Nhân Gian Có Màn

Chương 31: Vết Nứt Trên Vành Chuông

Đăng: 13/09/2026 08:04 3,230 từ 2 lượt đọc

Trời đứng bóng, nhưng cái lạnh cắt da của tháng Chạp vẫn không vơi đi được nửa phần. Sương mù chỉ rút từ mặt đất lên lưng chừng ngọn tre, đọng lại thành một lớp trần mây xám xịt, nặng trĩu, sà sát xuống những mái rạ liêu xiêu của xóm chài ven đê.

Vương Quang bước ra khỏi cổng ngách huyện nha với một chiếc ống tre đựng trát lệnh đeo chéo qua vai.

Việc này không do Đàm Thông phán trực tiếp truyền đạt. Người giao việc là một viên lại dịch coi việc kho bãi của huyện — một gã mặt choắt, hai bên mép thâm sì vì nghiện thuốc lào nặng. Gã quẳng xuống góc bàn một tờ công văn đóng dấu đỏ tươi của nha Đốc Vận, kèm theo năm đồng kẽm tiền đò: điền dã xuống đình làng Hạ, đối chiếu danh sách những đinh nam mất tích và chết trôi trong vụ vỡ đê mười năm trước được khắc trên văn bia hậu cung với cuốn địa bạ bãi bồi vừa phục hồi.

Một công việc bẩn thỉu, tốn công mà chẳng kẻ nào trong phòng tàng thư muốn nhận. Đi bộ sáu dặm đường đê bùn lầy giữa gió bấc, chui vào chốn miếu mạo lạnh lẽo để cạo từng nét chữ Hán đóng rêu trên đá hộc, lại chẳng có lấy một cắc bổng lộc đút túi. Với một kẻ tay phải vừa bị đóng cùm đồng, thịt ở kẽ hai ngón tay dập nát chưa kín miệng như Vương Quang, chuyến đi này không khác gì một hình phạt; nhưng với hắn, bước chân ra khỏi bốn bức tường bốc mùi dầu lạc của gian phòng tàng thư, thoát khỏi ánh mắt lấm lét như chuột ngửi thấy bẫy của lão Đỗ, đã là một sự giải thoát tạm thời.

Hắn lầm lũi đi dọc theo con đê sông Đáy.

Gió từ mặt sông thổi thốc lên triền dốc, quất từng luồng lạnh buốt vào ống quần ướt sũng. Bàn tay phải của hắn buông thõng bên sườn, nép sát vào vạt áo để tránh những cơn gió táp. Cứ mỗi bước chân nện xuống mặt đường đất mấp mô, chiếc thanh gá bằng đồng đen lại nảy lên một nhịp, hai con đinh tán đồng thau cấn thẳng vào màng xương cổ tay đau buốt buốt tận óc.

Vết thương bị gió lạnh táp vào bắt đầu sưng tấy, rỉ ra một chất dịch vàng đục hòa lẫn với mùi mỡ trâu tẩm trên miếng da lót mòn vẹt. Vương Quang phải dùng bàn tay trái lành lặn giữ chặt lấy cùi chỏ tay phải, ép nó vào sát mạn sườn để giảm bớt độ rung lắc. Hắn cắm mặt nhìn xuống mũi giày rách tơi tả, cắn chặt răng bước từng bước một.

Làng Hạ nằm ép mình sau một con lạch nhỏ ăn thông ra sông Đáy. Ngôi đình làng dựng trên một gò đất cao hình mai rùa, xung quanh vây bọc bởi những rặng nhãn cổ thụ cành lá khẳng khiu, xơ xác như những cánh tay xương xẩu giơ lên trời đông.

Đình làng vùng này không nguy nga như đình ngoài kinh kỳ. Đó là một ngôi nhà năm gian hai chái lợp ngói mũi hài đã chuyển sang màu đen rêu mục, bờ nóc đắp đôi rồng chầu mặt nguyệt bị mưa gió xói mòn cụt mất nửa phần đuôi. Sân đình lát gạch vồ trũng xuống ở giữa, đọng lại một vũng nước mưa đen ngòm lềnh bềnh tàn nhang rụng và lá cây thối rữa.

Không một bóng người. Cả ngôi đình rộng lớn chìm trong một sự im lìm ngột ngạt, chỉ có tiếng gió rít qua những khe cửa ván ép và tiếng quạ kêu quang quác từ bụi tre đầu xóm vọng lại.

Vương Quang bước qua bậc thềm đá xanh dẫn vào gian tiền tế.

Ở góc hồi bên trái, dưới gác chuông bằng gỗ xoan mục nát, một ông lão gầy gò đang lom khom quét dọn. Lão mặc chiếc áo tơi lá rách bươm, chiếc nón cời cụt vành đội lệch sang một bên để lộ nửa bên mặt nhăn nheo như quả táo tàu khô. Một con mắt bên phải của lão đã mù lòa từ lâu, tròng mắt đục ngầu như lòng trắng trứng gà luộc dở, chỉ còn con mắt bên trái ti hí, kèm nhèm vệt gỉ mắt vàng ố đang hấp háy nhìn từng cọng rác trên nền gạch.

Đó là Cụ Từ — người đã giữ chìa khóa và hương khói cho ngôi đình này qua ba đời lý trưởng.

"Ai đấy?"

Tiếng chổi tre cào trên nền gạch xoạt... xoạt đột ngột ngưng bặt. Cụ Từ không ngẩng đầu lên hẳn, chỉ nghiêng nửa bên mặt lành lặn về phía bậc cửa, cái mũi hếch lên ngửi ngửi vào trong gió như loài thú hoang đánh hơi thấy mùi lạ.

"Bẩm cụ," Vương Quang đứng dừng lại ở bậc thềm thứ hai, cúi đầu khép nép theo thói quen: "Con là người của tàng thư lầu huyện nha. Vâng lệnh quan trên đem trát lệnh về đối chiếu danh sách đinh nam trôi sông khắc trên văn bia hậu cung."

Cụ Từ chậm rãi chống cán chổi tre xuống đất, ngước con mắt kèm nhèm lên nhìn.

Ánh mắt lão lướt qua manh áo nâu rách bươm của Vương Quang, dừng lại ở chiếc ống tre đeo bên sườn, rồi hạ xuống bàn tay phải bất động đang được giấu hờ hững trong vạt áo. Thấy chiếc gá đồng đen lấp ló dưới mép vải xơ xác, khóe mắt lão già khẽ giật một cái, nhưng lão không hỏi một câu nào. Những người già giữ đình miếu ở đất châu thổ này sống đủ lâu để hiểu rằng: những kẻ mang đồ sắt của nha môn trên người tốt nhất là không nên gặng hỏi nguồn cơn.

"Trát ở đâu?" Giọng Cụ Từ khàn đục như tiếng cối đá nghiền ngô.

Vương Quang dùng tay trái tháo chiếc ống tre, rút ra tờ công văn có đóng dấu đỏ của huyện nha đưa bằng hai tay.

Lão già đón lấy tờ giấy, đưa sát vào con mắt trái còn sáng, nheo mắt nhìn vết dấu triện son một lúc lâu. Lão không biết nhiều chữ Hán, nhưng lão nhận ra hình thù con dấu của quan huyện. Lão gập đôi tờ giấy lại, nhét vào cạp chiếc quần vải thô cáu bẩn, rồi quay người cầm chổi bước vào phía trong:

"Muốn đọc bia thì vào gian sau. Nhưng đừng có đụng chạm vào đồ thờ. Dạo này trong hậu cung... động lắm."

Vương Quang bước theo sau gót chân nứt nẻ cáu bùn của Cụ Từ.

Khi đi ngang qua gác chuông treo lửng lơ ở gian chái bên tả, bước chân hắn bỗng khựng lại.

Trên chiếc xà ngang bằng gỗ lim đen bóng vì khói dầu, một quả chuông đồng cổ cao chừng ba thước đang buông thõng xuống. Chuông đúc theo dáng búp sen, bốn mặt khắc bốn chữ triện lớn đã mòn vẹt mép. Nhưng thứ khiến Vương Quang phải chững lại không phải là những hoa văn sóng nước hay hình rồng uốn lượn quanh quai chuông, mà là một vệt rạn nứt kỳ dị chạy dọc từ quai sắt xuyên thẳng qua thân chuông xuống tận mép vành dưới.

Vết nứt không lớn, chỉ mảnh như sợi tóc, nhưng mép đồng ở hai bên vết xé đã sùi lên một lớp rỉ xanh nhờ nhờ như vảy cá ươn.

Đúng lúc ấy, một luồng gió bấc từ cửa sông thổi thốc qua khe ván, lay nhẹ chiếc chày gỗ treo lơ lửng bên cạnh làm nó va khẽ vào vành chuông.

Koong... rẹt...

Một tiếng động chát chúa vang lên.

Âm thanh phát ra nghẽn đặc, rè rè và run rẩy như tiếng kim loại bị bóp nghẹt trong một lớp bùn nhão, nghe vừa chói gắt vừa buốt lạnh màng nhĩ, kéo theo một chuỗi âm vang cụt ngủn rồi tắt lịm trong sự tù hãm.

Cụ Từ không quay đầu lại, nhưng bàn tay cầm cán chổi tre của lão siết chặt hơn một chút.

"Nứt từ đêm rằm tháng trước đấy," lão lẩm bẩm, giọng phẳng lặng không một chút ngạc nhiên: "Canh ba tự nhiên nó nứt toác ra một đường. Tiếng kêu như gà bị cắt tiết. Đêm ấy ngoài bãi bồi Cổ Miễu nước sông dềnh lên ngập cả chân đê, dưới đáy sông phát ra tiếng lục bục như người ta ném đá xuống giếng thối. Từ hôm ấy, chuông đình làng này coi như điếc."

Vương Quang nhìn vết rạn trên thân đồng thêm một lúc rồi cúi đầu.

Hắn nhớ đến tiếng cọc sắt nện xuống bãi Cổ Miễu đêm qua. Chỉ một tiếng động thôi, nhưng không hiểu sao nghe lại giống hệt tiếng quả chuông vừa nứt. Hắn không biết hai chuyện ấy có liên quan hay không. Những việc vượt quá phận một kẻ chép thuê, hắn trước giờ không có thói quen đoán đến cùng.

Hắn lẳng lặng cúi đầu bước tiếp theo Cụ Từ vào gian hậu cung.

Không khí bên trong hậu cung tối tăm và ẩm thấp hơn bên ngoài gấp bội. Nơi đây không có cửa sổ, ánh sáng duy nhất chỉ là ngọn đèn dầu lạc leo lét đặt trên chiếc đĩa sành cáu bẩn giữa hương án. Mùi dầu hôi nồng nặc quyện với mùi ẩm mốc của những tấm rèm điều mục nát tạo nên một thứ tử khí ngột ngạt đến nghẹt thở.

Trên hương án chính, ngai thờ Thành Hoàng làng phủ một tấm vải điều đã rách nát nhiều chỗ. Pho tượng Thành Hoàng đúc bằng đất nện, bên ngoài thếp một lớp vàng lá đã bong tróc nham nhở, để lộ lớp đất sét đen sì bên trong.

Pho tượng không ngồi ngay ngắn. Toàn bộ thân tượng hơi đổ nghiêng sang mạn hữu, phần ngực áo bằng đất nện có một vết nứt toác kéo dài từ vai xuống tận thắt lưng, làm rơi vãi xuống mặt bàn thờ những mẩu đất vụn màu xám ngoét. Ba nén hương cắm trên bát sứ Bát Tràng cắm ngược đầu xuống tro, tàn nhang rụng lả tả thành một đống bầy nhầy ướt nước.

Bàn thờ lạnh ngắt. Không có hoa quả tươi, không có oản xôi, chỉ có mấy mẩu nến sáp cháy dở bám đầy bụi tro.

"Bia đá nằm ở góc vách kia kìa," Cụ Từ giơ chiếc chổi tre chỉ về phía góc tối sau ngai thờ: "Đọc cho nhanh rồi cút ra ngoài. Trong này tối tăm, ở lâu trúng gió độc thì lại khổ cái thân tàn."

Vương Quang bước lại gần góc vách. Ở đó, một tấm bia đá xanh hình chữ nhật cao chừng hai thước cắm sâu vào bệ đá hình rùa. Mặt bia bám một lớp rêu phong đen kịt và muội khói tích tụ hàng chục năm.

Hắn ngồi xổm xuống, tháo chiếc túi vải đeo bên hông, lấy ra mẩu than củi, một tệp giấy bản thô ráp và cuốn sổ địa bạ bãi bồi vừa phục hồi. Hắn thử dùng bàn tay trái miết nhẹ lên mặt đá lạnh buốt để tìm những dòng chữ Hán khắc chìm ghi chép về danh sách đinh nam mất tích trong trận lụt năm Cảnh Hưng thứ mười. Nét chữ khắc cạn, lại bị rêu lấp kín, ngón tay hắn sờ soạng một hồi lâu mà chỉ thấy những vết lồi lõm vụn nát.

Muốn sao chép lại, hắn buộc phải dùng ngón tay cạo sạch lớp rêu bám trong khe chữ.

Nhưng bàn tay trái vụng về không đủ lực. Mỗi lần hắn dùng sức ấn móng tay cào vào đá, cả thân người hắn lại nghiêng đi, kéo theo cánh tay phải tàn phế va đập vào góc bệ đá xanh.

Cạch!

Thanh gá đồng đen nện vào cạnh đá phát ra một tiếng kêu khô khốc. Cơn đau nhói buốt từ hai đốt ngón tay dập nát lại bùng lên dữ dội, khiến mồ hôi lạnh trên trán Vương Quang túa ra đầm đìa, chảy ròng ròng xuống cằm rồi rơi tách một giọt xuống nền đất nện.

Hắn cắn chặt môi đến bật máu, cố ghì chặt cánh tay phải vào đùi để kìm cơn run rẩy.

Trong lúc cúi người xuống để lấy lại hơi thở, mắt Vương Quang vô tình liếc nhìn xuống chân bệ của pho tượng Thành Hoàng đặt cách đó chưa đầy một gang tay.

Pho tượng bị nghiêng là do chiếc chân ngai bằng gỗ lim phía dưới đã bị mục ruỗng một bên mấu. Để giữ cho bức tượng không bị đổ ụp xuống hương án, người ta đã chèn vào dưới góc chân ngai một vật để kê cho bằng.

Đó là một mảnh ván gỗ mục.

Miếng gỗ dài chừng nửa gang tay, dày hơn một đốt ngón, mép gỗ nham nhở như bị rìu chém vỡ từ một tấm bảng lớn hơn. Nó bị ngâm nước lâu ngày nên đã chuyển sang màu đen thẫm của bùn đáy ao, trên bề mặt bám đầy một lớp váng xám xịt khô cứng.

Với ba năm ngồi giữa những thứ giấy mục và hồ sơ cũ ở tàng thư bến Đáy, Vương Quang quen mắt với dấu triện hơn người thường. Hắn không đọc ra được toàn bộ nét khắc đã mòn vẹt, nhưng biết chắc đó không phải vết rìu hay thớ gỗ tự nhiên. Trên mảnh gỗ này từng có người đóng dấu, hoặc khắc một thứ gì đó theo khuôn phép chặt chẽ của công môn.

Hắn ngước mắt nhìn lên Cụ Từ đang đứng tựa lưng vào cột cái, khẽ cất tiếng hỏi:

"Bẩm cụ... miếng gỗ dưới chân ngai này... là từ đâu ra thế ạ?"

Cụ Từ lim dim con mắt lành lặn, liếc nhìn xuống góc bàn thờ rồi tặc lưỡi một cái khô khốc:

"Gỗ dâu đấy. Ngày xưa người ta chặt ở bờ bãi đem về, già rồi thì đen như than. Mấy năm trước chân ngai bị mọt ăn sụp mất một góc, tượng nghiêng ngả như người say rượu, tao tiện tay nhặt nhét vào đấy kê cho nó đứng thẳng. Gỗ tốt thì đem kê chân, bỏ đi cũng uổng."

Nói xong, lão già cúi xuống nhặt một mảnh ngói vỡ dưới đất, thọc tay vào góc bệ tượng, cạy mạnh một cái:

"Mà dạo này hậu cung ẩm quá, miếng gỗ ấy ngấm nước phồng rộp lên làm tượng lại lệch sang bên phải. Mày nhắc tao mới nhớ, để tao thay bằng mảnh ngói này cho nó chắc."

Lão già dùng sức hẩy một cái. Miếng gỗ trượt ra khỏi gầm ngai thờ, rơi lạch cạch xuống nền đất nện ngay trước mũi giày của Vương Quang. Cụ Từ nhét miếng ngói vỡ vào thế chỗ, dùng gót chân nện nhẹ cho bệ tượng thăng bằng trở lại, rồi phủi tay:

"Đấy, xong rồi. Mày cạo chữ cho nhanh rồi dọn cái đống rác rưởi ấy vứt ra gốc đa ngoài cổng hộ tao. Đừng để vướng chân người vào lễ."

Cụ Từ lầm lũi quay lưng bước ra gian tiền tế, để lại Vương Quang một mình giữa gian hậu cung ngột ngạt.

Vương Quang nhìn mảnh gỗ nằm chỏng chơ dưới lớp bụi đất.

Hắn đưa tay trái nhặt nó lên. Miếng gỗ nhẹ bẫng, xốp và lạnh ngắt. Ngón tay hắn miết nhẹ lên vệt rãnh khắc chìm đã mòn vẹt. Một mảnh gỗ có dấu cũ của công môn, nếu đem vứt ra gốc đa cho mục nát thì uổng phí; với một kẻ chép thuê chuyên lục lọi giấy tờ cũ, việc giữ lại một dấu tích cũ biết đâu sau này có dịp dùng để đối chiếu văn thư.

Nghĩ đoạn, hắn lẳng lặng nhét miếng gỗ dâu vào sâu trong ống tay áo bên trái của mình.

Đúng lúc miếng gỗ trượt vào nếp vải, khóe mắt phải của Vương Quang bỗng giật mạnh một cái nhói buốt, một cơn lạnh bất chợt chạy dọc qua cổ tay mang cùm đồng rồi tan biến vào da thịt. Hắn khẽ chớp mắt, đưa tay quẹt nhẹ mi mắt rồi gạt ý nghĩ ấy đi, kéo tập giấy bản lại gần chân bệ đá xanh.

Hắn ngồi bẹp xuống nền đất, trải tờ giấy bản lên mặt bia. Bàn tay trái vụng về kẹp chặt mẩu than củi, tì mạnh lên thớ giấy thô ráp rồi bắt đầu chà từng nét đều đặn.

Tiếng than củi cọ trên mặt đá sột soạt vang lên đều đặn trong gian phòng tối. Từng dòng chữ Hán khắc sâu dưới lớp rêu phong dần dần hằn lên nền giấy trắng: tên họ của những người làng Hạ bị nước cuốn trôi mười năm trước, ngày con đê vỡ, xóm ngụ cư bị xóa sổ...

Vương Quang mở cuốn địa bạ bãi bồi đặt bên cạnh, dùng ngón tay cái của bàn tay trái rà soát từng dòng để đối chiếu số đinh.

Hắn chà đến cái tên thứ mười lăm... thứ hai mươi... rồi thứ ba mươi.

Tất cả đều khớp với phần ghi chép đinh tịch trôi sông mà nha Đốc Vận lưu trữ.

Nhưng khi mẩu than củi của hắn chà đến hàng chữ cuối cùng ở góc dưới cùng bên hữu của tấm bia đá, ngón tay hắn bỗng khựng lại giữa chừng.

Hắn đếm lại lần thứ hai.

Trên mặt bia đá xanh bám rêu, danh sách đinh nam làng Hạ chết trôi năm đó có tất cả ba mươi tám người. Nét chữ khắc trên đá rành rọt, rãnh khắc sâu hoắm, tên của người thứ ba mươi tám hiện lên rõ mồn một: Trần Bá Lập.

Vương Quang lật vội cuốn sổ địa bạ đặt bên cạnh, giở đến trang cuối cùng của phần thống kê nhân đinh bãi Cổ Miễu.

Mắt hắn nhìn chằm chằm vào trang giấy.

Ở vị trí tương ứng với cái tên thứ ba mươi tám, mặt giấy dó mỏng manh không có chữ. Nơi đó chỉ còn lại một khoảng trống xơ xác, sợi giấy bị cọ xước nham nhở — dấu tích của một lưỡi dao trổ đã cạo sạch lớp mực đen từ rất nhiều năm về trước, cạo kỹ đến mức thấu cả sang trang sau, không để lại lấy một dấu vết của con dấu hay nét bút nào.

Bia đá có ba mươi tám người.

Sổ nha môn chỉ ghi nhận ba mươi bảy.

Một suất đinh đã bị ai đó xóa sạch khỏi sổ sách của trần gian.

Ngoài hiên, chiếc chày gỗ lại bị gió lay, va nhẹ vào vành chuông đồng nứt toác.

Koong... rẹt...

Âm thanh ngắn ngủi, chát chúa ấy chạy dọc mái đình rồi tắt lịm giữa màn gió bấc gầm gừ.

Vương Quang ngồi bất động giữa gian hậu cung nhá nhem tối, bàn tay trái vẫn giữ chặt mẩu than củi trên mặt giấy, mắt cắm chặt vào khoảng trắng nham nhở trong cuốn địa bạ.

0
Ủng hộ tác giả Cương Vương Nếu bạn yêu thích tác phẩm, hãy ủng hộ mình ly cafe nhé <3