Chương 26: Thuyền Ba Dầm Xuất Lạch
Nhân Gian Có Màn
Mục lục
31 chươngCuộn, vuốt hoặc dùng hai nút để xem thêm Đã tải 31/31 chương
Gió bấc nửa đêm thổi thốc trên sông Đáy, mang theo hơi nước buốt giá như châm kim vào từng thớ thịt.
Trên mặt đê bến Đáy, ngọn đèn lồng dầu trẩu treo trên chòi canh tuần giang đung đưa kèn kẹt theo từng cơn gió giật, hắt một vệt sáng đỏ quạch, chập chờn xuống mặt nước phù sa. Từ phía vọng gác bến sông xa xa, tiếng mõ cầm canh của tuần đinh điểm từng hồi cắc... cắc... tùng... rời rạc, khô khốc rồi chìm dần vào màn sương đục. Canh ba. Giờ Tý đã điểm.
Ở mũi chiếc thuyền ba dầm số bốn, tẩu thuốc lào trên môi Trần Tam lóe lên một đốm đỏ le lói rồi lụi tàn, rơi xuống một mẩu tàn tro đen khét lẹt. Gã nhổ toẹt một bãi nước bọt chát xít xuống lòng sông, rồi lầm lũi chống tay đứng dậy. Bước chân phải của gã nện xuống ván đáy kêu cộp, kéo lê cái gót giày rách lẹp xẹp qua lớp bùn trơn tuột. Gã bước lại gần mũi thuyền, cúi người xuống cọc neo bằng gỗ nghiến chôn ngập dưới mép nước.
Sợi dây thừng bện bằng vỏ đay to bằng cổ tay ngâm nước phù sa mùa đông lâu ngày đã đông cứng lại, đóng một lớp váng xám ngoét, cứng quèo như một đoạn rễ tre mục. Trần Tam thò bàn tay trái gân guốc nắm lấy mối gút, dùng hết sức giật mạnh. Mối dây ken chặt không hề lay chuyển. Gã nghiến răng, cúi rạp đầu xuống, đưa hàm răng vàng ệch cắn chặt vào đầu mối thừng sũng nước, gồng cơ cổ giằng giật từng chặp. Vị bùn tanh nồng và mùi dầu trám trét thuyền xộc thẳng vào cuống họng làm gã ho sặc sụa.
Phựt.
Đầu dây thừng bật khỏi ngàm cọc. Chiếc thuyền ba dầm hẫng đi một nhịp, lườn thuyền gỗ lim cọ vào chân bờ kè đá phát ra một tiếng ken két chói tai. Dòng nước xiết mùa đông lập tức chồm lên mạn thuyền, đẩy mũi thuyền chầm chậm xoay ngang, trôi tuột ra khỏi bóng tối của chân cầu tàu, dạt thẳng ra luồng nước sâu giữa lòng sông Đáy.
Dưới đáy khoang thuyền, Vương Quang nằm co quắp trong lớp nước láng ngập ngang sườn.
Nước phù sa mùa đông lạnh buốt ngấm qua lớp vải chấn thủ rách nát, ép chặt vào da thịt khiến từng xương sườn của hắn đau thắt lại. Mỗi hơi thở hắn hắt ra đều nghẹn ứ nơi cuống họng, sặc sụa mùi nước sông tanh nồng lẫn với mùi dầu trẩu cáu bẩn đọng lại dưới các khe ván. Nhưng cái rét thấu xương ấy chẳng thể nào át nổi cơn đau buốt nhức từ bàn tay phải.
Hai ngón tay trỏ và ngón giữa bị cặp nẹp gỗ nghiến nghiền nát lúc giờ Thân trong gian phòng đá nay đã sưng múp lên, tụ máu tím thẫm. Lớp da thịt dập toác ra, bết dính với những vệt máu đen đông cứng lại thành từng mảng khô ráp. Mỗi nhịp đập của mạch máu nơi cổ tay lại giật thót lên một cơn buốt rát xộc thẳng lên tận đỉnh đầu, khiến hai mắt hắn hoa lên, con ngươi giật giật từng chặp trong bóng tối lờ nhờ.
Hắn thử khẽ co ngón tay cái bên phải. Một luồng chấn động buốt nhói chạy dọc theo xương cẳng tay làm cả người hắn co giật mạnh. Chiếc đầu gối đập vào thanh be thuyền phát ra một tiếng bịch nghẽn đục. Răng hắn va vào nhau lách cách, từng đợt run rẩy không thể kìm nén phát ra từ hai hàm răng buốt cóng.
Khực... oong...
Tiếng cọc chèo bằng gỗ nghiến cọ xát vào rãnh mạn thuyền rên rỉ nặng nề, xé toạc sự tĩnh mịch của đêm sương.
Trần Tam đứng sừng sững ở đuôi thuyền. Cánh tay phải bị thương của gã quấn chặt dải vải sô thô ráp, nẹp cứng ngắc vào sườn; toàn bộ sức lực đều dồn cả vào bàn tay trái đang gồng lên nắm chặt lấy cán dầm bơi. Gã kẹp phần chuôi dầm vào hõm nách bên phải, dùng toàn bộ trọng lượng nửa thân trên oằn người sang bên tả để bù lực cho nhịp chèo. Mỗi lần lưỡi dầm gỗ ngập xuống nước, thân thuyền ba dầm lại chao đảo dữ dội, lườn ván gỗ lim trét hắc ín kêu răng rắc dưới sức ép của con nước ngược.
Bước chân khập khiễng của Trần Tam nện xuống sàn gỗ những nhịp lẹp... xẹp... trơn trượt. Dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn chai dầu lạc cắm ở be thuyền, dải vải sô quấn quanh cổ tay phải của gã lính thủy lúc này đã ướt đẫm một mảng lớn. Không phải do bọt nước sông bắn vào, mà từ sâu bên trong thớ vải gai, một thứ dịch màu đỏ nhờ nhờ tanh tưởi rỉ ra ngày một nhiều. Từng giọt dịch đỏ sẫm nhỏ tong tỏng xuống sàn ván cạnh bàn chân trần nứt nẻ của gã, quyện vào lớp bùn non trôi lững lờ dưới đáy khoang.
Chiếc thuyền trôi xuôi theo con nước mùa đông. Dãy nhà kho chứa dầu trám, cầu tàu đá hộc và cổng sắt của Giang Hà Đốc Vận Sứ Ty lùi dần vào bóng đêm mịt mùng phía sau lưng. Không gian xung quanh chỉ còn lại tiếng gió bấc rít qua những bãi lau sậy rậm rạp ven hai bờ đê, nghe như tiếng vải xé ràn rạt vào mặt đá.
Vương Quang nằm im dưới đáy khoang, hai mắt mở hé nhìn qua làn sương mù đục ngầu. Mồ hôi lạnh toát ra từ chân tóc hòa lẫn với nước sông chảy ròng ròng xuống khóe mi cay xè.
Dưới ánh sáng le lói hắt ra từ ngọn đèn chai đặt ở be thuyền, tầm mắt hắn dừng lại ở thắt lưng da trâu của Trần Tam.
Gài chặt dưới sợi dây lưng da ấy là một chiếc thẻ bài bằng gỗ thị hình đuôi cá mang hai chữ "Đốc Vận" cùng một tờ giấy bản mỏng dính gấp làm tư nhét lòi ra một nửa. Đó là tờ Phiếu điều động xuất giang mà Đàm Thông phán đã quẳng vào người Trần Tam lúc rời khỏi Hữu Tàng Các. Tên của hắn—ba chữ “Vương Văn Quang”—nằm im lìm dưới nửa vệt dấu son tươi quạnh quẽ trong lớp nếp gấp của tờ giấy ấy.
Vương Quang khẽ cựa quậy khớp cổ, cố nâng cái đầu nặng trịch lên khỏi vũng nước láng lạnh buốt. Hắn nghiêng mặt về phía đuôi thuyền. Cuống họng hắn khô rát như có người nhét một nắm vỏ trấu vào khí quản, từng tiếng thốt ra mỏng dính, khàn đặc và run rẩy:
"Bác... bác Tam..."
Tiếng gọi chìm nghỉm trong tiếng gió rít qua rặng sậy, nhưng chiếc dầm gỗ bơi trên tay Trần Tam bỗng khựng lại nửa nhịp.
Lưỡi dầm gỗ kéo theo một vệt nước phù sa trắng đục trồi lên khỏi mặt sông, rồi lại tiếp tục cắm phập xuống nước: bõm... xoàn xoạt...
"Ngậm mồm lại," Trần Tam gằn giọng qua kẽ răng, hai mắt vẫn dán chặt vào luồng nước đen ngòm phía trước mũi thuyền: "Sắp thành cái thây trôi sông đến nơi rồi, giữ lấy hơi tàn mà trút với nước lũ. Đừng có gọi tên tao."
Tiếng thở dốc của gã lính thủy phì phò phả ra từng luồng khói trắng trong sương đêm. Bàn tay trái của gã gồng cứng lên, các khớp ngón tay trắng bệch ra vì tỳ đè lên cán gỗ nghiến.
Vương Quang không im lặng. Hắn nằm ép má vào mặt ván thuyền ẩm ướt, lắng nghe từng tiếng gỗ rên rỉ dưới lườn thuyền. Bàn tay trái lành lặn của hắn co lại, đầu ngón tay bấm mạnh vào kẽ ván đầy rêu để giữ cho thân mình khỏi trôi dạt theo nhịp lắc của con sóng. Hắn nhìn chằm chằm vào góc giấy bản thò ra ở thắt lưng Trần Tam, thều thào qua hơi thở buốt giá:
"Tờ giấy... ở thắt lưng bác... không phải giấy lệnh của đồn bến."
Chiếc dầm gỗ nghiến trên tay Trần Tam chậm lại nửa nhịp. Lưỡi dầm quét ngang mặt nước làm nước phù sa bắn tung tóe lên be thuyền.
"Mày nói cái gì?"
Giọng Trần Tam chùng xuống, khô khốc và đầy vẻ gắt gỏng. Gã vẫn không quay đầu lại, nhưng cơ vai bên trái gồng cứng lên dưới lớp áo tơi.
Vương Quang hớp một ngụm khí buốt qua kẽ răng, cổ họng giật giật từng cơn:
"Giấy lệnh của nha Đốc Vận cấp cho thuyền tuần đi đêm... dùng giấy bản bồi ba lớp... có sợi đay thô cán chìm trong bột giấy để chịu nước sông... Tờ của bác... là giấy bản phất sáp mỏng."
Trần Tam đứng im trên bậc lái. Con thuyền trôi lững lờ theo dòng nước xiết, mũi thuyền hơi chệch về phía doi cát bên tả.
"Giấy nào chẳng là giấy," Trần Tam hừ một tiếng lạnh tanh, nhưng nhịp đẩy dầm không còn dứt khoát như trước: "Đàm quan lớn tự tay hạ bút, tự tay dập con triện đồng của nha môn vào tên mày. Mày sắp chết đuối nên muốn lừa tao quay đầu thuyền à?"
"Không phải..." Vương Quang ho sặc sụa, bọt nước từ khóe môi trào ra lẫn với vị máu tanh: "Giấy phất sáp mỏng ấy... là giấy dùng trong Hữu Tàng Các... để chép phụ lục hồ sơ cũ. Bốn góc tờ phiếu... bị rọc bằng dao trích lục... mép cắt xơ sợi xéo."
Hắn dừng lại, thở dốc từng hơi ngắt quãng. Lồng ngực hắn phập phồng sau manh áo rách, hai mắt đờ đẫn nhìn theo vệt máu loãng đang rỉ ra từ cổ tay Trần Tam:
"Thường ngày... giấy lệnh phát từ phòng trực bến đều có bản khắc gỗ in sẵn khung viền kép và số hiệu thẻ thuyền... Tờ này... chỉ có chữ viết tay của quan lớn... và nửa con dấu đóng vội."
Trần Tam không đáp.
Gió bấc rít qua mạn thuyền từng hồi dài buốt óc. Tiếng nước sông vỗ vào lườn ván gỗ nghe bồm bộp, nặng nề và đều đặn.
Trần Tam từ từ buông cán dầm bơi ra. Chiếc dầm gỗ nghiến trôi lềnh bềnh trên mặt nước, chỉ còn được giữ lại bằng sợi dây đay buộc lỏng vào cọc chèo. Gã lê bước chân tập tễnh bước xuống đáy khoang, cúi rạp người xuống trước mặt Vương Quang.
Bàn tay trái thô ráp, nứt nẻ của gã thò vào thắt lưng da, rút tờ giấy bản gấp tư ra.
Gã đưa tờ giấy lại gần ngọn đèn chai dầu lạc đặt ở be thuyền. Dưới ánh sáng vàng vọt tù mù, gã kẹp mép giấy giữa ngón cái và ngón trỏ, miết chậm rãi dọc theo đường biên dưới.
Thớ giấy mỏng dính, mềm oặt và trơn láng vì lớp sáp ong quét chống ẩm. Nó hoàn toàn khác với những tấm lệnh bài bằng giấy bản thô ráp, dày cộp pha sợi đay mà gã vẫn thường nhận ở điếm tuần mỗi khi nhận ca tuần đêm.
Đặc biệt, mép dưới của tờ giấy nham nhở những vết xơ xéo—vết cắt vội vàng bằng một lưỡi dao con trích lục, chứ không phải nếp cắt phẳng phiu dập từ khuôn gỗ của bản nha.
Trần Tam nhìn tờ giấy, rồi đưa mắt nhìn xuống ba chữ “Vương Văn Quang” viết bằng mực muội thông hãy còn hơi bóng lớp dầu trám. Nửa con dấu son của Giang Hà Đốc Vận Sứ Ty nằm đè lên góc tên, nhưng nửa dấu còn lại phía trên hoàn toàn để trống, không hề có nét mực nào giáp lai với phần cuống lưu.
Gã lính thủy đứng chôn chân giữa lòng thuyền đang dập dềnh sóng nước. Gã nhìn tờ phiếu trong tay. Rồi gã nhìn xuống khoang thuyền ngập nước láng, nơi Vương Quang đang nằm bẹp dí như một cái xác rách rưới. Rồi gã nhìn chiếc thuyền số bốn đang trôi dạt giữa đêm đen.
Gã quay đầu nhìn về phía bến Đáy.
Phía sau lưng gã, bến nước, chòi canh và những ngọn đèn lồng đỏ quạch đã chìm hẳn vào màn sương mù đặc quánh. Không còn một đốm sáng nào lọt qua được lớp sương dày.
Trần Tam mấp máy đôi môi khô khốc:
"Nếu tao quay về..."
Gã bỏ lửng câu nói.
Lời dặn dò phẳng lì của Đàm Thông phán lúc giờ Thân trong căn phòng đá bỗng nhiên dội về rành rọt từng tiếng trong đầu gã: “Trước lúc trời sáng, ta muốn thấy chiếc thuyền ba dầm quay về bến Đáy... chỉ có một mình ngươi bước lên bờ.”
Bàn tay trái của Trần Tam run lên bần bật. Gã siết chặt tờ giấy bản trong lòng bàn tay, vò nát thớ giấy mỏng manh cho đến khi các khớp ngón tay trắng bệch ra. Gã không nói thêm một lời nào, lẳng lặng nhét bọc giấy nhàu nát vào sâu trong túi áo tơi, rồi lầm lũi quay lại bậc lái ở đuôi thuyền.
Gã chộp lấy cán dầm bơi, gồng bàn tay trái đẩy mạnh một nhịp.
Nhưng chiếc thuyền không di chuyển theo ý gã nữa.
Đúng lúc ấy, từ dưới đáy sâu của dòng sông Đáy bỗng vang lên một tiếng động trầm đục:
Ùng... ục...
Âm thanh phát ra từ lòng bùn lầy, tựa như có một khối đá tảng ngàn cân vừa trượt khỏi gờ đá ngầm dưới đáy vực.
Chiếc thuyền ba dầm số bốn chao đảo dữ dội. Lườn thuyền gỗ lim nghiêng hẳn sang bên hữu, nước sông lạnh ngắt tràn qua be thuyền đổ ầm ầm vào khoang đáy. Vương Quang bị hất văng sang một bên, bả vai va mạnh vào thanh be thuyền nhói buốt, nước phù sa tràn vào mũi làm hắn ho sặc sụa.
Trần Tam mất đà, ngã quỵ một đầu gối xuống sàn ván. Gã vội vã nhào người tới trước, dùng bàn tay trái chộp lấy cán dầm bơi để ghìm mũi thuyền lại.
Nhưng vô ích.
Dưới đáy lườn thuyền, một luồng nước ngầm xoáy cuộn tròn kéo giật chiếc thuyền gỗ trôi dạt về phía một doi cát lờ mờ hiện ra trong sương đêm.
Màn sương mù dày đặc phía trước mũi thuyền bỗng nhiên bị luồng gió lạnh từ lòng sông thốc bạt sang hai bên, để lộ ra một cồn cát xám ngoét trồi lên giữa dòng nước đục ngầu phù sa.
Gò Mai Rùa.
Ngôi miếu Cổ Miễu đổ nát hiện ra dưới bóng những rặng đa cổ thụ trơ trụi cành lá, đen kịt và im lìm như một khối đá tảng cắm sâu vào lòng sông Đáy.
Cảnh tượng ven bờ bãi bồi lúc này đã hoàn toàn biến đổi so với chiều hôm trước.
Bốn chiếc cọc tre tẩm hắc ín to bằng bắp chân do chính tay Trần Tam cùng toán lính tuần giang cắm sâu xuống đất để niêm phong hố móng... lúc này đã bị bứng gốc hoàn toàn. Những thân tre vót nhọn nằm ngả nghiêng, vương vãi khắp mặt cát ướt, đầu cọc bị xé toạc ra thành nhiều mảnh dằm xơ xác dưới áp lực đùn lên từ lòng đất.
Và từ miệng hố đất sâu trượng rưỡi dưới chân bệ đá tượng thần—nơi chiều qua Đàm Thông phán đã hạ lệnh đổ hàng chục thúng vôi sống và cát sông lấp chặt để ghì giữ nắp tráp sắt—từng luồng hơi trắng đục ngùn ngụt bốc lên nghi ngút giữa trời đêm.
Nước ngầm sông Đáy đùn lên từ các mạch đá dưới đáy móng quá dữ dội. Lớp vôi sống gặp nước ngập ngụa, chưa kịp đông cứng đã bị nhiệt lượng thiêu đốt, đang sôi sùng sục thành từng mảng bọt trắng xóa, phả ra hơi nóng nồng nặc mùi bùn thối rữa và mùi đá cháy khét lẹt.
Bập... xoàn xoạt!
Mũi thuyền ba dầm đâm sầm vào bờ cát lầy của bãi bồi, khựng lại sau một cú rung chuyển bần bật làm sàn ván kêu răng rắc.
Dưới đáy khoang, Vương Quang nghiến chặt răng, dùng khuỷu tay trái chống người ngồi dậy. Bàn tay phải tàn phế buông thõng sát sườn, các ngón tay dập nát va vào mép sàn đá đau buốt thấu xương. Hắn thở dốc từng hơi buốt rát, mắt trừng trừng nhìn ra bờ bãi.
Trên mặt nước phù sa quanh mũi thuyền, trôi lờ lững những thanh gỗ lim xoi rãnh dài hơn hai thước—đó là những chiếc cọc tiêu luồng lạch cắm mốc giới của nha Đốc Vận, vốn dùng để cảnh báo vùng nước xoáy nguy hiểm nơi khúc sông đổi dòng. Tất cả đều đã bị nhổ rễ trôi dạt về đây, tụ lại xung quanh chân gò Mai Rùa theo chiều xoáy của con nước.
Trần Tam đứng chôn chân trên mũi thuyền, bàn tay trái nắm chặt lấy thành ván gỗ.
Dải vải sô quấn quanh cổ tay phải của gã bỗng nhiên co rút dữ dội.
Vết thương bên dưới lớp vải gai nhói buốt. Dòng dịch đỏ nhờ nhờ rỉ ra ướt đẫm cả tay áo tơi, từng giọt rơi tí tách xuống mũi thuyền. Trần Tam run rẩy đưa mắt nhìn về phía miệng hố đất đang bốc hơi ngùn ngụt dưới chân bệ đá.
Lớp vôi sống sủi bọt trong miệng hố bị áp lực của dòng nước ngầm đẩy rẽ sang hai bên, để lộ ra bề mặt đen tuyền của chiếc tráp sắt Thủy Cốt nằm sâu dưới đáy móng.
Nắp tráp sắt—nơi chiều qua ba đồng tiền kẽm của Trần Khắc Lượng đã lún sâu vào ba rãnh ngậm—lúc này không còn khép kín nữa.
Dưới sức ép của dòng nước ngầm đùn lên từ đáy vực, nắp chiếc tráp sắt đã trượt mở ra một khe hẹp rộng hơn một đốt ngón tay.
Từ khe hở kim loại ấy, một dòng nước phù sa màu đen quánh như mực nho rỉ ra, trào qua mép nắp sắt. Dòng nước đen ấy không hòa lẫn vào lớp bọt vôi trắng xóa đang sôi ùng ục, mà theo một rãnh cát thấp dần chảy xuống bãi.
Rãnh ấy ăn thẳng tới mép nước dưới mũi chiếc thuyền ba dầm số bốn đang mắc cạn.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.