Phong Sương Niên Ký

Quyển 1: Đại Xuân Biên Niên Sử

Chương 21: Bên Kia Thành Đá

Đăng: 01/10/2026 14:40 4,890 từ 20 lượt đọc

Tháng Hai, mưa phùn.

Thứ mưa không ra mưa, chẳng rơi xuống mà cứ lơ thơ lửng thửng trong không khí, bám vào tóc, vào vai áo, lau đi rồi lại có. Giàn phơi thuốc nhà ông lang phải kéo vào hiên, thuốc phơi ba ngày chưa khô, sờ vào mặt lá thấy nhơn nhớt.

Sáng hôm ấy, khi Luân đang gánh nước từ giếng về, thì có một người đàn ông ướt sũng chạy vào ngõ, tới cổng nhà ông lang thì đứng thở hồng hộc.

"Ông lang... Làng bên kia sông. Người ta ốm. Sốt rét. Ốm cả loạt."

Làng bên kia sông cũng có phu đi đắp đê, đi cùng đợt với Lò Trấu. Được hai mươi hôm thì dưới hạ lưu có người ốm. Quan sợ chết lây, cho khiêng những đứa ốm nặng về làng, bảo là về cho đỡ tốn gạo. Được mười ngày thì trong làng bắt đầu có người rét run. Sáng nay đếm là mười một. Có hai đứa trẻ con.

Luân đứng bên đôi thùng nước, nghe tới chữ hạ lưu thì cổ nó cứng lại.

Ông lang đã vào gian thuốc. Luân nghe tiếng ngăn tủ kéo ra, đẩy vào, rồi im. Nó đi vào. Ông lang đứng trước cái tủ ở góc trong cùng, ngăn tủ thứ ba từ dưới lên đang mở, bên trong trống trơn, chỉ còn mấy mẩu lá vụn nằm dưới đáy.

Cái ngăn đựng lá thường sơn.

"Lấy cái tráp." Ông lang đóng ngăn tủ lại. "Cho thanh hao vào. Ô dược. Thảo quả. Gừng khô. Nồi đất nhỏ. Rượu. Nhanh."

---

Thằng Cò đứng ở cổng, hai tay khoanh trước ngực, nhìn Luân khoác cái tráp lên vai.

"Sao lại mày đi, tao không đi?"

"Thầy bảo."

"Thầy bảo." Thằng Cò nhại lại, bĩu môi. "Mày cứ đi. Tao ở nhà trông thuốc. Mất một nhúm thì tao vạch vào trang mày."

"Mày có biết viết đâu."

"Tao vạch." Thằng Cò giơ ngón tay lên, vạch một nét dọc vào không khí. "Như thế này. Ai chẳng vạch được."

Luân chạy theo ông lang. Ngồi ở mũi đò ngang, nó nhìn ngược dòng về phía thượng nguồn, nơi con sông mất hút giữa mấy quả đồi mờ mờ trong mưa bụi. Xa hơn nữa, nó biết, là rừng. Xa hơn rừng, là bức tường thành đá. Ở Lò Trấu chẳng đứa trẻ con nào tới đấy.

---

Dưới gốc đa đầu làng bên kia sông có cái miếu nhỏ, khói hương nghi ngút, một bà cụ quỳ lạy liên hồi.

"Có bệnh thì vái tứ phương, cháu ạ." Người đàn ông dẫn đường bảo Luân, giọng như xin lỗi.

Ông lang không nhìn cái miếu. Ông đi thẳng vào làng.

Nhà đầu tiên, người phu được khiêng về đắp ba cái chăn mà vẫn run lên từng đợt, hai hàm răng va vào nhau lập cập. Ông lang bắt mạch lâu hơn mọi lần, rồi ấn vào một chỗ dưới mạn sườn trái. Người bệnh rên lên một tiếng.

"Lá lách to rồi." Ông nói, không nhìn Luân. "Ghi vào đầu. Rét trước, nóng sau, mồ hôi sau cùng. Cách một ngày lại lên cơn. Thế là sốt rét cách nhật."

Tới nhà thứ năm thì Luân đã thuộc.

Ở nhà thứ bảy có một ông cụ nằm trên manh chiếu, người gầy đét, da vàng như nghệ, thở khò khè, cái bụng trương lên. Con gái ông ngồi bên, bưng một bát nước, cứ đưa lên môi bố, bố không uống thì lại đặt xuống, rồi lại bưng lên. Lần này ông lang bắt mạch rất nhanh, kéo vạt chăn lên đắp lại cho ngay ngắn, không nói gì, ra khỏi nhà.

---

Chiều hôm ấy, có một người lái buôn thuốc đi đò từ phía xuôi lên, đằng sau có thằng tiểu đồng cắp cái cân tiểu ly. Hắn bày hàng dưới gốc đa, bẻ một mẩu rễ giơ lên. Lõi bên trong vàng ươm, vàng như lòng đỏ trứng gà.

"Rễ thường sơn, rễ già năm năm, hái tận rừng phía Bắc, sát bức thành đá. Có chỗ phải trèo sang bên kia thành mới có. Mười người đi hái thì bảy người về. Thế nên mới đắt. Một lạng, ba quan."

Đám đông ồ lên một tiếng, rồi im bặt.

Luân thấy lạnh gáy. Năm quan là cái giá để một hộ khỏi phải đưa người đi phu ba tháng. Nhà lão đồ tể không chịu bỏ ra năm quan, bỏ ra ba cái tuổi của thằng Hợi thay vào. Còn ở đây, ba quan chỉ được một lạng rễ cây, cầm trong tay chưa đầy nắm.

Ông lang nhặt một cái rễ lên, bẻ đôi, ngửi, bẻ một mẩu bỏ vào miệng nhai rồi nhổ ra.

"Rễ thật. Nhưng không phải rễ năm năm. Rễ hai năm, phơi không kỹ, đã lên mốc. Ngày thường, giá chợ huyện, rễ này hai tiền một lạng."

Người lái buôn thôi cười, kêu dưới hạ lưu đang dịch, quan mua hết cả rồi. Ông lang trả một quan rưỡi, lấy ba lạng. Hắn xuống hai quan rưỡi. Ông lang không nói gì, chỉ đứng nhìn hắn không chớp, tới lúc hắn cụp mắt xuống, lầu bầu.

"Hai quan. Cụ không lấy thì tôi xuôi đò sang làng khác."

Ông lang ngoái nhìn những gương mặt vàng vọt sau lưng, rồi quay lại.

"Hai quan."

Ông dốc ra lòng bàn tay mấy mẩu bạc vụn. Luân nhìn, và cổ nó thắt lại. Cái đêm ba mươi Tết ấy, dưới ánh đuốc ở sân nhà ông Bá Hộ, ông lang cũng dốc ra mấy mẩu bạc vụn như thế, xỉn màu, méo mó, ít tới mức đếm được bằng mắt.

Người lái buôn bỏ bạc lên đĩa cân tiểu ly, ghé sát mắt nhìn vạch, rồi lấy cũng cái cân ấy mà cân rễ. Một lần cân bạc. Một lần cân rễ. Cũng cái đĩa ấy, cũng cái vạch ấy.

---

Chiều ấy, ông lang cho Luân tự tay sao cả ba lạng rễ. Thái mỏng như lá lúa, tưới rượu, ủ một lúc, rồi sao nhỏ lửa tới lúc vàng sẫm lại.

"Vì sao phải tẩm rượu ạ?"

"Rễ sống uống vào thì nôn. Thuốc tốt đến đâu mà dùng sai cách thì cũng thành độc."

"Thưa thầy, cây thường sơn trông thế nào ạ? Con chưa thấy cây bao giờ."

Ông lang im một lúc. Rồi ông ngồi xổm xuống bên bếp, nhặt một que củi, vạch lên nền đất.

"Cây bụi. Cao ngang ngực mày. Lá mọc đối nhau, từng cặp một. Mép lá có răng cưa, răng nhỏ, đều. Mặt lá xanh thẫm, mặt dưới nhạt hơn." Ông vạch một cái lá, rồi vạch thêm cái nữa đối diện. "Hoa mọc thành chùm ở ngọn, màu xanh lam nhạt. Rễ vỏ xám, bẻ ra lõi vàng, như cái mày thấy. Mọc chỗ ẩm, có bóng râm. Ở mạn này thì chỉ có rừng phía Bắc. Người thường không vào đấy."

"Vì sao ạ?"

Ông lang đứng dậy. "Đảo đi. Cháy bây giờ."

Luân cúi xuống đảo chảo. Nó nhìn hai cái lá mọc đối trên nền đất thêm một lần nữa, thật lâu, rồi lấy bàn chân xóa đi.

---

Ba lạng rễ sắc ra được mười hai thang. Ông lang chia, không hỏi ai, không bàn với ai. Hai người phu. Hai đứa trẻ con. Mấy người lên cơn nặng. Những người lên cơn nhẹ, ông cho uống thanh hao.

Ông cụ ở nhà thứ bảy thì không có thang nào.

Người con gái ông cụ chạy theo ra tận cổng, túm lấy vạt áo ông, quỳ sụp xuống đất.

"Cụ lang ơi, cụ lang thương bố con với. Con bán con lợn, con trả cụ..."

"Ông cụ uống cũng không qua được. Lá lách to quá rồi. Mạch đã tán. Một thang ấy để cho đứa khác uống thì đứa ấy qua được." Ông gỡ tay chị ta ra khỏi vạt áo, gỡ từng ngón một, không mạnh, không nhẹ. "Chị giữ lấy con lợn. Để lo hậu sự cho ông cụ."

Rồi ông đi.

Ở Lò Trấu, ông lang cũng lạnh, cũng cục, cũng keo, cả làng ai cũng biết. Nhưng cái lạnh vừa rồi thì khác. Ông nhìn một người sắp chết, cân cái sống của người ấy với cái sống của một người khác, rồi chọn, gọn như người ta cắt một cái lạt. Lúc gỡ từng ngón tay người con gái ra, tay ông không run.

Luân chỉ thấy lạnh, cái lạnh không phải từ mưa phùn.

---

Khuya ấy, về tới nhà, Luân thấy ông lang lôi cái ống tre đựng tiền dưới gầm giường ra, dốc ngược lên. Mấy xâu tiền kẽm, với hai mẩu bạc vụn. Ông bỏ lại vào ống, lắc thử. Cái ống tre kêu lọc xọc, nhẹ bẫng, như cái ống tre rỗng có mấy hòn sỏi ở trong.

Nằm ở ổ rơm, Luân kể với thằng Cò chuyện lái buôn. Hai quan một lạng. Thầy mua ba lạng.

Thằng Cò nhổm hẳn dậy. "Ba lạng là sáu quan? Sáu quan thì mua được... mua được mấy thằng tao?" Rồi nó nằm vật xuống, gác tay lên trán. "Thế thì cái rễ ấy còn đắt hơn tao." Nó cười khì một tiếng. Cười xong, nó chẳng nói gì nữa.

---

Ngày thứ năm, ông cụ chết. Đám ma nghèo, không kèn không trống. Ông lang không nhìn đám ma. Ông nhìn ra phía sông.

Mười một người, có bảy người đã ngồi dậy được. Người đàn ông dẫn đường vái lấy vái để, bảo làng nghèo, góp tiền thuốc được hai quan.

"Hai quan thì đưa đây." Ông lang nói. "Còn bốn quan, làng anh ghi nợ tôi. Bao giờ phu về, cấy xong vụ mùa, thì trả."

Luân nghĩ tới quyển sổ đóng bằng giấy bản trong gian giữa. Nó nghĩ không biết ông lang có mở một trang mới cho cả cái làng bên kia sông này không.

---

Tối hôm ấy, ở điếm, lão ăn mày bắt Luân ôm đá chạy vòng quanh cây gạo. Tới lượt thứ mười thì Luân chậm lại, vì cứ chạy được mấy bước là nó lại ngước nhìn về phía Bắc.

Cây gậy tre của lão gõ xuống đất đánh cộc một cái.

"Chạy hay ngắm?"

"Dạ, chạy ạ."

"Chạy vòng quanh cây gạo mãi thì chỉ biết chạy vòng quanh cây gạo." Lão chống cây gậy tre, đi ra sân. "Ngoài kia có đứa nào đuổi mày quanh cây gạo đâu. Hôm nay tao dạy mày chạy khác."

Lão bảo người đuổi thì còn biết mỏi, biết sợ, biết nghĩ. Con vật đuổi thì không. Gặp con gì đuổi thì đừng chạy thẳng. Chạy thẳng thì bốn chân bao giờ cũng nhanh hơn hai chân. Chạy vòng. Chạy qua chỗ rậm, chỗ dốc, chỗ đá, con vật to thì không lách được. Lão cúi thấp người xuống, lừ lừ nhích tới trên cái chân lành như một con vật, bắt Luân nhìn vào cái vai lão.

"Nhìn cái vai, như tao dạy mày nhìn vai người. Vai chùng xuống là sắp lao. Lúc ấy thì ngã sang một bên. Ngã như quả bưởi lăn."

Lão nhún trên cái chân lành, lao tới, nhanh tới mức Luân chẳng hiểu một người què làm sao lao được như thế. Luân ngã sang bên, lăn đi, đứng dậy. Lão lao lần nữa. Lần nữa. Tới lần thứ mười thì Luân không cần nghĩ nữa, cứ thấy hai cái vai lão chùng xuống là người nó tự đổ sang một bên.

Lúc lão quay vào tu rượu, Luân hỏi.

"Thưa chú, bên kia bức thành đá có gì ạ?"

"Có đất. Có giặc Hạo Nguyên. Có ma. Có đứa đi sang rồi không thấy về. Hỏi làm gì?"

"Dạ, cháu hỏi thế thôi ạ."

"Hỏi thế thôi thì thôi. Ôm đá. Mười lượt nữa. Mày vừa ngắm núi mất năm lượt. Đéo phải tao bắt mày chạy để ngắm núi."

---

Lão cho về thì trời đã tối hẳn. Luân đi ngược lên Dốc Cửa Mả, đứng dưới gốc cây gạo trên bãi tha ma, quay lưng lại với mấy cái mả nó đào, nhìn về phía Bắc.

Nó nghĩ tới cái ống tre kêu lọc xọc. Nó nghĩ tới hai cái lá vẽ trên nền đất. Mọc đối. Mép răng cưa. Hoa xanh lam nhạt. Rễ lõi vàng.

Nếu nó hái được một lạng, chỉ một lạng thôi, thì ông lang đỡ được hai quan. Hai quan thì gạch được bao nhiêu vạch, nó không biết. Nhưng nó biết là nhiều. Nhiều hơn một buổi gánh nước. Nhiều hơn một buổi đắp đê.

Mười người đi hái thì bảy người về.

Luân giơ hai bàn tay lên trước mặt, trong bóng tối, như thằng Bống đếm ba tháng ở cổng đình. Nó gập từng ngón xuống. Một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy. Còn ba ngón giơ lên.

Bảy thì nhiều hơn ba.

Nó nắm cả hai bàn tay lại, nắm chặt, cả mười ngón, rồi quay lưng đi xuống dốc.

---

Sang tháng Ba thì tạnh mưa phùn. Giàn phơi thuốc lại được kéo ra sân. Ông lang mở ngăn tủ nào ra cũng không còn nhíu mày nữa, trừ cái ngăn thứ ba từ dưới lên ở góc trong cùng. Cái ngăn ấy ông không mở.

Luân đợi. Nó đợi hai mươi ngày, không bỏ một việc nào. Tối nào ông lang cũng đưa bút cho nó tự gạch một vạch, tối nào nó cũng gạch, rồi về bỏ bớt một hòn sỏi.

Tới hôm hai mươi mốt, ông lang bảo mai ông lên chợ huyện với thằng Cò, gánh thuốc lên bán, tối mới về.

Sáng ra, làm hết việc trước trưa, Luân bẻ đôi nắm cơm của mình, nửa to gói riêng vào lá chuối để phần lão ăn mày. Nó đeo cái giỏ tre, trong giỏ có con dao quắm, cái thuổng cán ngắn. Nó dắt thêm cành ổi vào thắt lưng.

Qua điếm vắng, qua Dốc Cửa Mả, qua bãi tha ma, qua cây gạo già.

Từ đỉnh đồi thứ hai, phía trước là rừng, đen sẫm, dày đặc. Xa hơn nữa, rừng dâng lên thành núi. Và ở giữa rừng với núi có một vệt xám chạy ngang, gãy khúc, lúc hiện lúc khuất sau những ngọn cây.

Bức tường thành đá. Nhìn từ đây thì chẳng có gì ghê gớm. Chỉ như một vệt mực nhòe ai quệt ngang sườn núi, quệt xong lại lấy tay miết mất mấy chỗ.

---

Trong rừng mát lạnh, có mùi đất ẩm, mùi lá thối, mùi nấm. Có tiếng chim, nhiều tiếng chim, con thì hót ríu ran, con thì kêu cục cục như gà.

Luân đi theo một con suối nhỏ. Ông lang bảo thường sơn mọc chỗ ẩm. Chỗ nào ẩm hơn bờ suối.

Quá trưa, nó vục tay xuống suối uống nước, ngẩng lên, và nó thấy.

Ở bờ bên kia, dưới bóng một cây gỗ to, có một bụi cây cao ngang ngực. Lá xanh thẫm, mọc đối nhau từng cặp. Mép lá răng cưa nhỏ, đều. Trên ngọn có mấy chùm nụ còn xanh, hé ra một chút màu lam nhạt.

Luân lội qua suối, không cả xắn quần. Nó bới đất ở gốc, moi ra một cái rễ con, bẻ thử.

Lõi vàng.

Luân ngồi bệt xuống đất, nhìn mãi cái lõi vàng ươm, và nó cười. Nó không biết mình cười. Nó chỉ thấy hai má mình căng ra, rồi mới biết.

Bụi thường sơn chỉ có một, đào hết được một nắm, chưa tới một lạng. Nó đi dọc bờ suối, lên cao hơn nữa, và nhìn thấy bức tường.

Gần thì trông khác hẳn. Nó cao gấp ba lần người lớn, xây bằng những khối đá xám to bằng cái cối xay, xếp khít tới mức lưỡi dao không lách vào được. Rêu phủ xanh rì. Ở ngay chỗ con suối chảy qua, bức tường sạt xuống, đá đổ ngổn ngang, nước suối luồn qua giữa mà chảy xuống.

Luân đứng nhìn cái chỗ sạt ấy. Nó không định sang. Nó chỉ nhìn.

Và đúng lúc ấy, rừng im bặt.

---

Không phải im dần. Im bặt, một lượt, như có ai lấy tay bịt miệng cả khu rừng lại. Tiếng suối chảy một mình thì nghe lại càng im hơn.

Nó ngửi thấy một mùi. Nó biết mùi này, những lúc cuốc xuống một cái huyệt ở rìa bãi tha ma mà lưỡi cuốc chạm phải một cái mả cũ không ai nhớ. Mùi đất mả. Mùi đất đã nằm với người chết lâu năm.

Nó quay đầu lại, thật chậm.

Ở mé rừng bên trái, cách nó chừng hai mươi bước, có một con lợn lòi đứng.

Con lợn to bằng con nghé. Lông đen, cứng, dựng đứng dọc sống lưng như một hàng chông. Hai cái nanh cong vút, vàng khè. Nó đứng im. Không khịt mũi, không cào đất. Ở Mương Đen, Luân đã thấy lợn sống, lợn chết, lợn giãy, lợn đứng. Chưa con lợn nào đứng im như thế. Nó đứng như cái tượng đá người ta đặt ở cổng chùa.

Và hai con mắt nó đỏ. Đỏ âm ỉ, đỏ đục như máu đọng dưới da, không có ánh nắng nào rọi vào mà vẫn đỏ.

Luân không thở được. Rồi nó nhớ ra. Thở bằng bụng. Cái bể chứa hơi. Nó hít vào, xuống bụng, chậm. Hai bàn chân nó bấm xuống đất, đứng tấn mà không biết là mình đang đứng tấn.

Con lợn lòi bước lên một bước. Cái chân trước đặt xuống lá mục không một tiếng động.

Đừng chạy thẳng. Chạy qua chỗ rậm. Chỗ dốc. Chỗ đá.

Nó chạy.

---

Nó lao xuống bờ suối, nhảy qua mấy hòn đá, bò lên bờ bên kia. Đằng sau có tiếng lá cây rào rào, tiếng đất bị cày lên, tiếng nước bắn tung tóe. Không có tiếng lợn kêu. Con lợn đuổi theo mà không kêu một tiếng nào.

Luân lao vào một bụi mây gai, gai cào rách tay áo, nó chẳng thấy đau. Nó chạy vòng qua một thân cây to hai người ôm, lao xuống một con dốc lởm chởm đá, trượt, lăn mấy vòng, đứng lên. Nó chạy mãi, hơi thở đã đứt quãng, đã thở bằng ngực chứ không còn thở bằng bụng nữa.

Rồi con lợn lòi hiện ra từ sau một bụi cây, cách Luân chừng mười bước, đứng chắn ngang.

Nhìn cái vai. Như nhìn cái vai người.

Hai cái bả vai u lên dưới lớp lông đen cứng. Nó thấy hai cái bả vai ấy chùng xuống, chùng thật thấp, như cái cần tre bị kéo căng.

Con lợn lao tới.

Luân ngã sang bên phải. Ngã như quả bưởi lăn, co người lại, vai chạm đất trước, lăn đi hai vòng. Con lợn lòi lao qua chỗ nó vừa đứng, nhanh như một hòn đá ném, đâm sầm vào một cái cây non. Cái cây gãy đánh rắc một tiếng.

Luân lăn dậy, chạy. Trước mặt là một vách đá xám, rêu phủ xanh rì. Bức tường. Nó đã chạy một vòng, về lại chỗ bức tường, nhưng không phải chỗ con suối. Ở đây bức tường sạt mất nửa trên, đá đổ chất thành một cái dốc thoai thoải.

Đằng sau nó, tiếng lá rào rào.

Luân không nghĩ nữa. Nó trèo.

---

Nó bám vào những khối đá rêu trơn tuột, đu người lên, gác được một bên đầu gối lên mép tường sạt. Nó ngoái lại. Con lợn lòi đứng ở chân đống đá, hai con mắt đỏ nhìn lên.

Luân lật qua mép tường, trượt dọc theo sườn đá đổ phía bên kia, rơi xuống một đám cỏ dày. Nó bò dậy, quay lại nhìn.

Con lợn lòi đã trèo lên tới nửa đống đá bên kia. Cái đầu nó nhô lên trên mép tường sạt, hai cái nanh vàng khè, hai con mắt đỏ. Nó nhìn Luân.

Nó không sang.

Nó đứng đấy rất lâu, lâu tới mức Luân tưởng nó đã chết đứng. Rồi nó quay đầu đi. Không vội. Không chạy. Nó bước xuống đống đá bên kia, từng bước một, thong thả, như người ta làm xong việc thì đi về.

Luân ngồi bệt dưới chân tường, run lên cầm cập. Run xong thì nó mới nhớ ra mình đang ở đâu. Bên kia bức thành đá. Đất Hạo Nguyên. Chỗ có giặc, có ma, có đứa đi sang rồi không thấy về. Không thấy giặc. Không thấy ai. Chỉ có cỏ, và cây, và bức tường đá rêu phủ sừng sững sau lưng.

---

Bên này bức tường thì im.

Không phải cái im bặt lúc nãy. Cái im này là im từ trước, im lâu rồi, im như chưa từng có tiếng động nào. Không có tiếng chim. Không có tiếng côn trùng. Gió có thổi, ngọn cỏ có lay, nhưng gió thổi mà không có tiếng. Không khí ấm và ẩm, như hơi thở của ai đó phả vào mặt.

Nó không dám trèo lại. Muốn tìm chỗ khác mà trèo về thì phải đi qua cái thung lũng nhỏ dưới chân dốc, nơi sương mù mỏng lơ lửng sát mặt đất dù đã quá trưa.

Nó xuống tới đáy dốc thì dừng lại.

Cả cái thung lũng là thường sơn.

Không phải một bụi. Không phải mười bụi. Là cả một sườn đồi, bụi này sát bụi kia, cao ngang ngực, ngang đầu, lá xanh thẫm mọc đối từng cặp, mép răng cưa nhỏ, đều. Trên ngọn, hoa đã nở, từng chùm từng chùm màu xanh lam nhạt, nở kín như ai rắc một lớp khói xanh lên cả thung lũng.

Dưới tán thường sơn có những bụi lá to như lá gừng, gốc chi chít những chùm nụ hoa đỏ thắm. Luân vò một cái lá, đưa lên mũi. Cái mùi thơm hăng hắc ấy nó biết. Thảo quả. Nó đã bốc thảo quả khô trong ngăn tủ ông lang nhiều lần, nhưng chưa bao giờ thấy thảo quả mọc.

Tất cả mọc dày, mọc tốt, mọc như có ai trồng. Nhưng không có lối đi. Không có dấu chân. Chỉ có thuốc, và sương, và cái im.

---

Luân đi vào giữa những bụi thường sơn. Đi được một quãng thì chúng thưa dần, mở ra một khoảng trống nhỏ.

Giữa khoảng trống có một cái gò đất.

Cái gò tròn, chỉ cao tới đầu gối, rộng độ hai sải tay. Trên mặt gò không có cỏ. Xung quanh cỏ mọc dày, nhưng lên tới chân gò thì dừng lại, như có ai lấy dao vạch một đường mà bảo cỏ không được qua. Đất trên gò đen, đen hơn đất xung quanh, mịn, không một hòn sỏi.

Luân biết cái hình ấy. Những cái mả nó đào thuê, lấp đất xong thì vun lên thành một cái gò tròn như thế. Mả cũ thì đất lún xuống, cỏ mọc lên.

Cái gò này thì không lún. Không có cỏ. Không có bia, không có bát hương. Nó nhẵn như vừa đắp hôm qua, mà cũng như đã nằm ở đây từ lâu lắm, lâu hơn cả bức tường thành đá.

Trên đỉnh gò có một cái cây.

Cây nhỏ, chỉ cao ngang vai Luân. Thân gầy, vỏ đen bóng như sơn then. Lá màu xanh sẫm tới gần như đen, trên mặt lá có những đường gân đỏ thẫm chạy ngang dọc, như mạch máu nổi lên dưới da. Cây không có hoa. Trên cành có ba quả, nhỏ bằng quả trứng chim cút, vỏ xanh, cứng, còn non.

Gió thổi. Những bụi thường sơn xung quanh lay lay, những chùm hoa xanh lam rung rung.

Cái cây trên gò thì đứng im. Không một cái lá nào động.

Luân nhìn nó rất lâu. Rồi nó làm cái việc mà mỗi lần đào huyệt xong nó vẫn làm. Nó đứng ngay ngắn lại, chắp hai tay trước ngực, vái ba vái. Không khấn gì. Nó không biết người nằm dưới ấy là ai, thì nó cũng chẳng biết khấn gì.

Vái xong, nó lùi ra khỏi khoảng trống, không quay lưng lại cái gò, lùi tới lúc bụi thường sơn che khuất đi mới quay người.

---

Nó đào thường sơn tới lúc bóng những bụi cây đã đổ dài gấp đôi thân cây. Nó chọn những bụi già, đào rễ to, chừa rễ con lại cho cây sống.

Nó không hái thảo quả. Nó chỉ lấy thứ nó biết tên. Nó không đến gần cái gò thêm lần nào.

Rồi nó đi dọc chân tường về phía đông, đi xa chỗ con lợn, tìm thấy một chỗ sạt khác, thấp hơn. Nó nằm rạp sau một bụi cây, nhìn sang bên kia tường một lúc lâu. Có tiếng chim. Bên kia tường có tiếng chim.

Nó trèo qua. Chưa bao giờ nó thấy tiếng chim hót dễ nghe tới thế.

Trước khi đi, nó nhặt ba hòn sỏi dưới chân tường, xếp chồng lên nhau trên một khối đá, hòn to dưới, hòn nhỏ trên. Rồi tới chỗ rẽ nào, gốc cây to nào, nó lại xếp ba hòn sỏi. Xếp cho tới lúc gặp lại con suối. Xếp cho tới lúc ra khỏi rừng, nhìn thấy khói bếp Lò Trấu bay lên trong hoàng hôn.

---

Trời tối hẳn thì nó về tới bãi tha ma. Dưới gốc cây gạo già có cái rễ to nổi lên khỏi mặt đất, uốn thành một cái hốc tối hun hút. Người ta bảo gốc gạo có ma, chẳng ai thò tay vào.

Nó dồn rễ thường sơn vào một cái bao lá chuối, nhét sâu vào trong hốc, lấy lá khô lấp lên. Nó chỉ để lại trong giỏ mấy nắm thanh hao hái ở đầu rừng.

---

Lão ăn mày ngồi trên sạp, bầu rượu trong tay, nhìn nó từ đầu xuống chân. Cái tay áo rách toạc tới khuỷu. Hai cánh tay đầy những vết cào rớm máu. Tóc dính lá khô.

"Hái thuốc ở đâu mà người như con lợn vừa đằm xong thế kia?"

"Dạ, cháu ngã ạ."

"Ngã thế nào?"

Luân nghĩ một lúc.

"Dạ... như quả bưởi ạ."

Lão ăn mày nhìn nó thêm một lúc nữa. Rồi lão cười khùng khục trong cổ họng, cười không ra tiếng, chỉ có hai cái vai rung rung.

Luân đặt nửa nắm cơm lên sạp, cạnh bầu rượu. Cơm nguội từ sáng, đã cứng lại, lá chuối dính mấy vệt bùn.

Lão cầm nửa nắm cơm lên, cắn một miếng, nhai chậm, nhai kỹ, như mọi hôm.

"Ngồi xuống. Vận công."

Luân ngồi xếp bằng, nhắm mắt lại. Vô hình vô định hướng. Tướng tan theo gió sương. Hơi thở kéo xuống bụng, chậm, đều. Lần này thì kéo được.

---

Về tới nhà thì ông lang với thằng Cò đã về. Ông lang ngồi trong gian thuốc, đang đếm mấy xâu tiền kẽm. Ông ngẩng lên, nhìn cái tay áo rách.

"Tay áo làm sao?"

"Dạ, con mắc vào bụi gai ạ."

Ông lang cúi xuống, đếm tiếp. Ông đẩy quyển sổ với cây bút lông về phía mép bàn, không nói gì. Luân lật tới trang có tên nó với tên thằng Cò, tìm tới cái vạch dọc chưa gạch đầu tiên, rồi kéo một nét ngang cắt qua. Tay nó hơi run. Cái nét ngang hôm nay xiêu xiêu, không thẳng như mọi hôm.

Ông lang không nhìn cái nét ấy.

Ở bếp, thằng Cò cời than, nói không nhìn Luân.

"Hôm nay trên chợ huyện, lão lang bán thuốc được có hơn một quan. Người ta còn chê thuốc lão phơi ẩm. Lão chẳng mặc cả câu nào. Về đến đầu làng, lão đứng lại một lúc lâu, chẳng làm gì. Tao hỏi ông mỏi chân à, ông bảo không."

Luân cúi xuống bát cơm. Ăn hết bát, nó vét sạch, không để sót một hạt nào.

---

Đêm ấy, Luân ra giếng rửa tay. Nó kỳ cọ hai bàn tay, kỳ cả kẽ ngón, kẽ móng, rồi đưa lên mũi ngửi.

Vẫn còn mùi đất.

Không phải mùi đất rừng. Là mùi của cái đất đen mịn trên cái gò tròn ở giữa thung lũng. Nó không chạm vào cái gò. Nó chắc chắn là nó không chạm vào.

Nó rửa lần nữa, rửa lâu, nước giếng buốt tới tận xương. Mùi đã nhạt đi nhiều. Nhưng vẫn còn đấy, ở một chỗ nào đó rất sâu, như không phải ở ngoài da mà ở bên trong.

Luân đứng bên thành giếng, trong đêm tối, nhìn hai bàn tay mình.

Trên bãi tha ma, dưới gốc cây gạo, có một bao rễ thường sơn nằm trong hốc tối. Dưới chân một bức tường thành đá, có những chồng sỏi ba hòn chỉ đường. Ở giữa một thung lũng không có tiếng chim, có một cái gò đất không mọc cỏ, trên gò có một cái cây không lay theo gió, trên cây có ba quả còn xanh.

Nó không kể với ai.

---

Thường sơn bên ấy hoa lam,

Gò đen không cỏ, lá chàm quả xanh.

Ba hòn sỏi xếp chân thành,

Giếng khuya rửa mãi, quẩn quanh mùi mồ.


0