Chương 20: Tàn Tuyết Vị Tiêu Mai Ảnh Lãnh, Trường Phong Tiên Đáo Thủy Vân Gian.
Sơn Hải Trầm Vân
Mục lục
20 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 20/20 chương
Ngày hai
mươi tám tháng chạp năm Tuyên Hòa thứ hai
Màn sương
buổi sớm bị cái lạnh thấu xương ép đặc, lững lờ nuốt chửng đường chân trời Thái
Hồ. Từ phía mặt hồ mênh mang, đỉnh Phiêu Diểu Phong hiện lên như một khối đá khổng
lồ giữa trời đất.
Nơi cao nhất
phía Tây Bắc, tòa lầu hai tầng bám vào vách đá dựng đứng, nửa như mọc ra từ
núi, nửa như lơ lửng giữa biển mây ngàn. Giữa tiết Đại hàn, âm phong phong tỏa
vạn vật, mái ngói tro chìm hẳn vào sắc đá. Những dải sương giá quét dọc theo
rãnh ngói, kết băng thành một lớp trắng đục. Bao quanh các lầu, những rặng cây
rũ tán bám đầy sương, che đi hàng khung cột mộc phủ nhựa thông nâu. Trên xà
ngang, nhựa thông đã co cứng tạo thành một lớp màng. Những thớ lim hướng ra mặt
hồ, sương muối đóng dày thành từng vệt ráp. Trên mảng thông già, khi mỗi cơn
gió quất lên vách đá, vài nhánh khô giòn gãy, hất từng chùm băng tuyết rơi xuống
mái ngói.
Bên trong tầng
thượng, không gian thoang thoảng mùi trầm nhạt. Cạnh khung cửa sổ Trường Họa lớn,
Song Thập Bát ngồi một mình bên án thư, tà áo thiên thanh khẽ bay. Tro bụi xám
trên đỉnh Bảo Thạch đã hòa vào mái tóc buông xõa.
Trên mặt
án, một chiếc ấm nhỏ nằm cạnh chén mỏng. Làn hơi nóng từ lòng chén bốc lên,
mang theo hương trà núi, thoảng chút mùi hoa dại, vừa chạm tới khoảng không
ngoài cửa sổ đã lập tức tan đi.
Hắn nhìn xuống
mỏm đá phía Tây, mái ngói của Sơn Hải Nghị Sự Đường đã bị phủ mờ. Khoảng trước
sảnh vắng không thấy bóng người, trên mặt sân lát đá đã phủ một lớp băng mỏng lấm
tấm. Mấy chậu Tùng ở rìa sân đứng lặng trong gió bấc. Trên những rặng thông
già, từng đàn quạ đen cùng sẻ núi co cổ đứng nép vào cành.
Men theo dải
hành lang treo ngang lưng núi, kéo dài về phía sau, những thanh cầu gỗ im lìm,
những chiếc đèn lồng bọc lụa thô đã tắt từ lúc tảng sáng, chỉ còn khung đèn khẽ
đung đưa. Phía cuối hành lang, ô nguyệt môn dẫn vào Thanh Diệp Viện hiện ra mờ
nhạt. Xa hơn phía hậu viện, từng luồng khói mỏng từ các bếp nước tất niên lặng
lẽ chìm vào kẽ đá.
Dưới thung
lũng phía Nam, Trúc Lâm Tịnh Uyển nằm khuất dưới rừng trúc già. Trước sảnh những
nếp Tứ hợp viện, bùa đào cũ đã được thay xuống từ sớm, những dải liễn đỏ mới
dán lên cột, màu mực còn ánh lên giữa tiết lạnh. Từ những khe cửa phủ rèm lụa,
mùi rượu nếp dâng cúng tổ tiên, mùi bánh nếp cùng hương lá bưởi, lá ngải cứu nấu
nước thoảng ra, hòa lẫn vào nhau giữa khoảng sân yên lặng. Hiên đá trước Tây
Sơn Học Hiệu phủ kín sương muối trắng nhạt, những dãy hành lang cùng mái hiên
treo chuông đồng đứng im trong gió bấc.
Phía dưới
cùng đảo, Lâm Ốc Công Xưởng hiện ra bên vách đá. Những bánh xe nước khổng lồ vẫn
không ngừng xoay dưới dòng nước đổ từ máng gỗ cao xuống, nện vào thân bánh xe.
Các lò rèn đã chuyển sang giữ lửa ngầm từ đêm trước, chỉ còn mùi nhựa thông
nung nóng cùng mùi dầu sơn từ xưởng đóng thuyền theo gió hồ dạt ngược lên sườn
đá.
Ngoài mép hồ,
bến Tiêu Thâm chen kín những cầu tàu đá cùng dãy cọc ngầm nhô lên giữa sóng nước.
Năm mươi chiếc lâu thuyền ô túc của Cự Kình Bang neo thành hàng dài dưới lá đại
kỳ Sơn Hải Vân đang phần phật trong gió bấc. Trên các chòi canh cùng cầu ván phủ
hơi nước, đám hán tử vận áo xám đứng tản theo từng vị trí. Kẻ chống trường
thương nhìn ra mặt hồ, người lặng lẽ tuần tra dọc theo bến. Hơi thở theo lớp
khăn che mặt thoát ra thành từng luồng khói trắng, quẩn quanh bên giáp phục đọng
sương. Phía dưới Phù Sa Quán, cửa đã khóa then đã cài chặt chốt.
Ngoài mặt
nước Thái Hồ, tuyết nhỏ bắt đầu rơi dày hơn. Những hạt tuyết mỏng bị gió hồ cuốn
ngang mặt nước rồi tan mất giữa những con sóng.
Song Thập
Bát nâng chén trà lên môi, nhấp cạn rồi đặt lại xuống mặt án. Hắn đưa tay ra
ngoài cửa sổ. Giữa khoảng không trắng mờ, những hạt tuyết đầu tiên thả xuống, đậu
lại rồi tan dần trên các kẽ ngón tay.
Song Thập
Bát thu tay đứng dậy. Hắn bước ra sát mép hành lang Thanh Vân Các, đứng lặng giữa
màn mưa tuyết lả tả, thu trọn cả hòn đảo cùng mặt hồ dưới chân vào tầm mắt.
Có tiếng mở
cửa rất khẽ vang lên. Hắn chậm rãi ngồi xuống chiếc ghế mới đặt sau lưng, ánh mắt
vẫn không rời khoảng không trước mặt.
Người mới tới
không dám lên tiếng, khẽ nâng mái tóc buông xõa, những đường lược nhè nhẹ xuôi
xuống mái tóc đã hòa lẫn màu tro.
Một giọt nước
nóng hổi rơi xuống vai áo thiên thanh.
Ngón tay đặt
trên thành ghế của Song Thập Bát khẽ động. Giữa mùi trầm cùng hơi tuyết lạnh,
làn hương sen nhàn nhạt lẫn chút ngọt dịu
quen thuộc thoảng từ sau vai.
Mái tóc đã
được búi gọn sau đầu, một cây trâm gỗ sẫm màu lặng lẽ xuyên ngang búi tóc.
Tiếng cửa lại
nhẹ vang lên lần nữa. Giọng nói lạnh nhạt vọng sau cánh cửa:
- Người đâu, tìm người họ Hàn cho công tử.
-----
门下:
睦州逆贼方腊,煽惑愚民,聚众为乱。自青溪窃发以来,攻陷州县,焚掠仓廪,侵扰江浙。今杭州陷闻,东南震动,商旅断绝,漕运不通,生民涂炭。
东南者,国家财赋根本之地。逆党蔓延,若不早图荡定,必贻后患。朕夙夜忧勤,深轸民瘼。
应奉局及诸路岁贡花石,并行罢止,以纾东南之力。
太尉、宣和殿大学士童贯,久典兵柄,素习戎机。今特命充江、淮、荆、浙宣抚使;龙图阁学士谭稹副之。仍发太原、延安等路兵马十五万,听其节制,水陆并进,往行讨捕。
应沿江濒湖州郡津渡寨栅,并严加巡警,无使贼党因舟遁逸。诸路守臣,各务安民。胁从之民,许令自新;敢有负固拒命、藏匿逆党者,所在论诛。
仍令有司速备军储,毋致阙乏。
主者施行。
宣和二年十一月丁丑日
Chiếu hạ từ
Môn Hạ tỉnh:
Tên nghịch
tặc Phương Lạp ở Mục Châu mê hoặc ngu dân, tụ chúng làm loạn. Từ khi phát biến
tại Thanh Khê đến nay, đã công hãm châu huyện, đốt phá kho tàng, quấy nhiễu
vùng Giang Chiết. Nay tin Hàng Châu thất thủ truyền tới, Đông Nam chấn động, thương
lữ đứt đường, vận lương không thông, lê dân lầm than.
Đông Nam là
vùng căn bản tài phú của quốc gia. Nay nghịch đảng lan tràn, nếu không sớm dẹp
yên, tất để lại hậu hoạn. Trẫm ngày đêm ưu cần, vô cùng lo nghĩ nỗi khổ của
sinh dân.
Nay bãi bỏ Ứng
Phụng cục cùng việc hàng năm tiến cống Hoa Thạch của các lộ, để giảm gánh cho
Đông Nam.
Đặc mệnh
Thái úy, Tuyên Hòa điện Đại học sĩ Đồng Quán làm Giang–Hoài–Kinh–Chiết Tuyên phủ
sứ; Long Đồ các học sĩ Đàm Chẩn làm phó. Lại điều binh mã các lộ Thái Nguyên,
Diên An tổng cộng mười lăm vạn người, đều chịu sự tiết chế, thủy lục cùng tiến,
tiến hành thảo phạt.
Các châu quận
ven sông ven hồ, các bến đò cùng trại thủy đều phải nghiêm mật tuần xét, không
để tặc đảng dùng thuyền đào thoát. Quan lại các lộ phải lấy việc an dân làm trọng.
Kẻ bị ép theo phản tặc thì cho cơ hội quay đầu; kẻ ngoan cố chống mệnh, che giấu
nghịch đảng, quan địa phương đều luận tội tru diệt.
Lại lệnh
các ty nhanh chóng chuẩn bị quân lương quân khí, không được để thiếu hụt.
Các quan hữu
ty chiểu chiếu thi hành.
Ngày Đinh Sửu,
tháng mười một năm Tuyên Hòa thứ hai.
-----
Giang Nam,
đêm ngày hai mươi ba tháng Giêng năm Tuyên Hòa thứ ba.
Hành lang
eo thắt thủy lộ phía Nam Thái Hồ.
Canh ba.
Sương mù
Giang Nam bốc lên đặc quánh. Giữa mênh mông mặt hồ, những con thuyền nan từ
Hàng Châu trôi dạt vô định. Từ khi gươm giáo Phương Lạp khấu hãm thành trì,
hàng vạn người tháo chạy ngược lên phía Bắc. Gió bấc vẫn đang thổi về mùi máu
tanh và tro than cháy dở từ phương Nam.
Xuyên qua
đám thuyền tị nạn, một quầng sáng đỏ hiện lên nơi eo thắt thủy lộ.
Ban đầu chỉ
như dải lửa le lói, quầng sáng nhanh chóng hiện lên rực rỡ. Hạm đội Tuyên phủ
thắp sáng hàng ngàn bó đuốc nhựa thông, cùng đèn lồng đại quan thêu chữ "Đồng"
màu đỏ thẫm.
Phía đầu thế
trận cái nêm, Tuyên Phủ soái thuyền sừng sững cao ba tầng bọc da trâu. Mũi lâu
thuyền chạm khắc hình đầu rồng, đôi mắt sơn đen phản chiếu ánh lửa. Hai bên sườn
là bốn chiếc đấu hạm mớn nước, chở đầy quân Tây Quân vũ trang khiên sắt trảm mã
đao. Phía cuối là năm chiếc thuyền bản chở quân nhu cùng những giàn nỏ cố định
Thần Tí sẵn sàng khai hỏa.
Trên thuyền,
Tây quân vài kẻ nôn khan, tay vịn chặt lan can. Hơi sương ngấm qua lớp giáp sắt,
đọng thành những giọt nước li ti trên râu tóc, khiến những hán tử vùng biên ải
run lên từng đợt.
Tiếng gõ trống
cầm nhịp trên vọng lâu vang lên lạc lõng, đội tàu khổng lồ chậm chạp di chuyển.
Trong trung
sảnh lâu các, hơi lạnh của đêm sương bị chặn bên ngoài những tấm rèm lụa bởi
mùi hương trầm cốt. Dưới ánh sáng rực rỡ của nến sáp ong, Đồng Quán đứng bên
chiếc bàn gỗ, tay thong thả vuốt dải râu quai hàm được tỉa tót kỹ lưỡng. Bộ râu
khẽ động theo từng cái nhíu mày. Dù đã bước qua tuổi lục tuần, thân hình lão vẫn
vạm vỡ trong lớp gấm bào màu tử sa thêu trăn rồng. Ánh mắt lão đang nhìn vào tấm
bản đồ da, móng tay khảm ngọc bích gõ từng nhịp xuống thành Tú Châu.
- Tuyên phủ
sứ đại nhân, sương mù dày thế này, e là...
Chu Miễn đứng
nép ở góc phòng, khuôn mặt bủng beo. Hắn đang run rẩy bấu chặt lấy thành ghế gỗ:
- Thủy đạo
nhiều bãi bồi, phản quân lại giỏi quấy phá. Hay là... hạ quan cho hạm đội neo lại?
Đồng Quán
không quay đầu, tiếng gõ ngón tay bỗng dừng lại. Sự im lặng khiến Chu Miễn lập
tức ngậm miệng, không dám thở mạnh.
Lúc này, tiếng
bước chân từ hành lang phá vỡ bầu không khí. Cánh cửa gỗ mở ra, mang theo gió hồ
và mùi rong mục tràn vào phòng.
Tân Hưng
Tông tay đè đốc đao bước vào. Bộ giáp sắt màu xám đen đọng đầy sương muối,
gương mặt chữ điền đen sạm lộ rõ vết sẹo dài chạy chéo từ đuôi mắt xuống gò má.
- Chu Phát
Vận nghĩ phản quân đều là thiên binh thiên tướng sao?
Tân Hưng
Tông tiến sát lại, giọng ồm ồm:
- Lũ chân đất
tháo chạy từ Hàng Châu còn đang bận cướp bóc thóc gạo. Cho chúng thêm mật cũng
không dám bén mảng đến gần soái hạm.
- Tân tướng
quân, bên ngoài tình hình thế nào? - Đồng Quán ngước mắt.
Tân Hưng
Tông vén nhẹ tấm lụa bên cửa sổ, nhìn vào màn sương rồi lắc đầu:
- Sương quá
dày, đèn hiệu bách thuyền phía sau đều bị che khuất. Tây Quân của mạt tướng xuống
nước giống như hổ sa lầy, chân không bám nổi mặt giáp bản. Mớn nước của Thanh
Long Lâu Thuyền quá sâu, hành lang nước này lại eo hẹp. Nếu có kẻ chặn ở đầu
mút phía Nam, hạm đội sẽ tiến thoái lưỡng nan.
Trên vọng
lâu chiếc soái thuyền, viên hiệu úy phụ trách đội Thần Tí Nỏ dõi mắt nhìn vào
màn đêm. Giữa khoảng trống, một bóng đen khổng lồ rạch nước hiện ra. Chưa đầy một
chớp mắt, trăm chiếc, rồi hàng ngàn chiếc thuyền đồng loạt xuất hiện.
- Có phục
kích! Khóa sườn! Địch tình ở mạn tả!
Tiếng mõ
tre từ các đấu hạm hộ tống gõ liên hồi. Kiêu binh Tây Hà gượng rướn người, tuốt
trảm mã đao, khiên sắt.
Ánh sáng mờ
đục từ vầng trăng hạ tuần tán xạ qua làn sương. Vạn chiếc thuyền bọc kín bốn
phương tám hướng. Giữa lúc cung tên đang run rẩy, hàng vạn tiếng trống đồng loạt
nổi lên trầm hùng, vang vọng khắp mặt hồ.
Thùng!
Thùng! Thùng! Thùng!
Đan xen vào
tiếng trống rền rĩ là tiếng sáo lướt trên mặt sương, khiến quân Tống không còn
phân biệt nổi phương vị. Biển thuyền lầm lũi dịch chuyển, những hán tử mặc áo
bó chẽn màu xám đứng im lìm trên sàn ván phủ nhựa thông bám đầy sương muối.
Mặt giáp bản
Thanh Long Lâu Thuyền rít lên từng hồi. Bên trong trung sảnh, Đồng Quán đứng bất
động. Lòng bàn tay lão chầm chậm miết dọc bộ râu mỏng. Lão nhìn về phía Tân
Hưng Tông vừa quay trở lại phòng.
- Đại nhân,
nỏ Thần Tí trên các tàu hộ tống đã bị ngấm sương muối, dây gân trâu chùng xuống,
hỏa lực tầm xa giảm quá nửa. Vòng vây ép quá sát, tàu ta mớn nước sâu, không thể
quay đầu hay dạt vào bãi bồi.
Tay Tân
Hưng Tông tì chặt đốc đao, vết sẹo dài trên mặt giật mạnh.
- Đàm Chẩn
đòi bắn Mãnh hỏa du, nhưng mạt tướng đã gạt đi. Sương đặc thế này phóng hỏa chỉ
tự lộ vị trí soái hạm.
- Địch ở tối,
ta ở sáng. Nhưng chúng đang gõ trống khao quân, vây bọc mà không phát tên... những
kẻ bày trận này không muốn đánh.
Đồng Quán
khẽ nhếch mép, đôi mắt lóe lên tia sáng. Lão bấm đốt ngón tay trong tay áo gấm,
lạnh lùng nói:
- Truyền
người của chúng lên thuyền.
Giây lát
sau, cánh cửa khoang mở ra. Triệu Vũ bước vào, trên người khoác bộ giáp Giáo đầu
Cấm vệ quân đã cũ. Gã chấp tay, cúi đầu thật sâu:
- Nghĩa
dũng Thái Hồ Triệu Vũ, bái kiến Tuyên phủ sứ đại nhân.
- Triệu
Giáo đầu, bổn soái dẫn mười lăm vạn đại quân Nam hạ dẹp loạn, các ngươi dàn vạn
thuyền chặn lối, muốn mưu phản sao? - Giọng Đồng Quán vang lên.
Triệu Vũ ngẩng
đầu, ánh mắt không né tránh cái nhìn của Đồng Quán. Gã khẽ ra hiệu ra cửa sổ,
nơi những thuyền thoi đang áp sát mạn dưới soái hạm.
- Đại nhân
minh giám. Hào kiệt ngũ bang phái Thái Hồ nghe danh Tuyên phủ sứ oai phong lẫm
liệt, nay Nam hạ dẹp giặc Phương Lạp tàn bạo, nên đồng lòng góp sức. Thái Hồ
đêm nay có vạn thạch lương thảo hảo hạng, năm trăm vò rượu ngon cùng mười rương
vàng bạc châu báu, xin dâng lên khao lao vương sư.
Những tiếng
"bạch, bạch" vang lên dưới sàn khoang hạ tầng, khi các hán tử vận
chuyển các rương vật phẩm lên thuyền. Triệu Vũ cúi người, rút từ bọc giáp ra tờ
sớ lụa trắng dâng cao:
- Triệu mỗ
cùng hào kiệt ngũ bang chỉ mong đại nhân ban cho danh nghĩa chính thức - 'Nghĩa
Dũng Đoàn'. Nghĩa dũng ngũ bang nguyện võ trang giữ bến, bảo vệ bờ cõi thủy lộ
Thái Hồ, tuyệt không để nghịch tặc Phương Lạp quấy nhiễu vương sư.
Đồng Quán
đón lấy tờ sớ, ngón tay miết nhẹ thớ vải. Lão vuốt nhẹ bộ râu, khẽ gật đầu:
- Nghĩa
Dũng thủ lĩnh quả là người am hiểu đại cục. Việc các ngươi giúp truy tiễu loạn
đảng Phương Lạp trên Thái Hồ, bổn soái đều đã rõ. Chiết tướng quân cũng từng
dâng trát tiến cử Nghĩa Dũng Đoàn. Bổn soái chuẩn cho!
Triệu Vũ tạ
ơn lui ra.
--
Tân Hưng
Tông bàn giao việc đốc thúc binh khí vòng ngoài cho Đàm Chẩn, rồi xoay người về
khoang đuôi Thanh Long Lâu Thuyền.
Ông đẩy
cánh cửa gỗ, bên trong tối, lạnh và ngột ngạt hơi sương bốc lên từ lòng hồ.
Lão tướng
im lặng quẹt que lửa, châm vào tim ngọn đèn dầu mạc bắc. Ánh lửa chưa kịp đẩy
lùi hết bóng tối trong khoang, vết sẹo dài chạy chéo từ đuôi mắt trái xuống gò
má bỗng giật mạnh hai cái.
Có hai người
đã ngồi sẵn ở đó.
Một người vận
thanh y ngồi bên chiếc bàn gỗ thấp, tay đang gác hờ lên mặt bàn, gương mặt nửa
tối nửa sáng. Đứng cạnh người áo xanh, một văn nhân vóc dáng nho nhã, lưng hơi
khom.
Tân Hưng
Tông nheo mắt nhìn sâu vào gương mặt cố nhân từ thuở Biện Kinh phồn hoa.
Giữa khoảng
không gian lặng ngắt, vị văn nhân chắp tay sau lưng, khẽ gật đầu:
- Tân tướng
quân, lâu ngày không gặp.
---
Rạng sáng,
ánh nắng của ngày mới ló dạng bắt đầu xua tan dần sương đêm.
Hạm đội khổng
lồ của Đồng Quán rầm rộ chuyển hướng. Tiếng trống lệnh vang lên, các chiến hạm
triều đình rẽ sương mù, dồn lực thần tốc về hướng chiến trường Hàng Châu.
Mặt trời
lên cao, biển thuyền trùng điệp lập tức chia nhỏ, lặng lẽ rẽ nước tản vào các
ngách lạch, bãi bồi, trả lại một mặt hồ phẳng lặng.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.