họ coi tôi là một hạt cát méo mó cũng được. Miễn là... họ thừa nhận tôi từng tồn tại trên cõi đời này.


Gió xuân thổi qua từng kẽ lá cổ thụ, xào xạc như tiếng thở dài của đất trời.


Nước mắt tôi đã cạn khô từ lâu rồi. Từ từ nhắm nghiền hai mắt lại, tôi để mặc cho sự mệt mỏi và cô độc giằng xé linh hồn mình tan biến vào hư không...


Gió lại thổi.


Thảo nguyên xanh ngát dưới chân khẽ dập dềnh như một mặt hồ.


Người đàn ông khoác hàng chục lớp chăn bông rách rưới dưới gốc cây cổ thụ khẽ ngước mắt lên nhìn Tùng Lâm. Ba con cá vàng phát sáng vẫn lơ lửng bơi quanh mái tóc nửa đen nửa trắng của gã.


Gã nhìn thằng nhóc mười sáu tuổi đang trừng mắt chĩa tay vào mặt mình, bờ môi khô nứt khẽ mấp máy, ngập ngừng hồi lâu trước khi thốt lên hai từ:


“Ta...”


Ánh mắt gã chùng xuống, sâu thẳm như đáy vực không cùng:


“...Mandelus.”

0