Một Đời Gọi Mẹ

Chương 2: Chiếc Ghe Bầu Nhỏ Và Những Chuyến Đi Kinh

Đăng: 21/08/2026 20:36 1,411 từ 12 lượt đọc

Ngoại tôi vẫn nhớ như in ngày đầu tiên mua được chiếc ghe.

Ngoại kể, hồi đó tích cóp mất hơn mười năm. Mỗi lần đi làm lúa mướn về, ngoại bỏ vào cái ống tre mấy đồng bạc lẻ. Có bữa được năm đồng, có bữa hai đồng, có bữa người ta trả công bằng mấy lon gạo, ngoại cũng đong bớt một lon, đem đổi ra tiền. Đêm xuống, ngoại giấu ống tre dưới mái lá, chỗ nóc buồng ngủ. Ba đứa con gái không ai biết.

"Tao không dám nói, sợ tụi nó mừng trước rồi lỡ có chuyện gì, tụi nó thất vọng." Ngoại cười. "Mà cũng sợ tụi nó xin mua kẹo, mua dây thun. Tao không nỡ cho, mà không cho thì thương."

Mười năm. Mười năm với những bữa ăn chỉ có nước cơm, những buổi trưa nắng cháy lội ruộng, những đêm mưa dột, ngoại ngồi co ro ôm ba đứa con, lấy thau hứng nước. Mười năm dồn lại thành một chiếc ghe.

Chiếc ghe nhỏ, bằng gỗ sao, dài chừng bốn thước, rộng vừa đủ cho bốn người ngồi. Ngoại bảo lúc mua, ngoại đứng trên bến sông nhìn chiếc ghe lâu lắm. Người bán ghe thấy vậy hỏi: "Chị mua để chở gì?" Ngoại nói: "Chở con tôi. Chở cả đời tôi."

Từ đó, ngoại bắt đầu "đi kinh".

Người miền Tây gọi những con rạch dài nối sông này sang sông khác là "kinh". Có kinh Cùng, kinh Thần Nông, kinh Phụng Hiệp, kinh xáng Ba Láng... Mỗi con kinh là một nhánh sống, len lỏi qua những xóm nhỏ, những bến sông, những cánh đồng mênh mông. Người ta đi theo những con kinh đó để buôn bán, chở hàng, đổi công, gọi là "đi kinh".

Ngoại chèo ghe từ Cần Thơ xuôi xuống miệt thứ. Miệt thứ là vùng đất trũng, xa xôi, đi qua Phụng Hiệp, Vị Thanh, xuống tới Kiên Giang. Đó là những chuyến đi dài ngày, có khi nửa tháng mới về. Ngoại chở rau củ quả từ chợ Cái Răng, chèo xuôi theo dòng, tới đâu bán tới đó. Rồi mua lại những thứ miệt dưới có, miệt trên hiếm, chèo ngược về bán lại. Cá khô, mắm cá linh, bông súng, rau nhút, trái bần, trái mây, củ chuối...

"Đi kinh là đi không biết ngày về. Tới bến nào ghé bến đó. Có bữa tối trời, neo ghe dưới gốc bần, ngủ ngay trên ghe. Sáng ra, mặt trời mọc sau rặng dừa nước, nghe tiếng chim kêu, tiếng cá đớp mồi, thấy mình như còn sống giữa thiên nhiên."

Lúc đầu, ngoại đi một mình. Sau này, mẹ tôi lớn lên, ngoại dắt mẹ theo. Rồi dì ba theo, rồi dì út cũng đòi theo. Bốn mẹ con trên chiếc ghe nhỏ, lênh đênh khắp các con kinh.

Tôi chưa từng thấy mẹ thời con gái, nhưng qua lời ngoại kể, qua tấm ảnh cũ, tôi hình dung ra: mẹ mặc áo bà ba, quần lãnh đen, đội nón lá, tóc dài thả sau lưng. Mẹ ngồi ở mũi ghe, thả tay xuống nước, ngón tay lướt trên mặt sông, mắt nhìn xa xăm. Ngoại bảo mẹ tôi đẹp nhất trong ba chị em. Không phải đẹp rực rỡ, mà đẹp kiểu dịu dàng, thùy mị, như con nước ròng ròng chảy, không ồn ào nhưng bền bỉ.

Dì ba thì khác. Dì ba nhanh nhẹn, lanh lợi, giỏi tính toán. Dì ba thường ngồi đằng lái phụ ngoại chèo, tay thoăn thoắt, miệng nói chuyện cười giòn. Dì út thì còn nhỏ, nằm trong lòng ghe, có khi ngủ quên, có khi ngồi dậy phụ xếp hàng. Dì út mít ướt, mỗi lần ghe tròng trành là hét lên, bám lấy ngoại.

Ngoại kể lại chuyện đi kinh bằng giọng đều đều, chậm rãi như chính dòng sông. Tôi thích nhất là nghe ngoại tả cảnh chèo ghe ban đêm.

"Ban đêm trên sông, trời sao sáng lắm. Không có đèn điện, chỉ có ánh sao, ánh trăng. Mặt nước lăn tăn, mỗi lần chèo, mái chèo khua xuống nước, nước bắn lên lóng lánh như ai rắc bạc. Tiếng chèo khua nước nghe êm lắm, không ồn ào gì. Xung quanh tĩnh lặng, thỉnh thoảng có tiếng cá quẫy, tiếng dế kêu trên bờ, tiếng con chim gì đó gọi nhau..."

Ngoại kể hồi đó ngoại không biết chữ nhiều, nhưng ngoại thuộc từng con kinh, từng khúc quanh, từng bến sông. Chỗ nào nước chảy xiết, chỗ nào có xoáy, chỗ nào cạn, chỗ nào sâu, ngoại đều nhớ. Ngoại nhớ từng gốc cây, từng cái xóm ven sông, từng người quen mỗi lần ghe ghé bến.

"Đi kinh không có bản đồ. Bản đồ là trí nhớ. Mà trí nhớ thì không bao giờ rời mình."

Tôi hỏi: "Ngoại có lạc đường không?"

Ngoại cười: "Có chớ. Lần đó đi lạc vô con kinh cụt, chèo tới cuối, thấy rừng tràm mênh mông. Mẹ mày sợ quá, khóc. Tao nói, khóc cái gì, lạc thì quay mũi ghe lại. Mà lạc cũng có cái hay, là mình thấy những chỗ mới, gặp những người mới. Nhưng mà mệt lắm, phải chèo ngược dòng, tay rã rời."

Đi kinh vất vả vậy, nhưng ngoại không bỏ. Vì nhờ những chuyến đi đó, nhà tôi có cơm ăn, ba chị em mẹ tôi được đi học, được mua cho cái áo mới mỗi dịp Tết. Ngoại chèo ghe bằng đôi tay chai sạn, nhưng ngoại bảo đôi tay đó chèo vì con, nên không mỏi.

Những chuyến đi kinh của ngoại đi qua bao nhiêu mùa nước. Mùa nước nổi, sông tràn bờ, đồng ngập trắng xóa. Ghe đi giữa biển nước, như đi trên mặt hồ mênh mông. Mùa khô, nước rút, ghe phải len lỏi giữa hai hàng cây, tránh những bãi cát lộ ra. Ngoại bảo mỗi mùa một vẻ, nhưng mùa nào cũng đẹp.

"Đi kinh dạy tao biết chờ đợi. Nước lớn thì chờ nước ròng. Ghe kẹt thì chờ có người qua giúp. Hàng ế thì chờ bữa khác bán. Đời người cũng vậy, phải biết chờ."

Ngoại nói vậy, nhưng ngoại không nói với tôi rằng, có những thứ chờ hoài không được. Như chờ một người đàn ông trở về. Như chờ mẹ tôi đừng buồn sau cuộc tình đầu. Như chờ một đứa cháu ra đời lành lặn.

Sông nước dạy ngoại biết chảy xuôi, biết uốn mình theo dòng, biết khi nào nên chờ, khi nào nên đi tiếp. Nhưng sông nước không dạy ngoại biết buông tay một người mình thương.

Sau này, khi mẹ tôi gặp chuyện buồn, ngoại không khóc. Ngoại chỉ ngồi trước cửa nhìn con sông, thở dài. Rồi ngoại lại chèo ghe đi, như một thói quen, như một cách để quên.

Bây giờ, chiếc ghe nhỏ của ngoại không còn nữa. Nó đã mục, đã vỡ, đã trả về với sông nước từ lâu. Nhưng mỗi lần nhìn con sông trước nhà, tôi vẫn thấy bóng dáng bốn mẹ con trên chiếc ghe nhỏ, lênh đênh giữa dòng.

Mẹ tôi ngồi mũi ghe, tay thả xuống nước. Dì ba ngồi đằng lái, cười giòn tan. Dì út nằm trong lòng ghe, ngủ gật. Ngoại ngồi giữa, tay chèo đều đều, miệng hát ru:

"Ghe bầu trở lái về đông, con gái theo chồng, bỏ mẹ ai nuôi?"

Tôi không biết mình nhớ hình ảnh đó từ đâu, vì tôi chưa từng thấy. Có lẽ từ lời ngoại kể. Có lẽ từ tiếng sông vỗ bờ mỗi đêm. Có lẽ từ một giấc mơ, nơi tôi được ngồi giữa lòng ghe, nằm trong vòng tay ngoại, nghe tiếng chèo khua nước, nghe mẹ hát ru từ một nơi rất xa.

Ngoại bảo, đời người như con sông. Có khúc rộng, có khúc hẹp, có khúc sâu, có khúc cạn. Nhưng cứ chảy, rồi sẽ ra biển.

Tôi hỏi: "Ngoại có tiếc vì đã khổ nhiều không?"

Ngoại cười: "Tiếc gì. Khổ mà sống được, là mừng rồi."

Tôi nhìn ngoại, thấy ngoại già đi nhiều. Nhưng đôi mắt ngoại vẫn sáng, như mặt nước sông đêm trăng. Trong đôi mắt đó, tôi thấy những con kinh, những chuyến ghe, những mùa nước nổi, và cả ba đứa con gái gầy gò ngồi trên chiếc ghe nhỏ, lênh đênh về phía trước.

1

Được yêu thích bởi: Yul

Ủng hộ tác giả Viên An Gửi một lời động viên nhỏ để tác giả có thêm cảm hứng ra chương mới.