Quyển 1: Khô Lâm
Chương 1: Khô Lâm Thôn
Núi Hoang Vân đứng sừng sững ở phía tây, quanh năm mây xám vờn quanh đỉnh
như một tấm khăn tang cũ kỹ chưa từng được giặt sạch. Người trong vùng gọi ngọn
núi ấy là núi hoang, không phải vì nó hiểm trở hay có mãnh thú, mà bởi linh khí
nơi đây mỏng đến mức một tu sĩ Luyện Khí tầng ba cũng phải mất gấp đôi thời
gian tu luyện so với những vùng đất trù phú khác. Các tông môn lớn từng phái
người dò xét, đo đạc long mạch, rồi lắc đầu bỏ đi không thương tiếc - một vùng
đất như vậy, dùng để trồng lúa còn có ích hơn dùng để tu tiên.
Dưới chân núi ấy, nép mình trong một thung lũng cạn, là Khô Lâm Thôn.
Tên thôn cũng chẳng có gì thi vị. Khô Lâm - rừng cằn khô. Đất đai bạc
màu, cây cối còi cọc, suối nước chảy quanh năm nhưng mỏng như sợi chỉ, chẳng đủ
tưới cho một mẫu ruộng lớn. Người trong thôn sống bằng nghề trồng dược liệu hạ
phẩm, thứ dược liệu mà đám thương nhân đi ngang chỉ mua với giá rẻ mạt, đủ để
đổi lấy vài bao gạo và ít muối cho qua mùa đông.
Lâm Thư Hoài sinh ra ở đó, vào một đêm mưa phùn lất phất, khi cha hắn -
một người thợ mộc lành nghề nhưng ít nói - đang sửa lại mái nhà bị dột từ trận
bão trước. Năm hắn lên tám, đạo sĩ du phương ghé qua thôn theo lệ ba năm một
lần, dùng ngọc bài đo linh căn cho đám trẻ con trong thôn. Đến lượt hắn, ngọc
bài mờ đục, không phát ra chút quang hoa nào.
"Phế linh căn," đạo sĩ nói, giọng dửng dưng như đang nói về
thời tiết. "Đứa trẻ này không có duyên với tu tiên."
Không ai trong thôn ngạc nhiên. Đất Khô Lâm vốn đã bạc, linh căn tốt hiếm
khi xuất hiện, mà có xuất hiện thì gia đình cũng tìm cách gửi con đi nơi khác,
đến những vùng linh khí dồi dào hơn để có cơ hội bái sư. Còn phế linh căn như
Lâm Thư Hoài, số phận đã được định sẵn từ thuở lọt lòng: lớn lên làm nông, học
nghề mộc theo cha, cưới vợ trong thôn, sinh con đẻ cái, rồi già đi và chết, như
bao thế hệ trước đó.
Nhưng Lâm Thư Hoài có một thứ mà ngọc bài đo linh căn không bao giờ đo
được.
Hắn thích nhìn.
Không phải nhìn theo kiểu tò mò trẻ con thoáng qua rồi quên, mà là một
thói quen âm thầm, bền bỉ đến kỳ lạ. Hắn có thể ngồi cả buổi chiều bên bờ suối,
quan sát cách dòng nước mỏng manh len lỏi qua từng phiến đá, chỗ nào chảy xiết,
chỗ nào tù đọng, rồi tự hỏi tại sao người trong thôn không đào một con mương
nhỏ dẫn nước qua khúc quanh phía đông, nơi đất đai màu mỡ hơn nhưng luôn khô
hạn vì dòng suối tự nhiên chẳng bao giờ chảy tới. Hắn để ý cách đám thợ dệt
trong thôn làm việc: ai khéo tay nhất luôn được giao dệt phần viền phức tạp,
nhưng người ấy lại thường xuyên phải dừng lại chờ người khác hoàn thành phần
thân vải đơn giản trước - một sự lãng phí thời gian mà chẳng ai bận tâm sửa, vì
"xưa nay vẫn làm thế".
Cha hắn từng nói, nửa đùa nửa thật: "Con không có linh căn tu tiên,
nhưng cái đầu của con thì đo bằng ngọc bài nào cũng không ra."
Năm Lâm Thư Hoài mười sáu tuổi, Khô Lâm Thôn đã quen với hình ảnh một
thanh niên gầy gò, tay chân lấm đất, nhưng ánh mắt lúc nào cũng như đang tính
toán một điều gì đó xa xôi hơn những luống rau trước mặt. Hắn không phải kẻ
mộng mơ. Hắn chưa từng ao ước một ngày nào đó sẽ phi thân lên trời, đạp gió
cưỡi mây như trong những câu chuyện đạo sĩ du phương kể lại bên bếp lửa. Hắn
chỉ đơn giản là không ngừng đặt câu hỏi: tại sao mọi thứ lại được sắp xếp theo
cách kém hiệu quả đến vậy, và liệu có cách nào tốt hơn không.
Câu hỏi ấy, trong suốt mười sáu năm, chưa từng có cơ hội trở thành thứ gì
đó lớn lao hơn một thói quen thầm lặng.
Cho đến mùa thu năm ấy.
Mùa thu ở Khô Lâm Thôn vốn dĩ là mùa thu hoạch dược liệu, tiếng cười nói
rộn ràng từ sáng đến tối, người người tranh thủ ánh nắng hiếm hoi trước khi những
cơn gió lạnh từ núi Hoang Vân tràn xuống. Nhưng năm ấy, ngay giữa mùa thu
hoạch, một tin dữ truyền đến từ phía bắc thôn: đàn Hắc Lang - một loại yêu thú
cấp thấp thường trú ẩn sâu trong núi, chưa bao giờ dám bén mảng gần khu dân cư
- bỗng nhiên kéo xuống đồng bằng, cắn phá gia súc, và theo lời một người thợ
săn chạy về báo tin, mắt hắn còn ánh lên vẻ kinh hoàng chưa tan: "Có một
con đầu đàn, to gấp ba lần bình thường, mắt đỏ như máu."
Thôn trưởng - một lão nông tuổi đã ngoài sáu mươi, cả đời chưa từng cầm
thứ gì sắc hơn cái liềm - đứng giữa sân đình, tay run run, không biết phải làm
sao. Khô Lâm Thôn không có tu sĩ trấn giữ. Đạo sĩ du phương ba năm mới ghé một
lần, mà lần gần nhất cũng đã cách đây gần một năm. Cầu cứu tông môn gần nhất
cũng phải mất năm ngày đường, và ai cũng biết, một thôn nghèo như Khô Lâm chẳng
đủ sức trả phí "xuất binh" cho bất cứ tông môn nào.
"Chúng ta chỉ có thể tự lo cho mình," thôn trưởng nói, giọng
nghẹn lại.
Đám trai tráng trong thôn, người cầm cuốc, kẻ vác gậy, đứng lố nhố giữa
sân đình, gương mặt ai nấy đều lộ rõ sự hoang mang. Có vài người từng học được
vài chiêu quyền cước sơ đẳng từ đạo sĩ du phương, nhưng đối đầu với một đàn Hắc
Lang có yêu thú đầu đàn, e rằng chẳng khác nào châu chấu đá xe.
Lâm Thư Hoài đứng ở rìa đám đông, không nói gì. Nhưng mắt hắn, như mọi
khi, đang nhìn - không nhìn vào nỗi sợ hãi đang lan ra từng khuôn mặt, mà nhìn
vào địa hình thung lũng, vào con mương cạn phía đông mà hắn đã để ý suốt nhiều
năm, vào cách đám trai tráng đang đứng lộn xộn không theo trật tự nào, vào kho
dược liệu vừa thu hoạch còn chất đầy trong các nhà kho.
Một ý nghĩ, vốn đã âm ỉ hình thành từ rất lâu trong đầu hắn qua vô số
buổi chiều ngồi bên bờ suối, bỗng chốc kết tinh thành một điều gì đó rõ ràng
đến kỳ lạ.
Hắn bước ra khỏi đám đông, đứng trước mặt thôn trưởng, cúi đầu thi lễ.
"Thôn trưởng," Lâm Thư Hoài nói, giọng không lớn nhưng từng chữ
đều rành mạch, "con không biết võ công. Nhưng con biết địa hình thôn ta
hơn bất kỳ ai. Nếu thôn trưởng cho phép, con có một cách, không cần ai trong
chúng ta phải mạnh hơn Hắc Lang - chỉ cần chúng ta phối hợp đúng chỗ."
Sân đình chợt im lặng. Vài người quay sang nhìn hắn với ánh mắt hoài nghi
- kẻ phế linh căn, xưa nay chỉ biết cầm cuốc, giờ lại đứng ra nói chuyện binh
lược?
Nhưng thôn trưởng, trong cơn tuyệt vọng không còn lựa chọn nào khác, chỉ
khẽ gật đầu.
"Nói đi."
Lâm Thư Hoài hít một hơi thật sâu. Đây là lần đầu tiên, sau mười sáu năm
chỉ âm thầm quan sát, hắn sắp phải biến những gì mình nhìn thấy trong đầu thành
lời nói ra miệng - và biến lời nói ấy thành hành động của cả một thôn làng.
Hắn không biết, khoảnh khắc ấy, dưới chân núi Hoang Vân cằn cỗi, chính là
viên gạch đầu tiên của một thứ mà nhiều năm sau, người ta sẽ gọi là Quần Tinh
Các.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.