Mặc Kiếm Tàng Thiên

Quyển 3: Hồi Iii: Tàng Phong Trung Châu

Chương 2: Ba Năm Tiềm Tu

Đăng: 17/08/2026 14:13 4,313 từ 1 lượt đọc

Hồi III – Chương 2: Ba Năm Tàng Tu

Ngày hôm sau, Mặc Ngôn không đợi Tạ Phúc.

Sau khi nhận ngọc bài, hắn tự mình đi tới khu động phủ tầng dưới. Theo quy củ ghi trên khế thư, khách khanh mới có thể nhận động phủ sau giờ Ngọ. Trước đó, hắn đứng trong một gian trà nhỏ đối diện Tàng Vụ Điện, gọi một bình trà linh hạ phẩm, chậm rãi đọc lại từng điều khoản trong ngọc giản.

Vạn Pháp Lâu không cấm khách khanh đổi tên, nhưng thẻ thân phận chỉ ghi khí tức bề mặt. Không được dùng danh nghĩa của lâu để giải quyết thù riêng. Không được tự tiện mang pháp khí chưa đăng ký qua thủy môn. Mỗi tháng nộp hai viên linh thạch trung phẩm. Trong ba năm phải hoàn thành một nhiệm vụ định kỳ do Tàng Vụ Điện giao hoặc phê chuẩn.

Những điều khoản ấy không rộng rãi, nhưng rõ ràng.

Đến giờ Ngọ, Mặc Ngôn cầm ngọc bài đi qua hành lang phía sau Ngự Thủy Viện. Không có Tạ Phúc dẫn đường, hắn phải tự đối chiếu ký hiệu trên thẻ với các cọc đá ven đường. Khu động phủ nằm thấp hơn mặt đất một tầng, xây men theo vách núi phía tây nam Vạn Pháp Lâu. Mười tám cửa đá nối tiếp nhau, mỗi cửa có một khe lõm hình dòng nước.

Động phủ số mười bảy ở cuối hành lang.

Mặc Ngôn đặt ngọc bài lên khe đá. Nửa con dấu trên mặt ngọc sáng lên, cấm chế trước cửa dao động một lát rồi tách sang hai bên.

Bên trong chỉ có một bệ dẫn linh, một giường đá, một bàn ngọc và một cửa thông khí nhỏ nối ra khe núi. Linh khí sạch hơn bên ngoài, nhưng không dày. Phí thuê hai viên linh thạch trung phẩm mỗi tháng, không bao gồm phòng luyện công và các vật dụng phụ trợ.

Mặc Ngôn đóng cửa lại.

Hắn không ngồi xuống giường ngay, mà lấy ba viên đá cảnh giới đặt dưới khe cửa, bên cạnh bệ dẫn linh và sau cửa thông khí. Một sợi tơ bạc được căng ngang lối vào, đầu tơ nối với mảnh đồng mỏng trong túi trữ vật. Nếu có người chạm vào cấm chế ngoài cửa, mảnh đồng sẽ rung lên trước khi thần thức đối phương tiến vào động phủ.

Sau đó, hắn đi quanh phòng ba vòng.

Không có gian ngầm. Không có cấm chế ẩn. Bệ dẫn linh chỉ nối với linh mạch chung của Vạn Pháp Lâu, không có dấu hiệu bị người khác lén phân nhánh. Cửa thông khí mở ra một khe núi hẹp, bên ngoài là vách đá dựng đứng. Nếu xảy ra biến cố, nơi này không phải đường lui tốt, nhưng ít nhất không có người có thể đứng bên ngoài nhìn thẳng vào cửa động phủ.

Mặc Ngôn lấy những vật liên quan đến Tạ gia ra khỏi túi trữ vật.

Mảnh đồng, Mảnh Dẫn Thủy Cửu U, hộp ngọc chứa Vấn Tâm Ngọc Bích và ngọc giản Vạn Thủy Phân Thần Quyết được đặt ở ba vị trí khác nhau. Linh thạch còn lại chia thành bốn phần. Một phần dùng trả phí động phủ, một phần mua đan dược và vật liệu, một phần để luyện pháp, phần cuối không động tới.

Ba tháng đầu, Mặc Ngôn không nhận nhiệm vụ.

Hắn dùng hơn nửa tháng để luyện hóa phần hàn sát còn sót lại trong kinh mạch. Thương thế ở vai trái và sườn phải đã khép miệng, nhưng mỗi khi vận chuyển chân nguyên quá nhanh, hai nơi ấy vẫn đau như bị kim lạnh châm vào. Chân nguyên Trúc Cơ mới sinh không giống linh lực Luyện Khí. Nó nặng hơn, mạnh hơn, nhưng cũng khó điều khiển hơn. Một lần dẫn sai, kinh mạch sẽ chịu phản chấn ngay lập tức.

Mặc Ngôn không dùng Hồi Nguyên đan trong giai đoạn này. Dược lực của loại đan ấy thích hợp để khôi phục chân nguyên sau giao chiến, không thích hợp lạm dụng trong lúc căn cơ còn chưa ổn. Hắn chỉ dùng hai viên Dưỡng Mạch đan lấy được từ kho Tạ gia, mỗi viên cách nhau mười ngày, rồi để thân thể tự điều chỉnh.

Bình thường, hắn vận hành Thái Hư Tĩnh Nguyên Kinh ba mươi sáu chu thiên mỗi ngày.

Mười hai chu thiên đầu dùng để thanh lọc chân nguyên. Mười hai chu thiên tiếp theo dẫn linh khí qua các huyệt khiếu quanh đan điền. Mười hai chu thiên cuối cùng nén phần chân nguyên đã luyện hóa thành từng lớp mỏng, chậm rãi bồi đắp nền móng Trúc Cơ.

Vấn Tâm Ngọc Bích giúp tốc độ hấp thu linh khí tăng khoảng hai thành. Nhưng khi linh khí vào nhanh hơn, tạp khí cũng dễ theo vào hơn. Có hôm, sau bảy chu thiên liên tiếp, Mặc Ngôn cảm thấy chân nguyên trong đan điền trở nên đục. Hắn lập tức dừng lại, tản linh lực ra ngoài theo từng sợi nhỏ, không cố giữ phần linh khí chưa luyện hóa.

Suốt một đêm, tu vi không tăng thêm chút nào.

Sáng hôm sau, khí tức trong đan điền mới trở lại bình ổn.

Từ đó, hắn không còn cố định số chu thiên phải hoàn thành trong ngày. Khi chân nguyên sạch, hắn vận công lâu hơn. Khi tạp khí tích lại, hắn ngừng tu luyện, đọc ngọc giản hoặc ra khe núi quan sát dòng linh khí thay đổi theo giờ.

Đến cuối tháng thứ nhất, nền móng Trúc Cơ đã ổn định.

Hắn bắt đầu đọc Vạn Thủy Phân Thần Quyết.

Ngọc giản màu lam đậm chỉ có tầng đầu. Pháp môn này không làm thần thức tăng vọt, cũng không mở rộng phạm vi dò xét bằng cách cưỡng ép. Nó rèn cho thần thức ổn định và linh hoạt hơn, giúp người tu luyện chuyển sự chú ý giữa nhiều biến hóa trong thời gian ngắn mà không dễ bị rối loạn.

Trong bảy ngày đầu, Mặc Ngôn dùng thần thức men theo khe cửa, nhận biết người đi qua hành lang và những chỗ linh khí dao động bất thường. Sang tuần thứ hai, hắn vừa vận công vừa quan sát đường đi của chân nguyên trong kinh mạch, nhờ đó sớm nhận ra phần tạp khí còn sót lại.

Khi luyện tập chiến đấu, công pháp giúp hắn giữ được khả năng quan sát trong lúc né tránh, đổi vị trí và tìm kiếm sơ hở. Nó không làm thân pháp nhanh hơn, không tăng uy lực pháp thuật và không thể bù đắp chênh lệch cảnh giới.

Mỗi khi dò xét quá xa hoặc cố theo dõi quá nhiều biến hóa, đầu óc Mặc Ngôn lập tức đau nhức. Có lần, hắn vừa vận công vừa quan sát người bên ngoài, khiến một luồng chân nguyên đi lệch khỏi tâm mạch. Hắn phải thu công, ngồi yên gần nửa canh giờ mới bình ổn lại.

Về sau, khả năng giữ thần thức ổn định này còn có thể giúp hắn theo dõi ngọn lửa và dược tính khi luyện đan, hoặc duy trì liên kết, truyền mệnh lệnh cho khôi lỗi. Nhưng đó chỉ là nền tảng. Ở tầng đầu, hắn chưa thể dựa vào công pháp để luyện đan cấp cao hay điều khiển nhiều khôi lỗi cùng lúc.

Sau lần đó, Mặc Ngôn không cố ép thần thức làm nhiều việc hơn khả năng. Khi tu luyện, hắn ưu tiên quan sát chân nguyên. Khi dò xét, hắn giảm tốc độ vận công. Khi giao chiến, hắn chỉ theo dõi những biến hóa có thể ảnh hưởng trực tiếp đến đường sống.

Khai Tâm Ấn được hắn đặt sau pháp môn thần thức.

Mỗi tối, Mặc Ngôn lấy một khối đồng cũ đặt trên bàn ngọc. Hắn không luyện chưởng pháp ngay, chỉ lặp lại hình ảnh đã nhìn thấy trong Vấn Tâm Ngọc Bích.

Ngón cái ép vào ngón cái. Hai ngón trỏ dựng chéo. Ba ngón còn lại khép sát lòng bàn tay.

Sau ba nhịp thở, hai bàn tay mở ra, chân nguyên từ tâm mạch dồn về lòng bàn tay phải.

Lần đầu tiên kết ấn, chân nguyên trong cơ thể hắn bị kéo qua tâm mạch quá gấp. Hai ngón trỏ vừa chạm nhau, một cơn đau nhói đã chạy từ ngực xuống cánh tay. Mặc Ngôn lập tức buông ấn. Nếu chậm thêm một nhịp, tâm mạch có thể bị chấn thương.

Ba ngày sau, hắn vận hành Thái Hư Tĩnh Nguyên Kinh, để chân nguyên đi qua tâm mạch hơn mười lần. Khi dòng lực đã mềm xuống, hắn mới bắt đầu kết ấn lần thứ hai.

Lần này, hắn giữ được ba nhịp thở nhưng chưởng lực không thành. Lòng bàn tay chỉ phát ra một luồng khí yếu, đẩy khối đồng lui chưa tới nửa tấc.

Lần thứ ba, hắn kéo chân nguyên mạnh hơn.

Khối đồng rung lên, một dấu tay nhạt hiện ra trên mặt ngoài. Cùng lúc đó, ngực Mặc Ngôn đau buốt. Hắn thu công, phun ra một ngụm máu nhỏ.

Hắn lau máu, nhìn dấu tay trên khối đồng rồi lấy thẻ tre ghi lại ba dòng.

Chân nguyên chưa tinh thuần.

Kết ấn chậm.

Không được để thủ ấn bị gián đoạn.

Từ đó, mỗi ngày hắn chỉ luyện năm lần. Sau mỗi lần, hắn vận công một chu thiên để kiểm tra tâm mạch. Nếu cảm thấy chân nguyên dao động bất thường, hắn lập tức dừng lại.

Đến cuối tháng thứ ba, thời gian kết ấn giảm xuống còn ba nhịp thở. Uy lực cũng mạnh hơn. Khi đánh trúng chính giữa khối đồng, chưởng lực có thể làm cấm chế mô phỏng bên trong tắt đi trong một sát na.

Nhưng Mặc Ngôn không xem đó là một pháp môn có thể dùng tùy tiện.

Ba nhịp thở trong động phủ là ba nhịp thở có người đứng yên trước mặt. Trong giao chiến, đối phương sẽ không cho hắn thời gian ấy. Nếu kết ấn bị cắt ngang, chân nguyên dồn ở tâm mạch sẽ phản chấn ngược, nhẹ thì tê liệt cánh tay, nặng thì làm tổn thương tâm mạch.

Khai Tâm Ấn chỉ có thể dùng sau khi đã tạo được khoảng trống.

Mặc Ngôn ghi nhớ điều đó, không cố rút ngắn bằng cách cưỡng ép.

Năm đầu tiên, hắn bắt đầu ra vào Tàng Vụ Điện.

Hắn không tới để tìm việc có thù lao cao. Mỗi lần đến, hắn đứng trước bảng nhiệm vụ một lúc lâu, ghi lại địa điểm, thời hạn, số người nhận và điều kiện rút lui. Nhiệm vụ áp tải qua Mộ Lan có linh thạch nhiều hơn, nhưng tuyến đường thường gặp cướp tu và người dò tin của các thế lực lớn. Nhiệm vụ thu hồi pháp khí ở vùng núi phía tây yêu cầu đi xa, tiền công cao nhưng không ghi rõ tình trạng cấm chế.

Mặc Ngôn chọn nhiệm vụ giữ tuyến thủy môn phía bắc Thanh Hà.

Nhiệm vụ kéo dài hai năm, gồm kiểm tra ba cọc dẫn linh, một thủy môn phụ và hai điểm neo trận pháp. Tàng Vụ Điện ghi trên khế nhiệm vụ đây là một tuyến liên tục, mỗi tháng chỉ cần nộp một bản ghi chép, khi phát hiện biến động phải báo trước khi tự ý sửa chữa.

Mặc Ngôn nhận việc vào tháng thứ tư.

Hắn không nhờ Tạ Phúc giới thiệu, cũng không hỏi người giữ đèn về tuyến đường. Tạ Phúc chỉ đóng dấu bảo lãnh trong hồ sơ nhập lâu; phần công việc còn lại do Tàng Vụ Điện phân phối.

Lần đầu đi kiểm tra, hắn mang theo hai viên linh thạch trung phẩm, bốn tấm Thủy Ảnh phù, một bình Hồi Nguyên đan chưa dùng và ba sợi dây dò cấm chế. Hắn đi bằng thuyền công vụ của Vạn Pháp Lâu, nhưng không ngồi trong khoang chính. Đến gần từng thủy môn, hắn xuống trước một đoạn, đi vòng qua bờ đá kiểm tra dấu chân và vết cắt trên cọc dẫn linh, sau đó mới báo vị trí cho người phụ trách.

Ba cọc dẫn linh không có vấn đề.

Ở điểm neo thứ hai, một sợi linh tuyến bị thay bằng dây đồng thường. Người làm việc đó không đủ tu vi để phá trận, chỉ có thể đã tháo ra rồi lắp lại trong lúc bảo trì. Mặc Ngôn không tự tay sửa. Hắn dùng Thủy Ảnh phù ghi lại tình trạng, đánh dấu tọa độ và gửi báo cáo về Tàng Vụ Điện.

Ba ngày sau, Vạn Pháp Lâu cử một trận sư đến xử lý.

Người kia kiểm tra xong, xác nhận sợi dây đồng đã bị tráo từ hơn một tháng trước. Nếu thủy áp tăng mạnh, điểm neo sẽ đứt, cả đoạn thủy môn phụ có thể tê liệt trong vài canh giờ.

Tàng Vụ Điện gửi thêm năm viên linh thạch hạ phẩm làm tiền thưởng phát hiện lỗi.

Mặc Ngôn nhận, không hỏi ai đã làm.

Một việc không thuộc phần hắn, biết quá sâu chỉ khiến bản thân dễ bị kéo vào. Hắn chỉ ghi thêm một dòng vào bản chép riêng: từ thủy môn phụ đến bến hàng cũ, có một người thường xuyên dùng thuyền không treo dấu của Vạn Pháp Lâu.

Sau lần đó, hắn hoàn thành các chuyến kiểm tra còn lại đúng hạn. Mỗi lần chỉ ở ngoài thành đủ lâu để làm xong việc, không lưu lại nơi đông người. Khi quay về động phủ, hắn dùng nước linh rửa giày, đốt bỏ dây dò đã qua sử dụng và kiểm tra lại ngọc bài khách khanh.

Nhiệm vụ giữ tuyến không đem lại danh tiếng.

Nhưng sau một năm, hắn đã biết được ba bến nước nào có thể rút lui, hai tuyến thủy đạo nào thường đổi dòng, giờ nào thủy môn mở cấm chế và địa điểm nào không nên xuất hiện quá ba lần trong một tháng.

Tu vi của Mặc Ngôn cũng từ từ tăng lên.

Cuối năm thứ nhất, hắn bước vào Trúc Cơ sơ kỳ trung đoạn. Không có dị tượng, không có linh quang tràn ra ngoài động phủ. Chỉ là sau một đêm vận công, một vệt tạp khí cuối cùng trong đan điền bị luyện hóa, chân nguyên trở nên nặng hơn một phần.

Năm thứ hai, hắn bắt đầu thuê phòng luyện công theo giờ.

Động phủ số mười bảy chỉ có cấm chế ngăn thần thức dò xét. Nếu luyện Khai Tâm Ấn ở đó, một lần phản chấn cũng có thể làm hỏng bệ dẫn linh. Mặc Ngôn không tiếc linh thạch, nhưng càng không muốn để người của Vạn Pháp Lâu nhớ rằng động phủ của một khách khanh thường xuyên phát ra chấn động bất thường.

Phòng luyện công dưới Tàng Vụ Điện có tám cột đá và một khối đồng đặt ở giữa. Khối đồng được cấm chế điều khiển, mỗi lần sẽ đánh ra một luồng linh lực với phương hướng khác nhau. Người luyện phải tránh đòn, tiến vào phạm vi một trượng rồi đánh trúng khối đồng trước khi lớp hộ thể khôi phục.

Mười lần đầu, Mặc Ngôn thất bại cả mười.

Có lần hắn dùng Định Giới Bộ tránh luồng linh lực nhưng bước chân chưa đứng vững đã bắt đầu kết ấn. Hai ngón tay vừa dựng lên, một đạo linh lực quét ngang vai phải. Hắn lập tức buông ấn, lùi ra sau. Nếu cố hoàn thành, luồng lực đang dồn ở tâm mạch sẽ bị cắt ngang.

Có lần khác, hắn dùng Vô Trần Kiếm Thức đánh lệch luồng linh lực trước, nhưng kiếm khí tiêu hao quá nhiều chân nguyên. Đến khi áp sát khối đồng, Khai Môn Ấn đã chậm hơn nửa nhịp.

Mặc Ngôn ngồi dưới chân cột đá, đợi cánh tay hết tê rồi mới đứng lên.

Hắn không tăng số lần luyện. Mỗi ngày chỉ thuê phòng một canh giờ, trong đó dành nửa canh giờ quan sát cấm chế vận chuyển, nửa canh giờ thực sự ra tay.

Sau nhiều lần thử, hắn đổi cách vận lực.

Trước đây, hắn chờ đến lúc kết ấn mới kéo toàn bộ chân nguyên từ đan điền lên tâm mạch. Cách ấy giữ được lực mạnh, nhưng tốc độ chậm. Về sau, hắn để một phần chân nguyên tinh thuần lắng sẵn ở tâm mạch. Khi cần kết ấn, chỉ dẫn phần còn lại qua hai điểm giao hội ở ngực và vai phải.

Kết ấn không mạnh hơn.

Nhưng thời gian chuẩn bị giảm xuống còn hai nhịp thở khi tâm thần hoàn toàn bình tĩnh.

Trong lúc giao chiến, thời gian vẫn dài hơn. Chỉ cần có pháp khí áp sát hoặc chân nguyên trong cơ thể bị xáo trộn, hai nhịp thở ấy có thể kéo thành ba, thậm chí bốn nhịp.

Mặc Ngôn không tìm cách biến Khai Tâm Ấn thành chiêu thức chủ lực.

Hắn dùng Vô Trần Kiếm Thức để ép đối phương thu hộ thể về một điểm, dùng Định Giới Bộ đổi vị trí, rồi chỉ kết ấn khi khoảng cách và góc đánh cùng có lợi. Nếu đối phương không để lộ sơ hở, hắn không dùng chưởng pháp. Nếu đang kết ấn mà có dấu hiệu bị gián đoạn, hắn lập tức tản chân nguyên, dù phải chịu mất một phần lực.

Pháp môn mạnh không có nghĩa lúc nào cũng nên dùng.

Vạn Thủy Phân Thần Quyết cũng được hắn luyện trong năm thứ hai.

Mặc Ngôn dùng thần thức ghi nhận vị trí cửa phòng, theo dõi vận chuyển chân nguyên và cảm nhận hướng dao động của khối đồng. Khi cấm chế phát lực, hắn không nhìn thẳng vào mục tiêu mà dựa vào biến hóa linh khí để đoán hướng đòn đánh.

Năm lần đầu, lượng thông tin dồn tới quá nhiều, khiến bước chân của hắn chậm đi.

Đến lần thứ mười ba, hắn né được luồng lực thứ nhất, đổi vị trí bằng Định Giới Bộ, đồng thời dùng kiếm khí mỏng chạm vào khe hộ thể của khối đồng. Cấm chế mở ra một khoảng nhỏ. Hắn không kết ấn ngay, mà lùi lại nửa bước, chờ lớp lực bên ngoài tan đi.

Luồng lực thứ hai đến từ bên trái.

Mặc Ngôn nghiêng người tránh, chân phải đặt xuống đúng vị trí đã tính trước. Hai ngón trỏ dựng chéo.

Hai nhịp thở sau, lòng bàn tay phải đánh vào khối đồng.

Âm thanh vang lên trầm đục. Lớp hộ thể ngoài cùng lõm sâu, cấm chế bên trong tắt đi ba nhịp rồi mới sáng trở lại.

Mặc Ngôn không cất tiếng. Hắn chỉ lấy thẻ tre ra, ghi thêm một dòng.

Không tăng lực. Giảm thời gian chờ.

Cuối năm thứ hai, tu vi của hắn tiến tới Trúc Cơ sơ kỳ hậu đoạn.

Khoảng cách đến trung kỳ đã nhìn thấy, nhưng hắn không vội bước qua.

Trong ba năm qua, hắn từng nhiều lần cảm nhận đan điền đã chạm tới giới hạn của sơ kỳ. Chỉ cần tiếp tục hấp thu linh khí, rất có thể sẽ hình thành lực đẩy phá cảnh. Nhưng mỗi lần kiểm tra, hắn vẫn thấy một lớp chân nguyên mỏng chưa hoàn toàn đồng nhất nằm sát tâm mạch. Lớp ấy không đủ gây nguy hiểm trong giao chiến, nhưng nếu dùng làm nền để đột phá, sẽ khiến căn cơ bị lệch.

Mặc Ngôn chọn cách ép tu vi dừng lại.

Hắn giảm lượng linh khí dẫn vào, tăng thời gian luyện hóa, dùng những ngày rảnh để sửa phù, mài pháp kiếm và ghi lại các tuyến thủy đạo quanh Thanh Hà. Tu vi không tăng nhanh, nhưng từng phần chân nguyên trong cơ thể càng lúc càng ổn định.

Năm thứ ba, hắn hoàn thành nốt nhiệm vụ giữ tuyến.

Hai điểm neo trận pháp bị lệch không phải do hư hỏng tự nhiên. Một điểm nằm gần bến hàng cũ, một điểm nằm dưới cầu đá phía bắc. Mặc Ngôn không tự ý chạm vào chúng. Hắn dùng thần thức rà dọc linh tuyến, kiểm tra vết mòn trên đá, ghi lại từng biến động rồi báo về Tàng Vụ Điện.

Sau khi trận sư của Vạn Pháp Lâu tới sửa, Hà Dịch gửi cho hắn một ngọc giản xác nhận nhiệm vụ đã hoàn tất.

Khế ước ba năm vẫn còn hơn nửa năm mới hết hạn.

Trong khoảng thời gian ấy, Mặc Ngôn không nhận thêm nhiệm vụ bên ngoài. Hắn dành phần lớn thời gian bế quan, chỉ thỉnh thoảng tới Tàng Vụ Điện xem bảng công việc mới.

Linh khí trong động phủ số mười bảy không đủ để hắn xung kích Trúc Cơ trung kỳ, nhưng đủ để mài giũa phần nền móng còn lại. Vấn Tâm Ngọc Bích vẫn tăng tốc độ hấp thu thêm khoảng hai thành. Hắn duy trì một vòng tuần hoàn cố định: hấp thu, luyện hóa, kiểm tra tạp khí, rồi ngừng lại trước khi chân nguyên trở nên nặng nề.

Sau nhiều tháng như vậy, lớp chân nguyên chưa đồng nhất quanh tâm mạch dần tan đi.

Đến cuối năm thứ ba, Mặc Ngôn đạt tới Trúc Cơ sơ kỳ đỉnh phong.

Hắn không lập tức xung kích trung kỳ.

Trong động phủ, linh khí bắt đầu xoáy quanh bệ dẫn linh. Mặc Ngôn chỉ nhìn một lát rồi dùng linh thạch chặn lại. Đột phá một cảnh giới nhỏ không phải việc có thể dựa vào may mắn. Trước khi tiến vào trung kỳ, hắn cần chuẩn bị đan dược, một nơi có linh mạch ổn định hơn và ít nhất hai đường lui nếu chân nguyên phản chấn.

Ngày khế ước sắp hết hạn, hắn tới Tàng Vụ Điện.

Hà Dịch đang xem một xấp ngọc giản. Thấy Mặc Ngôn tới, ông lấy ra khế thư mới nhưng chưa mở.

“Khách khanh Mặc Thanh. Kỳ hạn cũ sắp kết thúc. Có gia hạn không?”

“Có.”

“Đã hoàn thành nhiệm vụ định kỳ?”

Mặc Ngôn đặt ngọc giản xác nhận lên bàn.

Hà Dịch mở ra xem, ngón tay lướt qua ba điểm đánh dấu trên thủy đồ.

“Nhiệm vụ giữ tuyến phía bắc. Hai năm sáu tháng. Ba cọc dẫn linh, một thủy môn phụ và hai điểm neo trận pháp. Không có thiệt hại.”

“Đúng.”

“Muốn tiếp tục nhận việc gần Thanh Hà hay đổi tuyến?”

Mặc Ngôn không trả lời ngay.

Một tấm ngọc giản màu trắng xanh nằm trong khay nhiệm vụ mới. Trên mặt giản có dấu nửa vầng trăng. Bên dưới ghi tên người phụ trách: chấp sự Bách Thảo Cốc. Hàng hóa là linh tài cần chuyển tới Băng Hà Cổ Trạm, thời hạn một năm, thù lao cao hơn nhiều so với nhiệm vụ giữ tuyến.

Mặc Ngôn cầm ngọc giản lên nhưng chưa truyền thần thức vào.

“Có bao nhiêu người đã đăng ký?”

“Hai người.”

“Cảnh giới?”

“Hai khách khanh Trúc Cơ. Một người không ghi rõ công pháp, một người dùng kiếm.”

“Người phụ trách của Bách Thảo Cốc có ở đây không?”

“Chưa. Đoàn áp tải tập hợp sau mười ngày.”

Mặc Ngôn đặt ngọc giản xuống.

Hắn hỏi thêm thời hạn xuất phát, tuyến đường dự kiến và quyền rút khỏi nhiệm vụ. Hà Dịch lần lượt trả lời. Đoàn sẽ rời Vạn Pháp Lâu theo tuyến thủy phía tây, đi lên vùng bắc Trung Châu, sau đó chuyển sang đường núi gần lãnh địa Huyền Linh Cốc. Khi vào rìa nam Huyền Băng Tuyết Nguyên, linh tài sẽ được giao tại Băng Hà Cổ Trạm.

Tuyến đường dài, nhưng phần lớn nằm trong khu vực có trạm của các tông môn trung lập và chính đạo. Nhiệm vụ có người của Bách Thảo Cốc đứng tên, Vạn Pháp Lâu chịu trách nhiệm vận chuyển, hai bên đều có lợi ích trong việc giữ hàng hóa nguyên vẹn.

Mặc Ngôn vẫn chưa nhận ngay.

Dấu nửa vầng trăng trên ngọc giản trùng với một vệt sáng từng xuất hiện trong thức hải hắn. Không đủ để kết luận đây là cái bẫy, nhưng cũng không thể xem như trùng hợp bình thường.

Hắn lấy một viên linh thạch trung phẩm đặt lên bàn.

“Ta nhận nhiệm vụ này. Nhưng trước khi xuất phát, ta muốn xem bản đồ thủy đạo và danh sách đầy đủ hàng hóa.”

Hà Dịch thu linh thạch, đẩy ngọc giản về phía hắn.

“Có thể. Ngươi có mười ngày chuẩn bị.”

Mặc Ngôn cất ngọc giản vào tay áo.

Ba năm trước, hắn vào Vạn Pháp Lâu với một căn cơ vừa dựng, một thân phận tạm thời và vài món vật chưa hiểu rõ lai lịch.

Ba năm sau, hắn có một động phủ, một nhiệm vụ đã hoàn tất, tu vi Trúc Cơ sơ kỳ đỉnh phong và một pháp môn chưởng ấn vẫn chưa thể dùng tùy tiện.

Ngoài Tàng Vụ Điện, tiếng chuông thủy môn vang lên một tiếng dài. Hắn đi về phía tây bắc, nhưng trong tay áo, ngọc giản có dấu nửa vầng trăng lại khẽ rung lên một lần.

Lần này, trên mặt ngọc giản hiện ra thêm một hàng chữ vốn chưa từng được ghi trong bảng nhiệm vụ:

Người áp tải thứ ba — chưa xác định.

Hết Hồi III – Chương 2.

Chương sau: Đoàn Áp Tải Bắc Hành.

0