Chương 6: Căn Nhà Tranh Vách Lá Và Con Sông Nhỏ
Năm tôi hai tuổi, dì ba theo chồng. Sau này tôi gọi dì ba là mẹ Oanh, chồng mẹ là cha Hùng. Tôi không nhớ mình bắt đầu gọi từ khi nào, nhưng họ xem tôi là con thật sự.
Tôi không nhớ rõ ngày dì đi. Trí nhớ của một đứa trẻ hai tuổi chỉ là những mảnh vụn, như mảnh chén vỡ nằm dưới bếp. Nhưng có một buổi sáng, tôi thức dậy, thấy nhà vắng đi một người. Chỗ nằm của dì ba trống trơn. Cái gối dì thường gối đầu xếp ngay ngắn ở đầu giường, nhưng không còn dì nằm đó nữa.
Tôi hỏi ngoại: "Dì ba đâu rồi?"
Ngoại đang nhóm lửa nấu cơm, ngước lên, nói: "Dì ba con đi lấy chồng rồi. Ở xa lắm."
Tôi không hiểu "lấy chồng" là gì. Tôi chỉ biết dì ba không còn ở nhà nữa. Tôi lặng lẽ đi ra sân, ngồi xuống bậc thềm, nhìn con sông trước nhà. Nước vẫn chảy, gió vẫn thổi, mọi thứ vẫn y nguyên. Chỉ có nhà là vắng.
Dì út từ nhà sau bước lên, thấy tôi ngồi buồn, lại gần bế tôi lên: "An nhớ dì ba hả? Dì ba đi rồi, nhưng còn út nè. Còn ngoại nè. Không sao đâu."
Tôi gục đầu vào vai dì út, không nói. Tôi không khóc, vì tôi chưa kịp hiểu nỗi nhớ là gì. Nhưng tôi cảm thấy lòng mình hụt hẫng, như căn nhà vừa trống đi một khoảng.
Sau này, dì ba vẫn về thăm. Dì về cùng dượng ba, tay xách con cá, mớ rau. Dì cười giòn tan, nói chuyện rôm rả. Rồi dì lại đi. Mỗi lần dì đi, tôi không khóc, nhưng tôi biết mình vừa mất đi một người để gần gũi.
Vậy là trong nhà chỉ còn ngoại, dì út và tôi.
Ba con người. Một căn nhà tranh vách lá. Một con sông trước cửa, một con mương sau hè, xung quanh là đồng cỏ mênh mông.
Lúc tôi bốn tuổi, ngoại bắt đầu nuôi vịt chạy đồng.
Hồi đó, người ta nuôi vịt chạy đồng là thả vịt ra ruộng sau mùa gặt, cho vịt ăn lúa rơi, ăn ốc bươu, ăn cá nhỏ. Đàn vịt chạy đồng đi từ ruộng này sang ruộng khác, người nuôi đi theo, nên gọi là "chạy đồng". Ngoại dắt đàn vịt đi từ sáng sớm, đến chiều tối mới về. Có hôm đi xa, ngoại ngủ luôn ngoài đồng, dựng cái chòi lá nhỏ để giữ vịt.
Dì út thì đi làm phụ hồ. Hồi đó, dì út còn trẻ, khỏe mạnh, ai kêu gì làm nấy. Dì đi từ tờ mờ sáng, tối mịt mới về. Người dì đen nhẻm, tay chân chai sạn, nhưng dì cười vẫn tươi.
Vậy là ban ngày, tôi ở nhà một mình.
Căn nhà tranh vách lá nằm trong một con hẻm cụt, chỉ duy nhất một ngôi nhà. Trước cửa và hông nhà là con sông nhỏ. Sau hè là con mương. Xung quanh là đồng cỏ và ruộng lúa, không có hàng xóm sát bên. Nhà gần nhất là nhà dì Tư Lê, nằm ở ngoài ruộng, cách một quãng.
Ngoại đi giữ vịt, dì út đi phụ hồ. Tôi ở nhà.
Ngoại dặn: "An ở trong nhà, đừng đi đâu hết. Cơm ngoại nấu sẵn trên bếp, đói thì ăn. Buồn thì mở vô tuyến coi. Ngoại về sớm."
Tôi gật đầu.
Nhà tôi thời đó có một cái tivi, gọi là "vô tuyến". Không phải tivi màu, mà là tivi đen trắng, bắt sóng bằng cây ăng-ten treo ngoài cửa. Phim chiếu mỗi buổi sáng, thường là phim cổ tích, phim ca nhạc, phim truyện. Tôi nằm trên giường, mở tivi, xem hết chương trình này đến chương trình khác.
Ăn cơm rồi lăn ra ngủ. Dậy xem tivi. Rồi lại ăn. Rồi lại ngủ.
Có hôm ngoại về, thấy tôi còn ngủ, trên giường có bốn cái chén. Bốn cái chén của bốn bữa ăn. Chén nào cũng sạch bóng, không còn hột cơm nào. Ngoại hỏi: "Con ăn gì vậy?"
Tôi nói: "Có lúc ăn cơm với nước tương. Có lúc ăn với đường."
Ngoại nghe xong, im lặng. Ngoại xoa đầu tôi, nói: "Ngoại xin lỗi con."
Tôi không hiểu vì sao ngoại xin lỗi. Tôi thấy cơm với nước tương cũng ngon. Cơm với đường cũng ngọt. Tôi không thấy khổ. Tôi chỉ thấy ở nhà một mình cũng được, vì có tivi, có cơm, có giường.
Nhưng có một lần tôi sợ thật sự.
Nhà tôi có nuôi heo. Một chuồng heo nhỏ phía sau hè. Hôm đó, tụi heo đói, la hét inh ỏi. Tiếng kêu eng éc vang khắp xóm. Tôi còn nhỏ, mới bốn tuổi, nhưng nghe tiếng heo kêu mà sốt ruột. Tôi xoắn tay áo, đi ra chuồng heo.
Tôi biết trộn cám. Ngoại dạy tôi rồi. Lấy cám khô, trộn nước, rồi đổ vào máng. Tôi làm được. Nhưng tụi heo đói quá, cứ trèo lên, gặm cái gào, làm đổ cám khắp nơi. Cám dính trên đầu heo, trên người tôi. Tôi lùi lại, nhưng tụi heo cứ nhào tới, kéo cả cái mùng che chuồng xuống cắn xé.
Tôi sợ quá. Tôi hét lên: "Bới làng xóm ơi! Cứu con với!"
Tiếng hét của tôi vang lên giữa đồng không mông quạnh. Dì Tư Lê ngoài ruộng nghe được, chạy qua. Dì thấy tôi đứng giữa đàn heo, người dính đầy cám, mặt tái mét. Dì bế tôi lên, đuổi heo, rồi dọn dẹp cám đổ.
"Nhỏ An làm gì vậy? Sao ra đây cho heo ăn? Nguy hiểm lắm!" Dì Tư Lê vừa la vừa thương.
Tôi mếu máo: "Tại tụi nó kêu đói. Con thương tụi nó."
Dì Tư Lê ôm tôi, cười: "Trời ơi, con nhỏ này thiệt... bệnh tim mà còn đi cho heo ăn. Mai mốt đừng làm vậy nữa nghe hông."
Tôi gật đầu, nhưng trong lòng vẫn thấy thương mấy con heo.
Chuyện đó đến mãi hai mươi mấy năm sau, dì Tư Lê gặp lại tôi vẫn cười: "Con nhỏ An nhỏ xíu mà đuổi heo. Trời ơi dì Tư nhớ hoài."
Tôi cũng cười. Nhưng lúc đó, tôi chỉ là đứa trẻ bốn tuổi, ở nhà một mình, nghe heo kêu thì thương, nên ra cho ăn. Tôi không biết sợ là gì, cho đến khi tụi heo nhào tới.
Từ đó, ngoại không dám để tôi ở nhà một mình nữa.
Ngoại nhờ dì Tư Lê, dì Năm Mây, bà Sáu, ông bà Hai... mỗi người để mắt một chút. Sáng sáng, ngoại dắt tôi ra ruộng, gửi cho dì Tư Lê. Chiều dì út đi làm về, ghé đón tôi. Có hôm tôi ngủ quên bên nhà bà Sáu, bà bế tôi lên giường, đắp mền.
Cả xóm thay nhau trông chừng tôi.
Một đứa trẻ bốn tuổi bệnh tim, ở nhà một mình, có thể là bất hạnh. Nhưng với tôi, đó là những ngày được làm bạn với tivi, với mấy con heo đói, với tiếng sông vỗ bờ, với những người hàng xóm tốt bụng.
Căn nhà tranh vách lá đó giờ không còn nữa. Con sông trước nhà vẫn chảy, nhưng bờ đã lở. Con mương sau hè giờ bị lấp. Những người hàng xóm cũ, người còn, người mất.
Nhưng tôi vẫn nhớ.
Nhớ căn nhà nhỏ, nhớ tiếng tivi du tuyến rè rè, nhớ mùi cám heo, nhớ tiếng heo kêu, nhớ câu hét "Bới làng xóm ơi!" giữa đồng không.
Và nhớ những người đã chạy qua cứu tôi, dù chỉ là cứu một đứa trẻ dại dột đang đứng giữa đàn heo đói.
Sự cô đơn của trẻ con đôi khi không đáng sợ, vì nó được lấp đầy bởi trí tưởng tượng và tình thương của hàng xóm.
Nhưng cũng có những khoảng trống không ai lấp được.
Khoảng trống của dì ba để lại trong căn nhà. Khoảng trống của mẹ để lại trong lòng tôi. Khoảng trống của một tiếng gọi "mẹ" chưa bao giờ được thốt ra trọn vẹn.
Những khoảng trống đó, tôi cất vào trong, không kể ai nghe.
Nhưng có lẽ ngoại biết.
Vì ngoại cũng có những khoảng trống riêng. Ngoại đã mất một người chồng, đã để một người con gái đi lấy chồng xa, đã thấy người con gái khác mang thai trong tủi hờn. Ngoại ở lại, với một đứa cháu gái bệnh tim, trong căn nhà tranh vách lá, giữa đồng không mông quạnh.
Vậy mà ngoại chưa từng nói ngoại khổ.
Ngoại chỉ nói: "Có ngoại. Có út Chi. Có con An. Vậy là đủ."
Tôi nghe ngoại nói, thấy lòng mình ấm lại.
Căn nhà tranh vách lá đó, tuy trống đi một người, nhưng vẫn còn đủ để gọi là nhà.
Vì ở đó có ngoại, có dì út, có tôi.
Và có cả tiếng sông vỗ bờ mỗi đêm, như lời ru chưa bao giờ dứt.
Được yêu thích bởi: Yul
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.