Chương 30: Gian Phòng Bốc Mùi Dầu Lạc
Nhân Gian Có Màn
Mục lục
31 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 31/31 chương
Sương muối tháng Chạp chưa tan hết khỏi những rặng tre còi cọc ven đê, chỉ đổi từ màu trắng đục của đêm sang thứ ánh sáng nhờ nhờ, ngả màu chì của một buổi sớm mùa đông.
Chiếc thuyền tuần giang thả Vương Quang xuống bến phụ của huyện nha khi tiếng chuông chùa phía xa xa vừa buông hồi thứ ba. Bến này không dành cho thuyền buôn hay đò chở khách. Nó chỉ là một đoạn dốc ghép bằng những phiến đá xanh nham nhở trơn tuột rêu bám, nơi lính nha môn dùng để tống nước rác, rửa nông cụ công ích và thi thoảng kéo lên những cái xác chết trôi không tên tuổi mắc lại ở cửa cống ngầm.
Hai tên lính tuần mặc áo chẽn nẹp chỉ đỏ không thèm dắt hắn lên bờ. Chúng chỉ tháo sợi dây thừng bện vỏ dâu đang siết ngang bả vai hắn ra, dùng đầu cán câu trảo hẩy mạnh vào thắt lưng một cái khô khốc.
"Tự bò lên tàng thư mà trình diện. Chậm nửa khắc, Đàm đại nhân quẹt mực đỏ vào sổ đinh thì đừng trách."
Vương Quang ngã chúi về phía trước. Bàn chân đi đôi giày vải rách tơi tả trượt trên lớp rêu xanh nhẫy bùn, đầu gối đập mạnh xuống mép đá xanh buốt nhói. Hắn không kêu. Cơn đau ở chân chẳng thấm vào đâu so với cái buốt nhức đang âm ỉ cắn xé từ cổ tay phải.
Ở đó, thanh gá bằng đồng đen hình móng ngựa đã được siết chặt. Hai con đinh tán bằng đồng thau ép hai mảnh nẹp kim loại ôm sát lấy phần thịt mềm trên dưới cổ tay, cấn thẳng vào màng xương. Mỗi lần hắn khẽ động ngón tay cái lành lặn còn sót lại, mép đồng lại nghiến vào da thịt, làm rỉ ra một vệt máu loãng hòa lẫn với nước sông còn đọng lại trên ống tay áo.
Hắn dùng bàn tay trái lành lặn chống xuống phiến đá, cắn răng gượng đứng dậy.
Gió bấc từ mặt sông thổi thốc lên triền đê, luồn qua lớp áo nâu tơi tả đã rách toạc cả hai bên nách áo. Vương Quang cúi gằm mặt, co ro rụt cổ vào trong manh áo mỏng, lầm lũi bước qua cổng nách của huyện nha.
Giờ này, công đường lớn phía trước vẫn đóng cửa im ỉm. Chỉ có khói bếp từ gian nhà nấu nước của đám phu dịch bốc lên lờ lờ, sặc mùi lá thông ướt và cá khô kho mặn. Vài tên lính cơ mặc áo nẹp đỏ ngồi xổm bên bậc thềm đá, tay cầm bát sành xì xụp húp cháo hoa loãng, mắt lim dim vì ngái ngủ. Thấy một cái bóng gầy guộc, tàn tạ, bọc cánh tay đẫm máu lết qua sân, chúng chỉ khẽ liếc mắt nhìn một cái rồi lại cúi xuống thổi bát cháo nóng. Ở cái chốn nha môn này, người sống sót trở về sau một đêm theo thuyền công sai chẳng có gì là lạ, và những kẻ mang thương tật trên người lại càng nhiều như lá rụng mùa thu.
Vương Quang bước qua cánh cổng ngách dẫn vào dãy nhà phụ của Ty Thủy Bộ.
Khu tàng thư nằm nép mình ở góc tây nam của huyện lỵ, ngay sau lưng dãy chuồng ngựa công vụ. Đây là nơi thấp nhất, ẩm nhất và cũng là nơi tăm tối nhất của cả khu quan nha. Mái ngói vảy cá đã sụp mất mấy mảng lớn, được chắp vá tạm bợ bằng những tấm ván gỗ tạp mục nát. Nước mưa từ những trận áp thấp tháng trước vẫn đọng lại thành từng vũng đen ngòm dưới chân móng tường gạch vồ, bốc lên một mùi rêu mốc và phân ngựa nồng nặc đến nghẹt thở.
Hắn dừng lại trước cánh cửa gỗ lim dán giấy bản đã rách bươm.
Bàn tay trái run rẩy vươn ra, ngón tay hắn chạm vào then cài bằng sắt đã rỉ sét bong tróc từng mảng. Kim loại buốt như băng cọ vào da thịt làm hắn rùng mình một cái. Hắn hít một hơi sâu, nén cơn đau đang co giật trong từng thớ cơ ở cùi chỏ, rồi dùng vai đẩy nhẹ cánh cửa vào trong.
Kẹt... xoạt.
Bản lề gỗ khô dầu rên lên một tiếng nặng trịch.
Mùi dầu lạc mốc lập tức ùa ra, quánh đặc và tù hãm. Đó là thứ mùi đặc trưng của hàng trăm cuốn sổ đinh bạ, địa bạ, khế ước thủy lợi tích tụ qua ba đời quan lại, bị gián gặm, mọt đục, ngâm trong hơi ẩm của sông Đáy rồi đem sấy vội trên những lò than củi dở dang. Thứ mùi ấy quyện với mùi muội thông đen kịt bám dày trên trần nhà, tạo thành một lớp không khí nhơn nhớt, bám riết lấy cuống họng của bất cứ ai bước chân vào phòng.
Bên trong, gian phòng tối lờ mờ. Ánh sáng vàng vọt từ ô cửa sổ duy nhất chỉ đủ soi rõ những hạt bụi đang lơ lửng bay như một đám phù du dày đặc.
Dọc theo bốn bức vách, những giá gỗ lim cao ngất ngưởng oằn mình dưới sức nặng của hàng nghìn tập hồ sơ bọc bìa da trâu khô cứng. Có những tập tài liệu đã nằm yên ở đó hàng chục năm không ai buồn lật giở, lớp bụi phủ bên trên dày đến nửa tấc, mạng nhện giăng mắc chằng chịt từ thanh xà ngang xuống tận mép giấy dó ố vàng.
Tại chiếc bàn con kê sát góc tường phía đông — góc bàn chép mướn vốn là chỗ ngồi ba năm nay của Vương Quang — một bóng người đẫy đà đang còng lưng lúi húi.
Đó là Đỗ Văn Cương.
Lão Đỗ trạc ngoài năm mươi tuổi, thân mặc chiếc áo lương thâm đã sờn rách cả hai bên nẹp cổ, để lộ ngấn mỡ dày cộp sau gáy. Trên chiếc mũi to bè của lão lấm tấm những chấm mồ hôi dầu nhẫy nhụa, dù ngoài trời gió bấc đang rít qua khe cửa sổ từng cơn buốt giá.
Bàn tay béo múp míp của lão đang thọc sâu vào đáy chiếc hộc kéo bằng gỗ dán dưới gầm bàn của Vương Quang. Lão lật tung từng tờ giấy nháp, quăng bừa bãi những mẩu mực gãy và mấy cái quản bút lông cùn trơ gốc ra mặt bàn. Trong lòng bàn tay trái của lão đã gom sẵn một nắm tiền đồng kẽm vụn — đúng ba mươi đồng tiền công chép phụ bản địa bạ bãi bồi mà viên phó dịch đã phát cho Vương Quang từ ba hôm trước.
Lão Đỗ đưa ngón tay trỏ lên miệng, nhổ toẹt một bãi nước bọt vào đầu ngón tay để chuẩn bị miết đếm lại xâu tiền, miệng lẩm bẩm chửi rủa:
"Thằng chết tiệt... trốn đi đâu mà giấu tiền kỹ thế không biết... Có ba mươi đồng bạc lẻ mà cũng khóa then..."
Tiếng bước chân lết sột soạt trên nền gạch vồ trơn nhẫy đột ngột dừng lại ngay sau lưng lão.
Lão Đỗ giật nẩy mình, bờ vai đẫy đà rụt phắt lại. Lão vội vàng vơ nắm tiền kẽm dúi vào trong ống tay áo, quay phắt đầu lại, miệng há hốc toan quát tháo kẻ nào dám cả gan bước vào phòng mà không gõ cửa. Nhưng khi ánh mắt ti hí của lão chạm phải cái bóng gầy trơ xương, mặt cắt không còn một giọt máu đang đứng sừng sững bên mép bàn, hơi thở trong lồng ngực lão bỗng nghẹn ứ lại nơi cổ họng.
Hai tròng mắt lão trợn trừng lên, con ngươi co thắt lại như vừa nhìn thấy một cái xác chết trôi trèo qua bậu cửa.
"Mày... Mày..."
Gã Đỗ lùi lấp xấp lại phía sau, gót chân lão vấp phải chồng hồ sơ thủy lợi kê dưới đất khiến cả chồng giấy bản đổ ụp xuống, bụi bay mù mịt một góc phòng. Lão run lẩy bẩy giơ một ngón tay béo tròn, chỉ thẳng vào mặt Vương Quang, giọng rít qua kẽ răng run bắn:
"Mày... Mày chưa chết à? Đàm Thông phán... Đàm đại nhân đêm qua bảo rằng... chúng mày mang trát chạy trốn... thuyền lật ở bãi Cổ Miễu rồi cơ mà!"
Vương Quang đứng im tại chỗ.
Hắn không bước tới, cũng không lùi lại. Đôi mắt trũng sâu, vằn lên những tia máu đỏ quạch của hắn nhìn chằm chằm vào bàn tay đang run rẩy giấu trong ống tay áo của lão Đỗ. Khuôn mặt hắn xám xịt như tro tàn, không còn một chút biểu cảm sống động nào của một con người. Cơn đau buốt từ hai ngón tay dập nát dưới lớp vải sô dường như đã tê liệt, chỉ còn lại cảm giác nặng trịch của thanh gá đồng đen đang ghì chặt lấy cổ tay hắn như một cái cùm của tử tù.
Hắn nhìn lão Đỗ, nhưng không nhìn bằng ánh mắt căm hận hay giận dữ. Đó là ánh nhìn mệt mỏi, trống rỗng của một con chó hoang vừa thoát khỏi miệng bẫy sắt, nhìn một con chó hoang khác đang tranh ăn miếng xương vụn trong máng rỗng của mình.
Vương Quang cúi thấp đầu xuống nửa tấc. Hai vai hắn buông thõng, bàn tay trái lành lặn thu vào trong tay áo rách, khẽ khàng cúi người làm lễ theo đúng thói quen nhẫn nhục ba năm qua chốn công môn:
"Bẩm... bẩm Đỗ tiên sinh."
Giọng hắn khản đặc, trầm đục và khô khốc như tiếng hai mảnh ngói vỡ cọ vào nhau.
"Con may mắn được thuyền tuần giang vớt lên ở doi cát. Phủ đường xét thấy con chỉ là đứa chép mướn theo lệnh sai vặt, nên... bắt con quay về phòng tàng thư để tiếp tục chép bù số hồ sơ còn nợ."
Lão Đỗ sững người ra mất vài nhịp thở.
Tiếng gọi "Đỗ tiên sinh" quen thuộc cùng cái dáng vẻ khúm núm, hạ mình của Vương Quang như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào nỗi hoảng loạn đang sôi sục trong đầu lão. Lão chớp chớp đôi mắt ti hí, nhìn kỹ từ đầu đến chân Vương Quang: chiếc áo rách tơi tả dính đầy bùn xám của bãi sông, mái tóc bết bát rơm rạ mục, và quan trọng nhất là cánh tay phải buông thõng bất động bọc kín trong lớp vải đẫm máu đen ngòm.
Nỗi sợ hãi ma quỷ tan biến rất nhanh, nhường chỗ cho sự trơ trẽn và thói trịch thượng thâm căn cố đế của một tên lại dịch già đời.
Lão Đỗ ưỡn cái bụng phệ ra, hắng giọng một cái thật to để lấy lại uy thế. Bàn tay giấu trong tay áo vội siết chặt lấy nắm tiền kẽm vụn rồi nhét sâu hơn vào đáy túi, đoạn bước tới trước mặt Vương Quang, mặt mày sa sầm lại đầy vẻ bực dọc:
"Sống sót trở về thì liệu hồn mà câm cái mồm lại! Mày có biết đêm qua cả cái huyện nha này náo loạn lên vì chuyện mất trộm địa bạ không hả? Đàm Thông phán đã hạ lệnh đóng cổng tuần, đích thân điểm tên từng đứa trong tàng thư lầu này! May cho cái ngữ mày là phủ đường nhúng tay vào trước, chứ nếu để lính của Đàm đại nhân tóm được ở mép nước thì xác mày giờ này đã làm mồi cho cá dưới đáy sông Đáy rồi!"
Lão Đỗ vừa nói, vừa hất hàm chỉ tay về phía đống giấy tờ đang đổ ngổn ngang dưới sàn gạch:
"Đứng trơ trơ ra đấy làm cái giống gì? Lại đây nhặt đống hồ sơ này lên! Đừng có tưởng mang một cái tay phế mà được ngồi mát ăn bát vàng ở đây! Tiền cơm của nha môn không nuôi báo cô đứa què quặt! Hôm nay mà không chép xong ba mươi bản trát đê điều của tổng Thượng, tao tâu lên Đàm đại nhân gạch tên mày khỏi sổ ăn lương ngay lập tức!"
Lão Đỗ nói một thôi một hồi, nước bọt bắn cả vào vạt áo rách của Vương Quang. Lão đang cố dùng sự ồn ào và cái bóng của Đàm Thông phán để lấp liếm đi sự lúng túng khi bị bắt quả tang đang lục lọi đồ đạc của người khác. Lão biết rõ Vương Quang là đứa bần hàn, côi cút, không nơi nương tựa. Ở cái huyện nha này, một tên chép mướn què tay thì còn thấp kém hơn cả một con lừa kéo cối xay lúa; lão có lấy đi ba mươi đồng tiền kẽm hay bắt hắn quỳ xuống lau sàn thì hắn cũng chỉ biết cắn răng chịu đựng như bao năm qua.
Vương Quang không ngẩng đầu lên. Hắn chậm chạp quỳ một bên gối xuống nền gạch lạnh ngắt, dùng bàn tay trái lành lặn nhặt từng tập hồ sơ dính bụi đất xếp lại thành từng chồng.
Cánh tay phải của hắn vẫn buông thõng. Khi thân người hắn cúi xuống, chiếc thanh gá bằng đồng đen va nhẹ vào thanh giằng bằng gỗ của chiếc bàn làm việc, phát ra một tiếng cộc trầm đục.
Nghe tiếng va chạm của kim loại, lão Đỗ bỗng khựng lại. Đôi mắt lão liếc xuống cổ tay Vương Quang. Nhìn thấy hai con đinh tán bằng đồng thau được đóng chết xuyên qua lớp nẹp kim loại ôm chặt lấy xương thịt tên chép mướn, khóe mắt lão Đỗ khẽ giật giật một cái. Lão là kẻ lăn lộn trong chốn quan nha mấy chục năm, lão thừa hiểu thứ đồ sắt bọc da trâu kia không phải là thứ nẹp xương của thầy lang bốc thuốc. Đó là đồ của phủ đường Tuần tiễu sứ — thứ gông cùm chuyên dùng để khóa chặt những kẻ mang tội khổ sai nhưng vẫn còn giá trị sử dụng.
Lão Đỗ khẽ nuốt khan một ngụm nước bọt, trong lòng dấy lên một cảm giác bất an khó tả. Lão quay người toan bước về chiếc bàn làm việc chất đầy sổ sách của mình ở góc phòng bên kia để tránh xa thứ mùi xú uế trên người Vương Quang.
Nhưng đúng lúc lão vừa nhấc chân bước đi, ngón tay trỏ bàn tay trái của Vương Quang — đang giữ chặt mép một cuốn sổ bìa nâu rách góc — bỗng khẽ gõ nhẹ một nhịp xuống mặt gạch vồ.
Cốc.
Âm thanh rất khẽ, nhưng vang lên rành rọt giữa gian phòng tĩnh mịch chỉ có tiếng gió rít qua khe cửa.
"Bẩm tiên sinh," Vương Quang cất tiếng. Giọng hắn phẳng lặng như mặt nước tù dưới đáy giếng, không có một tia oán hờn, cũng chẳng có chút sợ hãi nào: "Lúc nãy... ở hành lang ngoài phòng tài vụ, con thấy người ta đang gom sổ sách cũ của mười năm trước."
Bước chân của lão Đỗ khựng lại giữa chừng.
Tấm lưng đẫy đà của lão cứng đờ dưới lớp áo lương thâm sờn rách.
Lão không quay đầu lại ngay, chỉ có cái cổ rụt xuống một chút, hai bên bả vai khẽ run lên. Giọng lão cất lên gượng gạo, mang theo một vẻ bực bội cố che đậy sự chột dạ:
"Gom sổ cũ thì liên quan mẹ gì đến mày? Đám sai nha dọn kho để chuẩn bị đón quan thanh tra cuối năm, chuyện thường ngày ở huyện, mày chõ mũi vào làm gì?"
Vương Quang vẫn ngồi quỳ trên một đầu gối, bàn tay trái cẩn thận phủi sạch lớp bụi bám trên bìa một cuốn sổ đinh. Hắn không ngẩng mặt lên nhìn tấm lưng của lão Đỗ, chỉ chậm rãi buông thêm một câu, giọng nói rời rạc như đang lẩm bẩm một mình:
"Dạ, con chỉ nghe loáng thoáng mấy thầy bên nha lại bàn nhau... Đàm đại nhân muốn tìm lại cuốn sổ lưu nháp của tổng Hạ thời Cảnh Hưng thứ mười. Người ta bảo... trong cuốn ấy có một trang ký nhận gạo chẩn đói cho đinh nam bị chết đuối... hình như chưa đóng dấu triện hủy của nha môn."
Lời nói của Vương Quang nhẹ tênh như một làn khói thuốc lào tàn, nhưng vừa dứt câu, toàn bộ gian phòng tàng thư bỗng chìm vào một sự im lặng chết chóc.
Lão Đỗ không nhúc nhích. Cả thân hình đẫy đà của lão như bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt từ phía sau gáy.
Mười năm trước, vụ vỡ đê bãi Cổ Miễu làm trôi mất mấy chục mạng người. Triều đình xuất kho hàng trăm hộc gạo cứu đói, nhưng số gạo thực sự đến tay dân làng Hạ chưa đầy một nửa. Bản đinh bạ chính thức gửi lên phủ đã được Đàm Thông phán dùng mực đỏ sửa chữa sạch sẽ, nhưng cái bản nháp lưu hành chính — nơi ghi lại từng chữ ký tay và vết điểm chỉ nhận gạo của những người sống sót — thì nằm lại ở chính cái góc tàng thư xó xỉnh này. Và năm đó, kẻ trực tiếp chấm mực, giữ tay từng người dân đói rách ấn ngón tay dính bùn vào góc giấy... chính là Đỗ Văn Cương.
Nếu trang giấy đó thực sự bị lôi ra ánh sáng, nếu một con dấu hủy bị thiếu sót khiến người ta lần ra dấu vết của hàng trăm hộc gạo bị nuốt trọn...
Trán lão Đỗ túa ra một tầng mồ hôi hột to bằng hạt ngô. Mồ hôi lạnh chảy ròng ròng qua hai bên thái dương, rỏ tong tỏng xuống cổ áo vải thô cáu ghét. Lão không dám quay lại nhìn Vương Quang nữa. Đôi mắt ti hí của lão đảo quanh như chuột chạy cùng đường, nhìn vào những chồng hồ sơ cao ngất ngưởng chung quanh.
Lão không biết thằng chép mướn què tay này thực sự đã nhìn thấy cuốn sổ ấy ở phòng tài vụ, hay nó chỉ tình cờ nghe lỏm được vài câu của đám sai nha, hoặc tệ hơn nữa... chính tay nó đã từng lật giở trang giấy chết người đó trong ba năm ngồi mài mực ở cái xó này.
Nỗi sợ hãi mơ hồ luôn là thứ gặm nhấm tâm can con người ta kinh khủng nhất. Vương Quang không hề đưa ra một con số cụ thể, không hề nhắc đến tên lão, cũng chẳng hề đe dọa tố giác. Hắn chỉ nhẹ nhàng thả một mẩu xương cá sắc lẹm vào đúng chỗ hiểm nhất trong cuống họng của lão Đỗ, để mặc cho sự chột dạ và nỗi sợ hãi chốn quan nha tự bóp nghẹt lấy hơi thở của lão.
Lão Đỗ đứng trơ ra đó suốt nửa khắc đồng hồ. Tiếng tim lão đập thình thịch trong lồng ngực béo phệ nghe rõ mồn một.
Cuối cùng, lão nuốt nghẹn một cục đờm đặc quánh ở cổ họng, phát ra một tiếng ực nặng nề. Lão chậm chạp xoay người lại.
Khuôn mặt lão Đỗ lúc này tái mét như người ngâm nước, khóe môi giật giật méo mó. Cái vẻ hách dịch, trịch thượng ban nãy đã hoàn toàn biến mất, chỉ còn lại sự dè chừng, hèn hạ và đầy vẻ cảnh giác của một kẻ tiểu nhân đang đứng trước một cái hố sâu mà mình không thể lường được đáy.
Lão nhìn chằm chằm vào đỉnh đầu của Vương Quang — nơi tên chép mướn vẫn đang cúi gập người, kiên nhẫn xếp lại từng tờ giấy rách nát trên sàn gạch.
"Mày..." Lão Đỗ mở miệng, nhưng giọng lão đã xìu hẳn xuống, khàn đặc và run rẩy: "Mày... nghe nhầm đấy thôi. Làm... làm gì có cuốn sổ nào thiếu dấu hủy... Chuyện mười năm trước quan trên đã quyết toán xong xuôi từ đời tám hoánh nào rồi..."
Vương Quang không đáp. Hắn chỉ bê chồng hồ sơ đã xếp ngay ngắn đặt lên mặt bàn, rồi lẳng lặng đứng dậy.
Thấy Vương Quang im lặng, lão Đỗ lại càng thêm hoang mang tột độ. Lão thò bàn tay run rẩy vào trong ống tay áo, rút nắm tiền kẽm ba mươi đồng ban nãy ra. Đôi mắt lão liếc trộm nhìn Vương Quang một cái, rồi lấm lét bước tới mép bàn, đặt nắm tiền kẽm xuống góc gỗ mục, phát ra những tiếng leng keng khô khốc.
"Cái này... tiền công ba hôm trước của mày, tao cất hộ trong ngăn kéo kẻo đám phu quét dọn nó tiện tay lấy mất," lão Đỗ lầm bầm trong họng, mắt nhìn lảng ra phía cửa sổ dán giấy rách: "Lát nữa dọn dẹp xong thì ngồi yên đấy mà chép trát. Đừng có đi lại lung tung trong nha lỵ... Giờ này quan trên đang bực dọc, lảng vảng ra ngoài hành lang lính nó bắt được lại bảo là quân dọ thám..."
Nói xong, lão Đỗ như kẻ trộm vừa thoát tội, vội vàng quay ngoắt người, lủi thủi đi nhanh về phía góc bàn của mình. Lão ngồi phịch xuống chiếc ghế gỗ lim, vội vã kéo một chồng sổ đinh bạ chắn ngang trước mặt, cúi gằm đầu xuống giả vờ lật giở giấy tờ, tuyệt đối không dám ngẩng lên nhìn sang phía góc bàn của Vương Quang thêm một lần nào nữa.
Gian phòng lại chìm vào sự tĩnh lặng ngột ngạt quen thuộc.
Vương Quang đứng lặng lẽ bên mép bàn.
Hắn không nhìn nắm tiền kẽm ba mươi đồng đang nằm lăn lóc trên mặt gỗ, cũng không có vẻ gì là vui mừng hay hả hê. Hắn hiểu rất rõ: hắn chẳng thắng được cái gì cả. Lão Đỗ nhả lại ba mươi đồng tiền kẽm không phải vì lão phục thiện, mà vì lão sợ một bóng ma trong quá khứ do chính lão tạo ra. Ở cái chốn tàng thư này, lão Đỗ vẫn là một viên lại dịch có tên trong biên chế, còn hắn vẫn chỉ là một tên chép mướn què quặt, mang trên tay chiếc cùm đồng của phủ đường và có thể bị vứt bỏ bất cứ lúc nào khi công việc hoàn tất.
Hắn dùng bàn tay trái kéo chiếc ghế đẩu mục nát ra, chậm chạp ngồi xuống.
Chiếc ghế gỗ kêu lên một tiếng ọt ẹt quen thuộc dưới sức nặng của thân thể hắn.
Vương Quang hít một hơi sâu, mùi dầu lạc mốc và bụi giấy cũ xộc vào phổi làm hắn khẽ ho lên một tiếng nghẹn ngào. Hắn với tay lấy thỏi mực muội thông đã mòn vẹt một góc đặt lên nghiên đá, rồi dùng tay trái rót một gáo nước lạnh từ chiếc bình gốm cáu bẩn bên cạnh vào lòng nghiên.
Hắn bắt đầu thử mài mực bằng tay trái.
Những ngón tay vụng về gượng gạo xoay tròn thỏi mực trên mặt đá nhám. Thỏi mực trượt đi chệch choạc, phát ra những tiếng rột roạt chói tai. Nước mực đen bắn tung tóe ra mép bàn gỗ, lem luốc lên cả mặt tờ giấy bản trắng tinh vừa trải ra.
Cơn đau từ cổ tay phải lại nhói lên từng hồi dữ dội. Khi hắn khẽ tì cánh tay tàn phế lên mặt bàn để giữ thăng bằng, thanh gá bằng đồng đen hình móng ngựa cọ mạnh vào mép gỗ nghiến.
Keng.
Một tiếng kim loại va chạm rất khẽ, sắc lạnh và đanh gọn vang lên giữa không gian tĩnh mịch.
Ở góc phòng bên kia, sau chồng hồ sơ đinh bạ cao ngất ngưởng, bả vai của lão Đỗ khẽ giật bắn lên một cái. Tiếng lật giấy của lão đột ngột ngưng bặt trong nửa nhịp thở, nhưng lão vẫn cắm chặt mặt vào trang giấy, dán chặt mắt vào những dòng chữ Hán vô tri, không dám quay đầu lại nhìn.
Vương Quang cúi đầu. Hắn nhìn chăm chú vào vệt mực đen đặc đang loang lổ trên mặt giấy dó.
Bên ngoài cửa sổ, lớp sương muối đã bắt đầu tan biến dưới ánh mặt trời mùa đông nhợt nhạt. Từ gác chuông huyện nha phía xa xa, tiếng mõ canh lại vang lên uể oải, nặng nề, xé toạc bầu không khí lạnh giá của buổi sớm.
Cốc.
Một tiếng.
Cốc.
Rồi một tiếng nữa.
Trong căn phòng bốc mùi dầu lạc nồng nặc, không ai nói thêm một câu nào. Chỉ có tiếng thỏi mực muội thông vụng về cọ trên mặt nghiên đá, và tiếng kim loại lạnh ngắt của chiếc cùm đồng thi thoảng lại cào nhẹ lên thớ gỗ mục nát, chậm rãi đánh dấu từng khắc thời gian đang trôi qua trên số phận của kẻ sống sót.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.